1
B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
NGUYN VINH QUANG
GIáO DụC đạo đức nghề nghiệp cho học viên
các tr-ờng cao đẳng, đại học ngành quân y
trong bối cảnh kinh tế thị tr-ờng
LUN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2021
2
B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
NGUYN VINH QUANG
GIáO DụC đạo đức nghề nghiệp cho học viên
các tr-ờng cao đẳng, đại học ngành quân y
trong bối cảnh kinh tế thị tr-ờng
Chuyờn ngành: Lý luận và Lịch sử giáo dục
Mã số
: 914 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS Mai Văn Hóa
2. PGS. TS Nguyễn Văn Chung
HÀ NỘI - 2021
3
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ
ràng, khơng trùng lặp với các cơng trình khoa
học đã cơng bố.
TÁC GIẢ UẬN ÁN
Nguyễn Vinh Quang
4
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
7
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CĨ LIÊN QUAN
14
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
14
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các cơng trình khoa học đã cơng
bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
29
Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH
34
TẾ THỊ TRƢỜNG
2.1. Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y
34
trong bối cảnh kinh tế thị trường
2.2. Những vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học
viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh
46
kinh tế thị trường
2.3. Các yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học
viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh
72
kinh tế thị trường
Chƣơng 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH
79
TẾ THỊ TRƢỜNG
79
3.1. Khái quát hệ thống các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y
84
3.2. Khái quát về khảo sát thực trạng
3.3. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của học viên các trường cao
87
đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường
3.4. Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường
cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 94
3.5. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học
ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường
104
3.6. Đánh giá chung, nguyên nhân và kinh nghiệm giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành 106
5
Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường
Chƣơng 4 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH
QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
4.1. Nâng dần tính hiện đại của nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho học viên
4.2. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng
tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành lâm sàng để rèn
luyện thói quen, hành vi đạo đức nghề nghiệp cho học viên
4.3. Phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, các lực
lượng trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên
4.4. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho học viên
4.5. Xây dựng môi trường sư phạm tích cực trong giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho học viên
4.6. Gắn đánh giá kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp với đánh giá
kết quả hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học viên
Chƣơng 5 THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
5.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm
5.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm
5.3. Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm
KẾT UẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CƠNG BỐ CĨ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI UẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
113
113
117
124
127
132
137
142
142
143
147
162
165
166
175
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
1
Cán bộ quản lý
CBQL
2
Cao đẳng, đại học
CĐ, ĐH
3
Cao đẳng Quân y
CĐQY
4
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
5
Đạo đức nghề nghiệp
ĐĐNN
6
Điểm trung bình
ĐTB
7
Giáo dục - đào tạo
GD - ĐT
8
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
GDĐĐNN
9
Học viện Quân y
HVQY
10
Khoa học xã hội và nhân văn
KHXH&NV
11
Kinh tế thị trường
KTTT
12
Nghiên cứu sinh
NCS
13
Nhóm đối chứng
NĐC
14
Nhóm thực nghiệm
NTN
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15
Bảng 5.1
Bảng 5.2
Bảng 5.3
Bảng 5.4
Bảng 5.5
Bảng 5.6
Bảng 5.7
Bảng 5.8
Bảng 5.9
Bảng 5.10
Bảng 5.11
Khái quát các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người
thầy thuốc cần giáo dục cho học viên
Thống kê các trường y trong quân đội
Bảng thang đo các mức độ đánh giá
Bảng Hopkins phân tích mối quan hệ tương quan
Vai trò của ĐĐNN ngành Quân y
Nhận thức của học viên về phẩm chất ĐĐNN ngành
Quân y
Lý do đồng chí trở thành học viên quân y
Thái độ của học viên đối với nghề nghiệp ngành Quân y
Mức độ biểu hiện hành vi ĐĐNN của học viên
Vai trò của GDĐĐNN cho học viên
Thực hiện các nội dung GDĐĐNN cho học viên
Mức độ sử dụng các phương pháp GDĐĐNN cho học viên
Mức độ sử dụng các hình thức GDĐĐNN cho học viên
Phối hợp các lực lượng tham gia GDĐĐNN cho học viên
Kết quả GDĐĐNN cho học viên
Các yếu tố tác động đến GDĐĐNN cho học viên
Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test trước thực nghiệm lần 1
Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test sau thực nghiệm lần 1
Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
44
79
86
86
87
89
91
92
93
94
96
99
100
101
103
104
147
148
149
150
150
151
152
153
153
154
155
8
Bảng 5.12 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test trước thực nghiệm lần 2
Bảng 5.13 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Bảng 5.14 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Bảng 5.15 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Bảng 5.16 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test sau thực nghiệm lần 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 5.1 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Biểu đồ 5.2 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Biểu đồ 5.3 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1
Biểu đồ 5.4 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Biểu đồ 5.5 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Biểu đồ 5.6 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1
Biểu đồ 5.7 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
Biểu đồ 5.8 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
Biểu đồ 5.9 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2
Biểu đồ 5.10 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Biểu đồ 5.11 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Biểu đồ 5.12 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2
Sơ đồ 2.1
Sơ đồ 4.1
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Logic của GDĐĐNN cho học viên
Mối quan hệ giữa các biện pháp
156
156
157
158
159
148
148
149
151
151
152
154
154
155
157
157
158
59
140
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nghề y là một nghề đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính
mạng con người. Do đó, xã hội ln u cầu, địi hỏi người làm nghề y, bên
cạnh trình độ chun mơn vững vàng, cịn phải có lương tâm, đạo đức trong
sáng. Dù y lý, y thuật có thay đổi theo thời gian, nhưng y đức (ĐĐNN ngành y)
luôn bền vững. Như vậy, nghề y không đơn thuần chỉ là một nghề nghiệp, một
phương tiện kiếm sống đối với người thầy thuốc, mà nghề y cịn có một sứ
mệnh cao cả hơn, đó là trị bệnh, cứu người. Sứ mệnh ấy khơng chỉ địi hỏi
người thầy thuốc phải tích cực học hỏi để nâng cao chun mơn nghiệp vụ, mà
cịn địi hỏi họ khơng ngừng rèn luyện, tu dưỡng ĐĐNN; lấy ĐĐNN làm cơ sở
và động lực thực hành chuyên môn, lấy chuyên môn để thể hiện và đảm bảo
cho ĐĐNN.
Giáo dục ĐĐNN cho học viên đã được các trường CĐ, ĐH ngành
Quân y thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cả về nhận thức
và tổ chức thực hiện. Là những y, bác sĩ trong tương lai, lực lượng kế cận, bổ
sung trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y, học viên các trường
CĐ, ĐH ngành Quân y ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải thực
sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đó là tiền đề đối với sự trưởng
thành của mỗi học viên trong quá trình học tập, rèn luyện cũng như khi ra
trường, là một bảo đảm quan trọng để học viên góp phần vào nhiệm vụ xây
dựng ngành Quân y và quân đội theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại”. Do đó, GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ,
ĐH ngành Quân y có ý nghĩa rất quan trọng.
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to
lớn và toàn diện. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ ra thách thức mới liên quan
đến vấn đề đạo đức, lối sống đó là: “…tình trạng suy thối về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được
đẩy lùi, có mặt, có bộ phận cịn diễn biến phức tạp hơn” [25, tr.185]. Mặt khác,
tác động từ mặt trái của KTTT đối với quan niệm về giá trị và lối sống, mà
cụ thể là việc đề cao lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ
giá trị tinh thần, đề cao lợi ích cá nhân, xem nhẹ trách nhiệm xã hội… Tất cả
10
những tác nhân đó và nhiều tác nhân khác nữa đang dẫn đến sự xuống cấp về
mặt ĐĐNN ở một bộ phận không nhỏ người thầy thuốc. Những biểu hiện
của sự xuống cấp về ĐĐNN như: sự vô trách nhiệm trong khám chữa bệnh,
thái độ bất lịch sự, cửa quyền đối với bệnh nhân, đặc biệt là hiện tượng gây
sức ép địi lệ phí ngầm trong hành nghề... đã gây tốn kém, bức xúc đối với
bệnh nhân, người nhà bệnh nhân cũng như dư luận xã hội.
Tác động từ mặt trái của nền KTTT cũng như của xu thế toàn cầu hóa và
đặc biệt do khơng nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học viên
các trường CĐ, ĐH ngành Quân y đã xuất hiện những biểu hiện đáng báo
động về đạo đức, lối sống như thái độ thờ ơ với chính trị; giảm sút niềm tin
vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; đề cao chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, sống thực
dụng, buông thả, vi phạm kỷ luật, sùng bái đồng tiền; quay lưng, phủ nhận các
giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội; tiếp
nhận thiếu chọn lọc các giá trị từ bên ngồi.
Q trình GDĐĐNN cho học viên cũng cịn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu
sót làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả GDĐĐNN cho học viên. Mặc dù,
các trường đã tích cực đổi mới song nhìn chung nội dung, chương trình vẫn
cịn nghèo nàn, nhiều khi xa rời thực tế, thiếu cập nhật. Phương pháp giáo
dục còn đơn điệu, giảng giải một chiều, áp đặt, chưa coi người học là trung
tâm, do vậy chưa kích thích được tính tích cực trong hoạt động học tập của
học viên. Các hình thức hoạt động thực tiễn chưa phong phú để tạo ra môi
trường GDĐĐNN lành mạnh, giúp học viên phát huy vai trị của mình trong
quan hệ với con người, với xã hội. Việc khắc phục tình trạng này, đẩy lùi sự
xuống cấp ĐĐNN trong ngành y và đặc biệt với đội ngũ học viên địi hỏi
cơng tác lý luận phải đẩy mạnh những nghiên cứu về GDĐĐNN cho học
viên, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của GDĐĐN ở các
trường CĐ, ĐH ngành Quân y hiện nay.
Trên phương diện nghiên cứu, đã có những cơng trình khoa học nghiên
cứu về ĐĐNN, GDĐĐNN trên những góc độ, đối tượng khác nhau, nhưng
chưa có cơng trình nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về GDĐĐNN cho
học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
Xuất phát từ địi hỏi khách quan đó, việc GDĐĐNN cho học viên ngay
từ khi mới vào trường là rất cần thiết, cơ bản, lâu dài. Để góp phần vào việc
11
nghiên cứu chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu trên, NCS chọn vấn đề “Giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành
Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường” làm đề tài Luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp GDĐĐNN cho
học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, nhằm
nâng chất lượng giáo dục y đức cho học viên, góp phần hình thành và phát
triển nhân cách người y, bác sĩ quân đội tương lai.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó
rút ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
Xây dựng lý luận của GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ,
ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
Đề xuất các biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của
biện pháp được đề xuất.
3. Khách thể, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình GD-ĐT ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh
KTTT.
Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong
bối cảnh KTTT.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và
các biện pháp GDĐĐNN cho học viên đang đào tạo chính quy trình độ CĐ,
ĐH ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
12
Về thời gian nghiên cứu: Các tư liệu, số liệu thống kê sử dụng trong
thực trạng giới hạn trong 5 năm, từ năm 2015 đến 2020; các số liệu điều tra,
khảo sát thực hiện năm 2018, 2019.
Về địa bàn nghiên cứu: Tại 3 trường: Học viện Quân y, Trường Cao
đẳng Quân y 1, Trường Cao đẳng Quân y 2.
4. Giả thuyết khoa học
Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y là
một nhiệm vụ quan trọng trong GD-ĐT. Hiện nay, vấn đề GDĐĐNN cho
học viên đang còn những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nếu dựa trên cách tiếp cận chủ đạo hoạt động - nhân cách, quá trình GD-ĐT
học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y và áp dụng các biện pháp giáo
dục cốt lõi như nâng dần tính hiện đại của nội dung đến đa dạng hóa các
phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng tăng cường các hoạt động trải
nghiệm, thực hành lâm sàng, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng,
kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục, xây dựng môi trường sư phạm
tích cực... thì chất lượng GDĐĐNN cho học viên sẽ được nâng cao, đáp ứng
mục tiêu, yêu cầu đào tạo người thầy thuốc trong bối cảnh KTTT.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân ủy Trung ương về giáo dục đạo đức, nhân
cách người cán bộ sĩ quan quân đội về y đức và các quan điểm tiếp cận cụ thể
trong nghiên cứu sau:
Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Giáo dục ĐĐNN cho học viên các
trường CĐ, ĐH ngành Quân y là một quá trình gồm nhiều thành tố như:
mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, các chủ thể
giáo dục, các yếu tố bảo đảm và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, do vậy
khi xem xét, giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án cần đặt
trong hệ thống có quan hệ, chi phối nhau.
13
Tiếp cận lịch sử - logic: Giáo dục nói chung và GDĐĐNN nói riêng
ln gắn với lịch sử, văn hóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với
sự phát triển của thời đại. Giải quyết những vấn đề GDĐĐNN cho học viên
các trường CĐ, ĐH ngành Quân y phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
xem xét trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm ra quy luật và
logic của sự phát triển. Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y không tách rời với các giá trị văn hóa dân tộc, u cầu địi hỏi
của hoạt động quân sự và xu thế phát triển trong giáo dục.
Tiếp cận hoạt động - nhân cách: Nhân cách con người hình thành
thơng qua hoạt động. Thơng qua hoạt động, con người lĩnh hội được các giá
trị văn hóa xã hội và thể hiện các giá trị đó trong cuộc sống. Giáo dục
ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Qn y chỉ có hiệu quả
thơng qua hoạt động thực tiễn. Do vậy, cần lựa chọn các hoạt động hấp dẫn,
đa dạng, mang tính giáo dục cao phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu, hoạt
động học tập của học viên, tổ chức các hoạt động theo một quy trình phù hợp
mang lại hiệu quả GDĐĐNN cho học viên.
Tiếp cận liên ngành: Q trình nghiên cứu đề tài có sử dụng quan điểm, tri
thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau để giải quyết
vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất. Đặc biệt, trong đề tài
luận án có sử dụng đến kiến thức của Đạo đức học Y học và Kinh tế học để làm
rõ cho các vấn đề về ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT.
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hố,
khái qt hố các tài liệu lý thuyết chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện,
nghị quyết, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội;
các tài liệu khoa học là sách chuyên khảo, tham khảo, luận án, bài báo, bài
hội thảo khoa học; các báo cáo tổng kết chuyên môn và GD-ĐT có liên quan
để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận án.
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
14
Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát các hoạt động học viên
trong học tập, tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, với đồng nghiệp
và với xã hội.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Lập phiếu hỏi và tổ chức điều
tra các hoạt động của giảng viên, CBQL và học viên ở các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y, nhằm thu thông tin về thực trạng GDĐĐNN cho học viên.
Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với một số thầy thuốc, bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân về nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN của học viên làm
cơ sở cho việc đánh giá kết quả của những biện pháp GDĐĐNN.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Nghiên cứu những hoạt
động thực tiễn giáo dục ở nhà trường của các lớp, khóa, các bệnh viện, nhà
trường để rút ra những kinh nghiệm giáo dục trong những năm gần đây.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích các
sản phẩm hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, các báo cáo tổng kết, kế
hoạch tự học, kết quả học tập của học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành
Quân y.
Phương pháp thực nghiệm có đối chứng: Sử dụng các tác động sư
phạm có đối chứng trong thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả
của một số biện pháp đã đề xuất.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các
nhà sư phạm, nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến đề tài.
Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng các công thức tốn thống kê và phần mềm máy tính để xử lý
các số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khảo sát thực tiễn và trình
bày kết quả nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu, luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận, thực tiễn của ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, như:
Xây dựng và làm rõ một số khái niệm, cấu trúc, hệ thống chuẩn mực
ĐĐNN ngành Quân y.
Khái quát nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐNN đồng thời chỉ
15
ra các yếu tố tác động tới GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành
Quân y trong bối cảnh KTTT.
Qua phân tích làm rõ các vấn đề về thực trạng, nguyên nhân của
ĐĐNN và GDĐĐNN từ đó xây dựng hệ thống các biện pháp giáo dục đồng
bộ, giúp các chủ thể giáo dục vận dụng trong thực tiễn.
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của biện
pháp được đề xuất.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Luận án đã hệ thống hóa, góp phần phát triển lý luận của GDĐĐNN
nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học viên đặt ra. Qua
đó, nâng cao chất lượng GD-ĐT ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong
bối cảnh KTTT.
Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng
dạy, GDĐĐNN tại các nhà trường thuộc ngành y; những kết quả nghiên cứu
của Luận án cũng có ý nghĩa khuyến nghị để các cấp lãnh đạo, quản lý, các
nhà giáo dục tham khảo trong quá trình tiến hành giáo dục học viên các
trường CĐ, ĐH ngành Quân y.
8. Kết cấu luận án
Nội dung luận án được kết cấu gồm: Mở đầu; 5 chương (20 tiết); kết
luận và kiến nghị; danh mục các cơng trình khoa học của tác giả đã cơng bố
có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
16
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CĨ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1. Những c ng trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo
dục đạo đức nghề nghiệp ngành y
1.1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp ngành y
Với tính nhân đạo sâu sắc, nghề y mạng đậm dấu ấn của đạo đức. Trong
suốt chiều dài lịch sử, nghề y luôn là sự hội tụ hài hòa của những giá trị y lý, y
thuật và y đạo, trong đó y đạo người thầy thuốc được coi là cốt lõi. Ở phương
Đông, ĐĐNN ngành y có nguồn gốc từ quan niệm cái đức của người thầy
thuốc phải rộng như biển cả. Nếu có cầu xin là cầu xin tất cả những gì có thể
cứu được bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ. Cùng với phương Đơng, ở phương
Tây thời kỳ cổ đại cũng có nền y học tương đối phát triển. Khơng ít danh y
đã để lại cho đời sau những bài học vô cùng bổ ích cả về y thuật lẫn ĐĐNN.
Thomas Sydenhan (1624 - 1689), vị bác sĩ tài năng người Anh, cha đẻ của
ngành y học lâm sàng và dịch tễ học, sách Phương pháp điều trị tốt, ông cho
rằng: “Thầy thuốc là cơng bộc của lịng từ thiện thiêng liêng” [35, tr.34]. Theo
ông, người thầy thuốc phải phục vụ tận tâm và tạo điều kiện cho người bệnh
lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh.
Đầu thế kỷ XIX những vấn đề về ĐĐNN ngành y đã được nghiên cứu
trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa Trường Đại học
Tổng hợp Moscow. Nhà nội khoa lâm sàng lớn nhất ở nửa đầu thế kỷ XIX,
M. Lamucdrop giảng dạy rằng: “Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng,
đối với bệnh nhân phải thương yêu” [35, tr.52], ông đã nhiều lần nói rằng:
“Trong nghệ thuật Y học khơng thể có những thầy thuốc làm xong cơng tác
khoa học” [35, tr.87].
Tatsuo Kuroyanagi (2014), “Nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi lịch sử
của y đức - những thách thức của hội Y học thế giới” [56], tác giả đã chỉ ra
sự biến đổi lịch sử của ĐĐNN ngành y từ thời kỳ đầu của Hội Y học Thế
giới. Từ tuyên ngôn Geneva cho đến công ước quốc tế về ĐĐNN ngành y đã
17
chỉ ra nghĩa vụ chung của người thầy thuốc trong các mối quan hệ với bệnh
nhân và đồng nghiệp. Bài báo làm rõ việc chấp nhận các quan điểm ĐĐNN
ngành y lẫn nhau của các khu vực, nhất là ở các khu vực có nền văn hóa và
cách suy nghĩ khác so với các nước phát triển phương Tây. Chính vì thế, bài
báo đi vào phân tích các quan điểm khác nhau đó và rút ra kết luận rằng dù
thế nào thì sức khỏe của người bệnh vẫn là mối quan tâm hàng đầu.
Cùng với sự phát triển của ĐĐNN ngành y trên thế giới, đối với Việt
Nam, giá trị nhân văn Việt Nam ln là cơ sở hình thành, ni dưỡng và
phát triển ĐĐNN ngành y. Với lịng nhân ái cao cả “Thương người như thể
thương thân” nhân dân ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy
thuốc hết lịng vì người bệnh mà các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá
Tĩnh, thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) đều hết
sức chú trọng xây dựng và truyền đạt ĐĐNN ngành y tới người thầy thuốc.
Vào thế kỷ XIX, nhà thơ, đồng thời là người thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu
(1812 - 1888) cũng là người rất đề cao ĐĐNN của người thầy thuốc. Bàn về lương
tâm, bổn phận của người thầy thuốc, tác phẩm Ngư Tiều vấn đáp y thuật [10], ông
đã đã khái quát một cách cô đọng về ĐĐNN của người thầy thuốc như sau:
“Xưa rằng: thầy thuốc học thông
Thề theo trời đất một lòng hiếu sinh
Giúp đời chẳng vụ tiếng danh
Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghẻ tài,”…
… “Thấy người đau, giống mình đau
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành
Ăn mày cũng đứa trời sinh
Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không” [10, tr.74 - 75].
Kế thừa truyền thống ĐĐNN ngành y của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa
ĐĐNN ngành y nhân loại, trên cương vị là lãnh tụ của dân tộc và một nhà
văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện ĐĐNN
của người làm nghề y.
Hồ Chí Minh là một trong số ít những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều
nhất về ĐĐNN ngành y thông qua nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thăm
18
các cơ sở y tế để bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ về phẩm chất
người thầy thuốc. Hầu như mỗi lần có dịp tiếp xúc với ngành y điều đầu
tiên Hồ Chí Minh nhắc tới vẫn là “thầy thuốc như mẹ hiền”. Đây chính là
yêu cầu Hồ Chí Minh đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm
hành động và phục vụ của cán bộ và nhân viên ngành y đối với người
bệnh. Hồ Chí Minh căn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng
chăm sóc cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Thư gửi Hội nghị
quân y (3/1948), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 [68], Người viết: “Người
làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng
đỡ tinh thần của người ốm yếu”. “Người ta có câu “Lương y kiêm từ mẫu”
nghĩa là một người thầy thuốc phải là một người mẹ hiền” [68, tr.487].
Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh
Tồn tập, tập 8 [69], Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ y tế cần phải
“Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt”. “Cần phải tận tâm, tận lực
phục vụ nhân dân”. “Lương y phải kiêm từ mẫu” [69, tr.154].
Tác giả Ngô Gia Hy (1995), sách Nguồn gốc của y đức: Sự đóng góp
của nền y học vào văn hóa Việt Nam [53], tác giả đã làm rõ y đức trong điều
kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với những nảy sinh mới ở Việt Nam,
đồng thời đã luận chứng cho sự cần thiết phải nâng cao ĐĐNN ngành y trong
điều kiện hiện nay. Dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử và quan niệm về ĐĐNN
ngành y của các trường phái y học khác nhau, hay của nhiều quốc gia, tác giả
cho rằng: từ cổ chí kim, dù ở nền văn minh nào, qua các lời thề và di huấn,
ĐĐNN ngành y cũng có những tính chất chung, nên các thầy thuốc ở bất cứ
đâu đều có mối quan hệ về bổn phận, lương tâm và trách nhiệm như nhau.
Lê Hữu Trác (1997), sách Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập 2 [94], luôn
tự nhắc nhở người thầy thuốc cần “tiến đức, tu nghiệp”. Tiến đức là mỗi ngày
phải rèn luyện cho toàn diện, toàn mĩ về ĐĐNN ngành y. Tu nghiệp là hàng
ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng tinh thông. Đối với ông,
đạo làm thuốc khơng chỉ bó hẹp trong phạm vi chun mơn nghề nghiệp mà
còn bao hàm cả ĐĐNN; nghĩa là y thuật phải gắn liền với ĐĐNN, thấm nhuần
lòng thương người, thương dân. Ông viết:
19
Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng, thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng
cho con người, sống chết một tay mình nắm, họa phúc một tay mình
giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức khơng đầy đủ, đức hạnh không
trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà
dám liều lĩnh đòi làm cái nghề cao q đó chăng [94, tr.309].
Lê Hữu Trác ln nhận thức rằng người thầy thuốc phải biết giữ
phẩm chất của mình, bản thân không được vụ lợi. Trong Y huấn cách
ngôn, ông viết: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh
mạng con người. Phải lo cái lo của người, vui cái vui của người. Chỉ lấy
việc cứu mạng sống cho con người làm nhiệm vụ của mình, khơng nên
cầu lợi, kể cơng” [94, tr.134]. Chính vì vậy mà ông luôn tự đặt cho mình
các mục tiêu phấn đấu để trở thành người thầy thuốc giỏi.
Các tác giả Quý Long, Kim Thư (2013), sách Những bậc thầy nổi danh
về y đức [60], đã đánh giá chính xác vai trị, địa vị của người thầy thuốc từ góc
nhìn văn hóa. Các tác giả đã đưa ra và làm rõ quan niệm về ngành y, về
ĐĐNN của người thầy thuốc. Đặc biệt, các tác giả dưới góc nhìn từ truyền
thống - suy ngẫm về y đức hiện nay. Trên cơ sở khái quát tư tưởng các thầy
thuốc nổi danh về ĐĐNN ngành y cổ kim, đông tây, các tác giả đã cho thấy,
sự tương đồng, sự thống nhất trong cách nhìn nhận của họ về thiên chức và
trách nhiệm, bổn phận ĐĐNN ngành y, về sự cần thiết phải bồi dưỡng, nâng
cao ĐĐNN cho những người làm nghề trị bệnh cứu người. Vì vậy, các tác giả
khẳng định: “Y thuật phải được gắn liền với y đạo vì người thầy thuốc có trình
độ chun mơn giỏi chưa đủ mà cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp”
[60, tr.13].
Tác giả Lê Thị Lý (2016), Đạo đức người thầy thuốc xưa và nay [63]. Nội
dung cuốn sách đã chỉ rõ, so với các nghề nghiệp khác, nghề y có một số đặc
trưng cơ bản, những đặc trưng này phản ánh khá rõ nét những yêu cầu về đạo
đức của người thầy thuốc. Thầy thuốc phải làm dịu đi những lo lắng về bệnh
tật, lạc quan và hy vọng vào cuộc sống, tin tưởng vào y học. Tác giả nhấn
mạnh: “Thầy thuốc phải tránh được những thói quen khơng tốt về tâm lý như
sự dạn dày với đau khổ, bệnh tật, chết chóc, thái độ bình thản, lãnh đạm với
20
nỗi đau của người bệnh và thân nhân của họ, khơng lạm dụng địa vị và sự tơn
kính của bệnh nhân làm những việc trái với đạo đức thông thường, tổn hại đến
danh dự của người bệnh” [63, tr.112]. Với ý nghĩa đó, cuốn sách là tài liệu quý
đối với đội ngũ y, bác sĩ, những người công tác trong ngành y… và tất cả những
ai quan tâm đến sự phát triển của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), sách Tư
tưởng nhân văn và triết lý y đức [73], đã chỉ ra rằng ĐĐNN ngành y chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn, của triết lý đạo đức mà mỗi quốc gia,
dân tộc đã hình thành nên trong quá trình lịch sử của mình. Các tác giả cho
rằng: “Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn bó
mật thiết với cuộc sống con người, với quá trình lao động sản xuất, cải tạo xã
hội và phát triển khoa học” [73, tr.7], dù ở thời đại nào, chịu ảnh hưởng của
triết lý nào đi chăng nữa thì nguyên lý bất hủ của các thầy thuốc vẫn phải là
chữa bệnh cứu người, ln đặt tính mạng, sức khỏe của bệnh nhân lên trên hết,
trước hết.
Tác giả Chu Tuấn Anh (2017), luận án tiến sĩ Triết học Vận dụng mối
quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành
y tế ở Việt Nam hiện nay [1], đã tập trung luận giải mối quan hệ giữa kinh tế
và đạo đức trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đáng
chú ý là tác giả đã làm rõ sự tác động sâu sắc của KTTT định hướng xã hội
chủ nghĩa tới đạo đức ngành y. Qua đó, tác giả cho rằng: “Y đức giúp người
cán bộ y tế đề kháng, đấu tranh với những cám dỗ, tiêu cực của cơ chế thị
trường tác động vào” [1, tr.60]. Từ việc luận giải mối quan hệ giữa kinh tế và
đạo đức, tác giả đã vận dụng vào nâng cao ĐĐNN cho cán bộ y tế ở Việt
Nam hiện nay và tiến hành nghiên cứu thực trạng, xác định những vấn đề đặt
ra.
Tác giả Phạm Công Nhất (1999), “Mâu thuẫn giữa mặt trái của cơ chế
thị trường với bản chất nhân đạo của ngành y tế Việt Nam hiện nay” [75],
bài báo khoa học đã đề cập đến vấn đề ĐĐNN ngành y trong nền KTTT, chỉ
rõ quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân khơng cịn đơn thuần là các y, bác sĩ với
thương, bệnh binh như trước đây mà là quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ
21
khám, chữa bệnh với người bỏ tiền mua dịch vụ. Người thầy thuốc nhận tiền
công khám chữa bệnh từ bệnh nhân thực ra không phải là mất ĐĐNN ngành
y. Vấn đề là ở chỗ đánh giá công lao động bỏ ra như thế nào cho phải đạo để
giữ ĐĐNN ngành y và tính giá trị lao động bỏ ra cịn cần phải tính đến đối
tượng mình phục vụ giàu hay nghèo, đó mới là đạo đức.
Tác giả Nguyễn Hiền Lương (2013), “Giáo dục và rèn luyện đạo đức người
cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [61], bài báo khoa học đã hệ thống khái
quát quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐĐNN ngành y như nhiệm vụ,
trách nhiệm của người thầy thuốc, họ không chỉ thực hiện vai trị về chun mơn,
về y thuật, mà còn phải là người bạn, giúp đỡ, động viên tinh thần người bệnh.
Từ đó, Người đã dành sự quan tâm đặc biệt trong giáo dục, rèn luyện và tu
dưỡng đạo đức cho người thầy thuốc để có thể xây dựng những chuẩn mực
ĐĐNN trong sáng, văn minh, tiến tới xây dựng một nền y tế hiện đại, theo kịp
thế giới.
1.1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y
Từ xa xưa đã có nhiều người bàn đến vấn đề GDĐĐNN ngành y ở
những mức độ khác nhau. Qua các giai đoạn lịch sử, GDĐĐNN được đề cập
tới bằng các điều luật áp dụng cho ngành y qua lời thề, qua các tuyên ngôn
của tổ chức y tế thế giới.
Ở Việt Nam, quan niệm về bổn phận người thầy thuốc của Lê Hữu Trác
được thể hiện ra trong toàn bộ các quan hệ nghề nghiệp tạo thành y đạo: từ
năng lực chuyên môn đến quan niệm về mục đích nghề nghiệp, thái độ đối với
người bệnh, với đồng nghiệp, và đặc biệt là bổn phận của người thầy thuốc đối
với người bệnh nghèo, những người thiếu may mắn trong xã hội.
Kế thừa truyền thống đạo đức y học của dân tộc và những giá trị đạo đức
của nền y học thế giới, Hồ Chí Minh khơng chỉ coi Lương y như từ mẫu, mà còn
vạch phương hướng để đào tạo ra đội ngũ thầy thuốc Việt Nam. Thư gửi Hội
nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh Tồn tập, tập 8 [69], Hồ Chí
Minh chỉ rõ, những vấn đề mà người cán bộ y tế phải cố gắng thực hiện. Đó là:
Về chun mơn: cần luôn luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn
tiến bộ, nhưng, phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với
22
hồn cảnh kháng chiến của ta hiện nay. Về chính trị: cần trau dồi tư
tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước,
yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác [69,
tr.154].
Sách Quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu [96], Lê Ngọc Trọng (1999),
đã đánh giá cao công tác GDĐĐNN ngành y ở cấp vĩ mô, tác giả nhìn nhận những
thành tựu trong GDĐĐNN qua việc huy động đội ngũ thầy thuốc tham gia vào các
phong trào, các hoạt động vì sức khỏe cộng đồng; chẳng hạn như hiến máu nhân
đạo, gây quỹ từ thiện, cấp phát thuốc miễn phí cho bệnh nhân nghèo, các gia đình
chính sách, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng… Theo tác giả, việc tham gia
những hoạt động đó đã tạo ra mơi trường thuận lợi để phát triển tình cảm đạo đức
và nâng cao trách nhiệm y đức cho người thầy thuốc đối với cộng đồng.
Tác giả Nguyễn Thanh Tịnh (2017), sách Nâng cao y đức bác sĩ quân y
ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [93], đã chỉ ra rằng nâng cao y đức
người bác sĩ qn y có vai trị quan trọng trong việc phát triển nhận thức, điều
chỉnh hành vi, củng cố lý tưởng nghề nghiệp, tăng cường tình cảm, trách
nhiệm, lương tâm của người bác sĩ. Tác giả đã chỉ ra ba mâu thuẫn cơ bản đặt
ra từ thực trạng của việc nâng cao y đức người bác sĩ quân y trong quân đội
hiện nay. Từ đó tác giả đưa ra ba nhóm giải pháp cơ bản để nâng cao ĐĐNN
người bác sĩ quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, đó là: nâng
cao chất lượng hoạt động giáo dục và tự giáo dục y đức của người bác sĩ quân
y; xây dựng môi trường y đức trong sạch, lành mạnh và đấu tranh chống mọi
biểu hiện tiêu cực về y đức ở các đơn vị; làm tốt công tác cán bộ và đảm bảo
điều kiện vật chất cần thiết cho việc nâng cao y đức người thầy thuốc quân y.
Tác giả Lê Thu Hà và cộng sự (2020), Nghiên cứu giải pháp nâng cao
phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quân y trong chăm sóc sức khỏe bộ
đội và nhân dân thời kỳ mới [39], đề tài cấp nhà nước đã làm rõ phẩm chất
và năng lực của người thầy thuốc quân y là tổng hợp các yếu tố chính trị - tư
tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ tổ chức chỉ huy quân y và trình độ chun
mơn kỹ thuật đáp ứng u cầu nhiệm vụ. Trên cơ sở nghiên cứu cả về mặt lý
luận và thực tiễn, đề tài đã xây dựng 02 bộ tiêu chí về phẩm chất, năng lực
23
của cán bộ quân y. Bộ tiêu chí về phẩm chất bao hàm cả phẩm chất chung
của cán bộ y tế và phẩm chất riêng của cán bộ quân đội. Trong đó những
phẩm chất về mặt ĐĐNN được ban đề tài đặc biệt quan tâm và chú trọng. Từ
đó đề tài chỉ ra các yêu cầu nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộ quân y
đó là phải tiếp tục củng cố bản lĩnh chính trị, giữ gìn và phát huy ĐĐNN,
thúc đẩy tinh thần chủ động học tập, nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức, công
nghệ y học hiện đại, và phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong
quân đội.
Tác giả Nguyễn Hồng Giang và cộng sự (2009), Nâng cao chất lượng
công tác Đảng, công tác Chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh
viện quân đội trong tình hình mới [36], đề tài cấp Bộ Quốc phòng đã làm
phong phú thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác đảng và cơng tác
chính trị ở các bệnh viện qn đội góp phần bồi dưỡng nhận thức, nâng cao
bản lĩnh chính trị, làm chuyển biến ĐĐNN của đội ngũ cán bộ, nhân viên y
tế ở các bệnh viện quân đội. Tác giả cho rằng, để xây dựng các bệnh viện
quân đội vững mạnh toàn diện, xây dựng ĐĐNN cho cán bộ nhân viên
quân y đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và điều trị trong tình hình mới,
phải giải quyết đồng bộ nhiều nội dung. Một trong những nội dung rất quan
trọng là nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị. Đây là yêu
cầu khách quan, thường xuyên, đồng thời là yêu cầu có ý nghĩa cấp thiết
hiện nay.
Để nâng cao chất lượng cơng tác đảng, cơng tác chính trị góp
phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội cần nắm vững
và thống nhất quan niệm về cơng tác đảng, cơng tác chính trị;
đặc điểm cơng tác đảng, cơng tác chính trị; những thuận lợi
trong tiến hành cơng tác đảng, cơng tác chính trị; quan niệm y
đức và tiêu chuẩn đánh giá y đức của cán bộ nhân viên quân y
ở các bệnh viện quân đội là cơ sở đánh giá đúng thực trạng y
đức và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác
đảng, cơng tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh
viện quân đội trong thời kỳ mới [36, tr.54-55].
24
Tác giả Lê Thị Lý (2011), luận án tiến sĩ Triết học Nâng cao đạo đức
người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta [62], đã xác định nội dung
những chuẩn mực căn bản của đạo đức người thầy thuốc. Từ đó tác giả đánh
giá thực trạng, tìm nguyên nhân những biểu hiện tích cực và tiêu cực của
người thầy thuốc, đây là nội dung được tác giả tập trung làm rõ, chi tiết và cụ
thể, và từ đó đề xuất giải pháp căn bản nhằm nâng cao đạo đức người thầy
thuốc ở nước ta hiện nay. Qua đó, tác giả đưa ra nhận định:
“Khi các giải pháp nâng cao ĐĐNN cho người thầy thuốc được quan
tâm đúng mức của các ban, ngành, đoàn thể, sự tự nguyện và tự giác
hành động theo các chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc, chắc
chắn trong thời gian tới, những tiêu cực, suy thoái về y đức sẽ được
giải quyết, chất lượng và hiệu quả trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe nhân dân sẽ không ngừng được nâng cao” [62, tr.162].
Tác giả Lâm Văn Đồng (2015), luận án tiến sĩ Triết học Giáo dục đạo
đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam trong trong giai đoạn hiện nay [31], đã
chỉ ra việc GDĐĐNN chính là nhằm góp phần hình thành và củng cố nền
tảng nhân cách người thầy thuốc; góp phần đẩy lùi tình trạng xuống cấp đạo
đức ở người thầy thuốc; đảm bảo cho người thầy thuốc thực hiện được
nhiệm vụ trong hoạt động nghề nghiệp. Theo tác giả: “Để nâng cao hiệu quả
của GDĐĐNN cho người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay, cần quán triệt
tư tưởng Hồ Chí Minh về GDĐĐNN ngành y, gắn việc GDĐĐNN với sự
phát triển ngành y tế trong giai đoạn hiện nay” [31, tr.147].
Tác giả Vũ Hoài Nam (2015), luận án tiến sĩ Giáo dục học Phát triển y
đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay [71], từ những đặc điểm của
ngành y và đặc trưng của hoạt động khám chữa bệnh của thầy thuốc quân
đội, tác giả chỉ ra những nhân tố tác động đến sự phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội; phân tích, đánh giá tình hình phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội hiện nay, với cả hai mặt ưu điểm và hạn chế trong sự
phát triển. Tác giả bước đầu nhận dạng và chỉ ra nguyên nhân của những hạn
chế trong phát triển y đức, tổng kết một số kinh nghiệm và dự báo xu hướng
phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay. Để góp phần phát
25
triển y đức của người thầy thuốc quân đội, tác giả đề xuất các biện pháp cơ
bản, chủ yếu, đồng bộ để phát triển y đức trên cả ba mặt ý thức y đức, thái độ
y đức và hành vi y đức của người thầy thuốc quân đội.
Tác giả Phạm Mạnh Hùng (2014), bài báo khoa học “Nhân kỷ niệm ngày
thầy thuốc Việt Nam 27 tháng 2 năm 2014: Đổi mới nhận thức và giáo dục đạo
đức nghề nghiệp y tế (y đức) cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” [51]. Tác giả đã đặt ra những câu hỏi như: Tại sao lại phải đề cao
ĐĐNN trong thực hành y học? Hiện nay nên quan niệm về nội dung ĐĐNN và y
nghiệp như thế nào? Qua việc luận giải những vấn đề trên tác giả đã chỉ ra những
lý do phải đề cao ĐĐNN ngành y cũng như đưa ra kết luận rằng, trong nghề y
thời nào ĐĐNN cũng cần được đề cao, nhưng ngày nay khi xây dựng cơ chế
KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc đề cao đó lại càng cần thiết.
Tác giả Nguyễn Đức Diện (2016), trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư
phạm Hà Nội có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức và ý nghĩa đối
với việc giáo dục y đức cho cán bộ y tế trong tình hình hiện nay” [14], bài
báo đã tập trung làm rõ cơ sở hình thành, vị trí, vai trò của y đức đối với định
hướng chiến lược cho ngành y và quan điểm chỉ đạo vấn đề y đức trong tư
tưởng Hồ Chí Minh; từ đó phân tích ý nghĩa của vấn đề, đề xuất giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu quả GDĐĐNN ngành y cho cán bộ y tế trong bối
cảnh KTTT, tồn cầu hóa hiện nay.
Tác giả Vũ Hoài Nam (2018), “Tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện y
đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay” [72], bài báo khoa học nhấn
mạnh việc rèn luyện ĐĐNN của người thầy thuốc quân đội diễn ra trong quá
trình tự rèn luyện, tu dưỡng cá nhân, thơng qua tác động tích cực của tập thể,
của môi trường hoạt động quân y và kỷ luật quân đội. Tu dưỡng ĐĐNN ngành
y diễn ra trong quá trình đấu tranh thường xuyên giữa cái mới và cái cũ, cái tốt
và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu... trong từng tập thể đơn vị quân y và
trong mỗi người thầy thuốc quân đội. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số
biện pháp tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội gồm: “Phát huy vai trò của người thầy thuốc quân đội
trong tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức; thường xuyên giáo dục,