Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (374.19 KB, 12 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THƠNG VẬN TẢI TP. HỒ CHÍMINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN
Cơ sở triết học và vai trị của ngun tắc tơn trọng tính khách quan
và phát huy tính năng động chủ quan đối với cuộc sống và học tập của
sinh viên hiện nay

Trần Đình Dũng - 19H1080065 – 010400510507
Giảng viên hướng dẫn: Ths: Lê Thị Cẩm Tú

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020


MỤC LỤC
ĐỀ MỤC

Trang

1. Mở đầu ................................................................................................. 1
2. Nội dung ............................................................................................... 1
2.1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng
động chủ quan.................................................................................................. 1
2.1.1. Khái niệm vật chất, ý thức ........................................................... 1
2.1.2. Vai trò của vật chất đối với ý thức, vai trò của ý thức đối với
vật chất ............................................................................................................. 2
2.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận........................................................... 3
a) Ngun tắc tơn trọng tính khách quan ............................................. 3
b) Nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan ............................... 4
2.2. Sự vận dụng ngun tắc tơn trọng tính khách quan và phát huy
tính năng động chủ quan đối với cuộc sống và học tập của sv hiện nay .... 4


2.2.1. Trong cuộc sống ............................................................................ 4
2.2.2. Trong học tập................................................................................. 5
3. Kết luận ................................................................................................ 9
4. Tài liệu tham khảo .............................................................................. 9


1. Mở đầu
Thế giới của chúng ta vô cùng rộng lớn và xung quanh nó có vơ vàn sự
vật, hiện tượng phong phú đa dạng. Nhưng dù có phong phú và đa dạng đến
mấy thì nó cũng quy về hai lĩnh vực vật chất và ý thức. Có nhiều quan điểm
đã nói về vấn đề vật chất và ý thức, nhưng đúng nhất là quan điểm của triết
học Mác - Lênin. Triết học cho rằng, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có
sau và vật chất quyết định ý thức. Triết đã định hướng, dẫn dắt và đưa ra hàng
ngàn lý luận giúp con người xây dựng thế giới khoa học nhân văn, chân chính.
Nó vạch ra cho chúng ta những hệ thống, những cách thức, những nguyên tắc
để dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người. Qua quá trình nghiên
cứu và học tập, tìm hiểu về vai trị của mơn học đối với việc nhận thức thế giớ
bằng hoạt động của bản thân. Và một phần muốn hiểu thêm về tác động của
tính chủ quan và khách quan đối với bản thân và xã hội, nên em đã quyết định
chọn đề tài:" Cơ sở triết học và vai trị của ngun tắc tơn trọng tính khách
quan và phát huy tính năng động chủ quan đối với cuộc sống và học tập của
sinh viên hiện nay".
2. Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng
động chủ quan.
2.1.1 Khái niệm vật chất, ý thức.
a) Khái niệm vật chất:
Với phương pháp nêu trên, trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán", V.I. Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như
sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được

đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
b) khái niệm ý thức:

1


Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con
người một cách năng động sáng tạo. Ý thức tùy thuộc vào năng lực phản ánh
của chủ thể, tâm trạng của chủ thể phản ánh và mục đích phản ánh.
2.1.2 Vai trị của vật chất đối với ý thức, vai trò của ý thức đối với
vật chất.
a) Vai trò của vật chất đối với ý thức.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có
sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì :


Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc

người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con
người với thế giới vật chất thì con người là kết quả của quá trình phát triển lâu
dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất.


Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc

người. Ý thức phản ánh thế giới hiện thực khách quan, các quy luật khách
quan, hoạt động thực tiễn chính là cơ sở cho sự hình thành các quan điểm,
quan niệm, ý chí, tình cảm xã hội.



Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế

giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất.


Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức

bị các quy luật sinh học, quy luật xã hội và sự tác động của môi trường quyết
định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết
định nội dung mà cịn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến
đổi của ý thức.
b) Vai trị của ý thức đối với vật chất.


Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn

của con người .


Ý thức có tính năng động sáng tạo nên thông qua hoạt động thực

tiễn của con người cí thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định các
2


điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan.


Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nó sẽ góp phần


thúc đẩy hiện thực khách quan phát triển. Ngược lại khi ý thức không phản
ánh đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ trở thành lực cản đối với sự phát
triển của hiện thực khách quan.
2.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng
động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức,
chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên nguyên tắc phương pháp luận cơ
bản, chung nhất đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Nguyên tắc đó là: Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ
thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động
chủ quan và hoạt động tuân theo quy luật khách quan. Phải thấy được vai trị
tích cực của nhân tố ý thức tinh thần trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các
điều kiện vật chất hiện có. Cần tránh việc tuyệt đối hóa vai trị duy nhất của
vật chất trong quan hệ của vật chất trong ý thức. Đồng thời cần chống lại căn
bệnh chủ quan duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trị của ý thức, tinh thần. Theo
nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của
con người chỉ có thể đúng đắn, thành cơng và có hiệu quả tối ưu khi và chỉ
khi thực hiện đồng thời việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách
quan với phát huy tính năng động chủ quan.
a)

Ngun tắc tơn trọng tính khách quan:

Xuất phát từ thực tế khách quan, tơn trọng khách quan là xuất phát từ
tính khách quan của vật chất, có thái độ tơn trọng đối với hiện thực khách
quan, mà căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật;
tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần
của con người, của xã hội. Điều đó địi hỏi trong nhận thức và hành động, con
người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường

3


lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan
làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những
nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động.
b)

Nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan

Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trị tích cực, năng động,
sáng tạo của ý thức và phát huy vai trị nhân tố con người trong việc vật chất
hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này địi hỏi con người phải tơn
trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa
học và truyền bá vào quần chúng đề nó trở thành tri thức, niềm tin của quần
chúng, hướng dẫn quần chúng hành động. Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn
luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực
cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn
trong định hướng hành động.
2.2. Sự vận dụng nguyên tắc tơn trọng tính khách quan và phát huy
tính năng động chủ quan đối với cuộc sống và học tập của sinh viên hiện
nay.
Trước tiên, trong nhận thức sinh viên phải phản ánh trung thực nội dung
bản chất của sự vật, hiện tượng. Không được lấy ý kiến chủ quan, định kiến của
mình áp đặt cho sự vật, hiện tượng. Khi nhìn nhận một sự việc, hiện tượng hay
đánh giá một vấn đề cần xét đến mọi trường hợp có thể xảy ra. Khơng được
nhìn nhận một chiều mà đã đưa ra những phán xét để rồi nó bị lệch lạc và sai
trái. Khi đánh giá sự vật - hiện tượng cần xét kĩ càng, trên mọi phương diện và
tổng thể từ trước đến nên, tránh việc đưa ra kết luận quá vội vàng.
2.2.1. Trong cuộc sống



Khi đưa ra kế hoạch sinh hoạt tốt nhất cho thời gian tới, sinh viên

phải xét đến điều kiện thực tế như: Thời gian, sức khỏe, tài chính...để đưa ra
một kế hoạch phù hợp, có khá năng thực hiện. Chẳng hạn để có thể ăn trong
vòng một tháng với số tiền cha mẹ cung cấp thì sinh viên phải lập thời gian
4


biểu thu chi hợp lí như đổ xăng tiền gạo tiền đồ ăn, tiền nước uống phải căn
đủ phù hợp với khoản tiền cha mẹ cung cấp cho mỗi tháng, sinh hoạt ra sao.
Mà không thể bê nguyên thời gian biểu của bạn mình và chế độ ăn uống thu
chi làm sao vào làm của mình mà khơng xem xét những thứ mà sinh viên có
được. Như vậy yếu tố chủ quan ở đây là nguồn hỗ trợ từ phía bố mẹ cho một
khoản nhất định không thay đổi được, cịn tính năng động chủ quan thể hiện ở
cách lập kế hoạch ăn uống thu chi hợp lí .


Tính chủ quan được thể hiện khi bạn tham gia điều khiển vào

phương tiện giao thông vận tải bạn nghĩ rằng tốc độ chạy của mình là bình
thường khơng có vấn đề gì nhưng so với quy định chung thì tốc độ đó vượt
qua tốc độ cho phép khi gặp sự cố bạn sẽ khơng xử lí kịp và gây hậu quả
nghiêm trọng đến thế nào. Yếu tố khách quan những quy định khi tham gia
giao thông yêu cầu mọi người phải chấp hành, sai sẽ bị phạt. Yếu tố năng
động chủ quan là chạy quá tốc độ cho phép coi thường tính mạng mình và
mọi người xung quanh chỉ dựa theo linh cảm của mình.



Việc leo một đỉnh núi cao hiểm trở và khuyên bạn không nên thử

sức. Nhưng bạn lại quá tự tin vào sức khỏe của mình, bạn nghĩ mình có thể
chinh phục được đỉnh núi ấy, bạn tin vào khả năng của mình. Nhưng đó là suy
nghĩ của bản thân bạn cho là đúng mà không quan tâm đến những góp ý của
những người khác. Yếu tố khách quan thể hiện ở chỗ ngọn núi cao hiểm trở
con người chúng ta không thể thay đổi độ cao hay sự nguy hiểm của nó được.
Yếu tố năng động chủ quan là khơng biết sức mình có đủ để chinh phục đỉnh
núi đó khơng mà vẫn tự tin vào khả năng của mình, trong trường hợp này
chinh phục là tính năng động cịn khơng nghe người khác góp ý kiến đúng
đắn là quá tự tin của bản thân. Như vậy là đã vận dụng sai tính năng động chủ
quan dẫn đến không được kết quả như mong đợi mà thay vào đó phải gánh
hậu quả do mình tạo ra.
2.2.2 Trong học tập:
5




Trong việc đi học em luôn phải tôn trọng một thực tế khách quan là

phải thực hiện đúng nội quy của nhà trường. Nhà trường cũng có những quy
định để xử lý sinh viên khi đến muộn, thực tế em sẽ không thể tránh khỏi việc
bị phạt khi đi học muộn khi bị kẹt xe. Quãng đường di chuyển từ nhà em tới
trường là 3km cần ít nhất 15 phút do đó trong viêc nhận thức của bản thân em
ý thức được luôn phải tuân thủ thực tế khách quan quãng đường di chuyển để
đưa ra quyết định thời gian xuất phát từ nhà tới trường. Ta có thể thấy yếu tố
cấu thành thực tiễn là khách quan, trong trường hợp này thực tiễn là em
không thể di chuyển từ nhà tới trường với quãng đường ngắn hơn 3km, do đó
thực tiễn mang tính khách quan và tơn trọng thực tế khách quan. Nếu đến

muộn sẽ không thể tránh khỏi thực tế là phải chịu phạt theo quy định của nhà
trường, do đó ln phải nhận thức được qng đường từ nhà tới trường là
3km và phải mất ít nhất 15 phút di chuyển. Nhận thức của bản thân trong tình
huống thức tế này, bản thân sẽ có quyết định giờ đi học ln trước ít nhất 15
phút so với giờ vào lớp. Thực tiễn cho thấy giờ đi học của bản thân luôn sớm
hơn giờ vào học từ 15 phút trở lên điều này thể hiện tính năng động chủ quan
được phát huy. Tính năng động của bản thân trong việc thực hiện chính sách
giờ giấc theo quy định của trường sẽ cố gắng đảm bảo và có thời gian dự trù
cho các tình huống xảy ra trong quá trình di chuyển từ nhà tới trường. Do đó
có thể thấy trong hoạt động nhận thức và thực tế luôn cần tôn trọng thực tế
khách quan, tuy nhiên thực tế khách quan khơng thể thích ứng được với mọi
người nên mỗi chủ thể cần phát huy tính năng động chủ quan để cải tạo thực
tế khách quan.


Khi đưa ra phương pháp học tập cho bản thân, mỗi sinh viên phải

xem xét phương pháp học tập đó có phù hợp với thể trạng, sức khóe, tâm lý
và đặc điểm cá nhân thì mới đưa ra một phương pháp học tập phù hợp, đúng
đắn, đem lại hiệu quả cao. Không nên áp dụng rập khuôn phương pháp học
tập cùa bạn bè cho bản thân mình, sẽ khơng đem lại kết quả như mong muốn.
6


chẳng hạn như sinh viên yếu mơn tốn mà sinh viên này lại đi học tồn dạng
tốn nâng cao khi kiến thức căn bản không nắm vững vậy nên mỗi sinh viên
yếu mơn nào trình độ của mình đến đâu thì cần đưa ra một phương pháp học
nhất định với năng lực bản thân để phát triển một cách tốt nhất.



Người việt ta cũng có tiếng thơng minh, hiếu học. Nền giáo dục Việt

Nam ta mặc dù gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất trước, trong
và sau chiến tranh, đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào. Ta đã đào tạo được
một đội ngũ nghiên cứu khoa học khá và cống hiến quan trọng cho cộng đồng
khoa học quốc tế có thể nói sinh viên việt nam khá thơng minh sáng tạo có khả
năng tiếp nhận tri thức khá tốt, tuy nhiên hiện nay có nhiều sinh viên chúng ta
mắc bệnh lười hay thụ động trong học tập, sinh viên khơng chịu tìm tịi sách, tài
liệu phụ lục cho chun mơn của mình, mặc dù trong phương pháp giảng dạy
đại học nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra tài liệu và sách cần thiết
cho sinh viên tìm kiếm tham khảo. Cũng có nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi.
Học đối phó, học theo kiểu học vẹt và thi đối phó để lấy cho được mảnh bằng và
thiếu tính thực tiễn. Phần lớn sinh viên Việt Nam thiếu khả năng sáng tạo, thụ
động bởi sinh viên chỉ đọc bài khi giảng viên yêu cầu thuyết trình một đề tài,
viết một bài tiểu luận hoặc khi được khuyến khích bởi một người khác về một
cuốn sách hay nào đó, tức chỉ khi bị áp chế hoặc truyền cho niềm tin thì họ mới
đổ xô đi học. Điều này dẫn đến hậu quả: một bên là sự thiếu hụt về kiến thức
thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị đuổi học còn bên kia là sự mệt mỏi,
căng thẳng, những lo âu chồng chất trong những năm đại học khiến cho sức
khỏe bị suy sụp, lạc lõng, bơ vơ với những thay đổi đang diễn ra trước mắt, lạ
lẫm trước những biến đổi không tưởng của xã hội đến cuộc sống hằng ngày.
Trước tiên, trong nhận thức sinh viên phải phản ánh trung thực nội dung bản
chất của sự vật, hiện tượng. Không được lấy ý kiến chủ quan, định kiến của
mình áp đặt cho sự vật, hiện tượng. Khi nhìn nhận một sự việc, hiện tượng hay
đánh giá một vấn đề cần xét đến mọi trường hợp có thể xảy ra. Khơng được
7


nhìn nhận một chiều mà đã đưa ra những phán xét để rồi nó bị lệch lạc,sai trái
và đến khi không thể cứu chữa nữa mới nhận ra. Khi đánh giá sự vật - hiện

tượng cần xem xét một cách kĩ càng, trên mọi phương diện và tổng thể từ trước
đến sau nên tránh việc đưa ra kết luận một cách quá vội vàng.


Một bạn học sinh liên tục đi học trễ, thường xuyên làm lớp bị trừ

điểm nhưng thành tích học của bạn ấy vơ cùng xuất sắc. Nhưng thầy cơ và các
bạn trong lớp chỉ nhìn vào việc bạn đi học trễ liên tục mà đã đưa ra phán xét bạn
là một học sinh vô kỉ luật, không chấp hành nội qui trường học. Đứng trước ví
dụ này ta thấy thầy cô và các bạn cần xem xét đến lý do bạn đi học trễ, tìm hiểu
hồn cảnh gia đình bạn để tránh việc đưa ra những nhận định sai lầm và khó
chữa... Qua đó ta thấy khi nhận định về một sự vật, hiện tượng cần xem xét kĩ
trên mị phương diện rồi mới được đưa ra nhận định về một người. Có ý nghĩa là
một người cũng có điểm tốt điểm xấu khơng nên phát xét một người qua điểm
xấu đó như vậy là khơng tổng quan.


Khi chúng ta đã là sinh viên thì chúng ta cần phải: Chấp hành nghiêm

chỉnh nội quy nhà trường vì nội quy giành cho sinh viên trong nhà trường chính
là tiêu chuẩn đánh giá về tác phong, đạo đức của một người sinh. Khơng nên có
những tư tưởng cá nhân là nội quy nhà trường rườm rà, làm ảnh hưởng không
tốt đến việc học, đến thời gian cá nhân mà khơng thực hiện theo thì sẽ dẫn đến
hậu quả khơng tốt.


Khi đánh giá điểm rèn luyện của các bạn trong lớp nên thực hiện

công khai, khách quan, tránh đánh giá theo cảm tính cá nhân. Như thế sẽ tạo ra
mâu thuẫn nội bộ, khơng kích thích được sự thi đua, phấn đấu của các thành

viên trong lớp.


Sinh viên phải trung thực trong các kì kiểm tra, thi kết thúc mơn.

Sinh viên phải tích cực ơn luyện và làm bài bằng kiến thức của mình. Khơng
nên có hành vi quay cóp, chép bài của bạn vì dù điểm cao đó cũng khơng phải
điểm bạn đạt được, và đặc biệt nó khơng phản ánh đúng lượng kiến thức bạn có,
8


nó sẽ khơng giúp bạn tiến bộ mà ngược lại đưa bạn vào con đường ảo tưởng,
hiện tại có thể bạn nghĩ nó tốt nhưng tương lai nó sẽ là vũ khí hại bạn. Bên cạnh
đó, sinh viên phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở để đưa ra những đường
lối, chủ trương, kế hoạch, mục tiêu học tập cho phù hợp.


Khi đưa ra phương pháp học tập cho bản thân, mỗi sinh viên phải

xem xét phương pháp học tập đó có phù hợp với thể trạng, sức khỏe, tâm lý và
đặc điểm cá nhân thì mới đưa ra một phương pháp học tập phù hợp, đúng đắn,
đem lại hiệu quả cao. Không nên áp dụng rập khuôn phương pháp học tập của
người khác cho bản thân mình vì khi làm như vậy bạn sẽ không nhận được kết
quả như bạn mong muốn.
3. Kết luận
Vật chất và ý thức là hai yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại với nhau.
Vật chất là tiền đề tồn tại của ý thức, nhưng sự tác động qua lại này chỉ coa
thể được vận dụng tốt khi có con người. Vì vậy, là một người sinh viên thì
chúng ta phải phát huy tốt tính năng động chủ quan và vận dụng quy luật
khách quan vào trong cuộc sống thực tiễn. Về tính năng vận dụng tốt các quy

luật khách quan, là sinh viên chúng ta không được đánh giá sự vật hiện tượng
qua cái nhìn sơ qua mà phải tìm hiểu kĩ càng từ nguyên nhân đến nội dung,
sau đó mới được đưa ra kết quả. Một phần khi bạn đang thắng thế cũng khơng
được cậy mình mà chủ quan bỏ qua các yếu tố nhỏ bé xung quanh, dẫn đến
thất bại. Người ta hay nói, cuộc sống khơng màu hồng nhưng vầu vồng vẫn
xuất hiện sau mưa, đây chính là quy luật của cuộc sống. Phải tích cực tu bổ từ
học thức đến đạo đức để hoàn thiện bản thân giúp ích cho xã hội.
4.Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Giáo Dục và đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác - Lênin,
Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9


[2]. Ý

thức

phương

pháp

luận,

Lời

Giải

Hay,


< />cập ngày 17/6/2020].

10



×