Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Phân tích thẩm quyền và các biện pháp xử lý văn bản khiếm khuyết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.99 KB, 17 trang )

MỤC LỤC
A. Nội dung...........................................................................................................3
I. Một số vấn đề lý luận về văn bản khiếm khuyết............................................3
1. Khái niệm..................................................................................................3
2. Nguyên nhân việc ban hành các văn bản pháp luật khiếm khuyết............3
II. Thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết.....................................3
1. Cấp trên có thẩm quyền xử lý đối với văn bản pháp luật do cấp dưới ban
hành...............................................................................................................4
2. Cơ quan ban hành văn bản pháp luật có quyền tự xử lý các văn bản pháp
luật do mình ban hành bị khiếm khuyết........................................................5
3. Tịa án nhân dân có thẩm quyền xử lý đối với một số văn bản áp dụng
pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước ban hành khi có vi phạm pháp
luật.................................................................................................................6
III. Các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết.................................7
1. Huỷ bỏ.......................................................................................................7
2. Bãi bỏ........................................................................................................7
3. Thay thế.....................................................................................................8
4. Đình chỉ thi hành.......................................................................................9
5. Tạm đình chỉ thi hành................................................................................9
6. Sửa đổi, bổ sung......................................................................................10
7. Đính chính văn bản.................................................................................13
IV. Liên hệ thực tiễn........................................................................................14
1. Hạn chế....................................................................................................14
2. Một số đề nghị.........................................................................................15
B. Bài tập vận dụng.............................................................................................16
Tài liệu tham khảo...............................................................................................18

1


A. Nội dung


I. Một số vấn đề lý luận về văn bản khiếm khuyết
1. Khái niệm
Văn bản pháp luật khiếm khuyết được hiểu là văn bản “cịn thiếu sót, chưa
hồn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Việc soạn thảo
và ban hành ra một văn bản pháp luật phải do chủ thể có thẩm quyền ban hành
văn bản pháp luật thì các chủ thể trong hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước
có vai trị vị trí đặc biệt quan trọng, bởi lẽ đây là những chủ thể cơ bản, chủ yếu
thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội.
2. Nguyên nhân việc ban hành các văn bản pháp luật khiếm khuyết
Văn bản pháp luật khiếm khuyết được ban hành có thể do yếu tố trực tiếp
đầu tiên tác động đó là do khơng phù hợp với tình hình thực tiễn, khơng điều
chỉnh và chi phối lên các mối quan hệ tồn tại trong xã hội. Nguyên nhân thứ hai
đó là do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản cịn bị hạn chế về trình độ
chun mơn, nghiệp vụ, về việc sử dụng ngôn ngữ cũng như những kỹ năng
pháp lý, thậm chí cịn khơng tn thủ nghiêm chỉnh những quy định của pháp
luật về thủ tục ban hành cũng như quản lý văn bản pháp luật. Dưới sự tác động
của ý chí chủ quan của chủ thể có thẩm quyền ban hành đã dẫn tới việc ban hành
văn bản pháp luật vi phạm về thủ tục và khơng đảm bảo tính hợp lý của một văn
bản. Các quy định của pháp luật hiện hành về công tác ban hành văn bản pháp
luật nhất là văn bản áp dụng pháp luật còn chưa đầy đủ và được đặt ra trong
nhiều văn bản khác nhau, vì vậy đã gây ra khó khăn trong việc thực hiện.
II. Thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết
2


Hiện nay, thẩm quyền xử lý văn bản khiếm khuyết được quy định rải rác ở
nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Hiến pháp năm 2013, các luật về tổ
chức bộ máy nhà nước, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Nhìn chung, thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết

được quy định trong những văn bản trên đều theo những nguyên tắc nhất định.
1. Cấp trên có thẩm quyền xử lý đối với văn bản pháp luật do cấp dưới ban
hành
Nguyên tắc này áp dụng cho hầu hết các cơ quan nhà nước, trừ trường hợp
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất khơng có cấp trên.
Theo nguyên tắc này, Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản pháp luật của Chủ
tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Tịa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền hủy bỏ văn bản của Chính phủ,
Thủ tướng chính phủ, Tịa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trái pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; bãi bỏ nghị quyết sai
trái của Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành
quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết
định, chỉ thị của ủy ban nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Tỉnh trái Hiến
pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
đình chỉ thi hành quyết định của Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh trái Hiến pháp,
luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đồng thời đề nghị Uỷ ban
thường vụ Quốc hội bãi bỏ.
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quá trình kiểm tra văn bản của các
bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về những
3


nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, nếu phát hiện văn
bản khiếm khuyết thì có quyền kiến nghị với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ khác bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hay toàn bộ văn bản,
nếu kiến nghị khơng được chấp nhận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành nghị quyết của hội

đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật...
Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh có quyền bãi bỏ quyết định, chỉ thị của ủy ban
nhân dân cùng cấp và nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp huyện.
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ
những văn bản sai trái của cơ quan trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và quyết
định, chỉ thị của ủy ban nhân dân cấp huyện; đình chỉ việc thi hành nghị quyết
sai trái của hội đồng nhân dân cấp huyện và đề nghị hội đồng nhân dân cấp mình
bãi bỏ.
Hội đồng nhân dân cấp huyện có quyền bãi bỏ quyết định, chỉ thị của ủy
ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp xã.
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền đình chỉ việc thi hành và bãi
bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc ủy ban nhân dân và quyết định,
chỉ thị của ủy ban nhân dân cấp xã; đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của
hội đồng nhân dân cấp xã và đề nghị hội đồng nhân dân cấp huyện bãi bỏ những
văn bản đó.
Tịa án nhân dân cấp trên có quyền sửa đổi, hủy bỏ văn bản áp dụng pháp
luật do tòa án nhân dân cấp dưới ban hành nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền sửa đổi, hủy bỏ văn bản áp dụng
pháp luật của viện kiểm sát nhân dân cấp dưới ban hành.
2. Cơ quan ban hành văn bản pháp luật có quyền tự xử lý các văn bản pháp
luật do mình ban hành bị khiếm khuyết
4


Thông qua hoạt động kiểm tra, nếu cơ quan ban hành văn bản phát hiện
được những văn bản do mình ban hành có dấu hiệu khiếm khuyết, sẽ phải ban
hành văn bản pháp luật khác để xử lý. Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành
quyết định để bãi bỏ những quyết định quy định về ưu đãi và khuyến khích đầu
tư khơng phù hợp với Luật Đầu tư năm 2014.
Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý thuộc về chính cơ quan ban hành

văn bản khiếm khuyết sẽ khơng áp dụng trong trường hợp Tịa án ban hành bản
án và quyết định khiếm khuyết. Tồ án khơng có quyền tự xử lý với những bản
án và quyết định do mình ban hành mà phải do tịa án cấp trên xử lý (trừ văn bản
do Tòa án nhân dân tối cao ban hành).
Ngoại lệ: Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý thuộc về chính cơ quan
ban hành văn bản khiếm khuyết sẽ không áp dụng trong trường hợp tòa án ban
hành bản án, quyết định khiếm khuyết. Tịa án khơng có quyền tự xử lý với
những bản án và quyết định do mình ban hành mà phải do tòa án cấp trên xử lý
(trừ văn bản do tòa án nhân dân tối cao ban hành) nhằm để tránh tình trạng bản
án, quyết định của Tịa án xét xử oan sai, trái pháp luật ảnh hưởng tới quyền lợi
của đương sự cũng như giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan xét xử, buộc
Chánh án khi đưa ra bản án, quyết định phải tuân thủ theo đúng quy định của
pháp luật, hạn chế tình trạng văn bản áp dụng pháp luật khiếm khuyết.
3. Tòa án nhân dân có thẩm quyền xử lý đối với một số văn bản áp dụng
pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước ban hành khi có vi phạm pháp
luật
Đối tượng bị khởi kiện ra toà án nhân dân là các quyết định hành chính
hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền
( Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Văn bản áp dụng pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước bị khởi kiện ra tồ án nhân dân, nếu có đầy đủ chứng
cứ để khẳng định dấu hiệu vi phạm pháp luật thì tồ án nhân dân sẽ ra bản án để
huỷ bỏ văn bản pháp luật đó.
5


III. Các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết
Dựa vào tính chất, mức độ khiếm khuyết của văn bản pháp luật và bản chất
của mỗi biện pháp xử lý, chủ thể có thẩm quyền lựa chọn một trong những biện
pháp sau để xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết.
1. Huỷ bỏ

Huỷ bỏ là biện pháp xử lý được áp dụng đối với văn bản áp dụng pháp luật
có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: nội dung của văn bản pháp
luật bất hợp pháp; ban hành văn bản trái thẩm quyền nội dung; sai phạm về thủ
tục ban hành dẫn đến làm mất cơ sở pháp lý của việc giải quyết công việc phát
sinh (không thành lập hội đồng kỷ luật trước khi ra quyết định kỷ luật công
chức...).
Khi áp dụng biện pháp huỷ bỏ, hậu quả pháp lý xảy ra là văn bản pháp luật
sẽ bị hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản này được ban hành. Tức là
phủ nhận giá trị pháp lý của văn bản bị huỷ kể từ thời điểm ban hành. Điều này
xuất phát từ chính khái niệm huỷ bỏ là việc ra một văn bản để làm mất hiệu lực
pháp luật kể cả trở về trước của văn bản bị huỷ bỏ.
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của
chủ thể ban hành văn bản.
Chẳng hạn văn bản bị hủy bỏ như: Quyết định số 64/1998/QĐ-TTg ngày
21/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tiền mua nhà ở cho một số đối
tượng khi mua nhà ở đang thuê thuộc sở hữu nhà nước[1].
2. Bãi bỏ
Bãi bỏ là biện pháp xử lý được hiểu “bỏ đi, không thi hành nữa”.
[1][1] Quyết định 64/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tiền mua nhà ở cho một số đối tượng
khi mua nhà đang ở thuê thuộc sở hữu Nhà nước 21/03/1998, Trang điện tử Luật Việt Nam tiện ích văn bản luật.

6


Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ là các văn bản quy phạm pháp luật có
một trong các dấu hiệu khiếm khuyết như: nội dung văn bản quy phạm pháp luật
khơng phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng; đại đa số nội dung trong
văn bản không phù hợp với quyền lợi chính đáng của đối tượng chịu sự tác động
trực tiếp của văn bản; nội dung của văn bản không phù hợp với văn bản pháp
luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành; phần lớn nội dung của văn bản quy

phạm pháp luật không phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội là đối tượng mà
văn bản điều chỉnh; phần lớn nội dung của văn bản pháp luật không phù hợp với
các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; văn bản quy phạm
pháp luật khơng cịn cần thiết tồn tại trong thực tiễn nữa.
Như vậy, khác với huỷ bỏ, dấu hiệu vi phạm pháp luật không phải là dấu
hiệu duy nhất để xem xét áp dụng biện pháp bãi bỏ. Văn bản bị bãi bỏ chỉ mất
hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản xử lý nó có hiệu lực pháp luật. Do
vậy, biện pháp bãi bỏ khơng phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hồn của chủ
thể ban hành văn bản pháp luật sai trái đó. Thơng tư liên tịch Số 18/2015/TTLTBTP-BTC-TTCP ngày 14/12/2015 Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Bị bãi bỏ bởi Thông tư số
11/2018/TT-BTP ngày 30/7/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, liên tịch ban hành trong
lĩnh vực bồi thường nhà nước[1].
3. Thay thế
Thay thế là biện pháp xử lý được áp dụng đối với văn bản pháp luật có dấu
hiệu khiếm khuyết (khơng có vi phạm pháp luật) như nội dung văn bản khơng
cịn phù hợp với thực tiễn, khơng cịn phù hợp với đường lối của Đảng…
Thẩm quyền thay thế văn bản pháp luật chỉ thuộc về cơ quan đã ban hành
văn bản đó.
[1][1] Danh mục Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà
nước của Bộ Tư pháp năm 2018, Trang Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.

7


Hậu quả pháp lý xảy ra khi áp dụng biện pháp thay thế là văn bản pháp luật
bị thay thế hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản mới có hiệu lực pháp
lý.
Ví dụ như từ lâu, việc trình bày văn bản hành chính đúng chuẩn được thực
hiện theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011/TT-BNV. Tuy nhiên, từ 05/3/2020,

khi Nghị định 30/2020/NĐ-CP có hiệu lực đã thay đổi nhiều điểm trong thể thức
và cách trình bày văn bản.[1]
4. Đình chỉ thi hành
Đình chỉ thi hành là biện pháp xử lý được áp dụng để tạm ngưng hiệu lực
đối với văn bản pháp luật, ví dụ: Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định
đình chỉ việc thi hành một phần hay toàn bộ nghị quyết của hội đồng nhân dân
cấp huyện trái với văn bản của cấp trên, đồng thời báo cáo uỷ ban nhân dân tỉnh
để đề nghị hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ.
Văn bản pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có
quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền
ra quyết định huỷ bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực, cịn khơng bị huỷ
bỏ, bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực.
5. Tạm đình chỉ thi hành
Tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lý được áp dụng đối với các văn bản
áp dụng pháp luật trong những trường hợp nhất định.
Thứ nhất, chủ thể khơng có thẩm quyền xử lý văn bản áp dụng pháp luật
nhưng có cơ sở cho rằng văn bản đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên quyết
định tạm dừng thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lý.
[1][1] Bài viết “Thể thức và cách trình bày văn bản áp dụng từ 05/3/2020” , Trang điện
tử Luật Việt Nam tiện ích văn bản luật.

8


Văn bản pháp luật bị tạm đình chỉ, hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra
quyết định huỷ bỏ; tiếp tục có hiệu lực khi cấp có thẩm quyền tun bố khơng
huỷ bỏ văn bản đó.
Thứ hai, khi có cơ sở cho rằng việc thi hành văn bản pháp luật có thể gây
cản trở hoạt động cơng quyền thì chủ thể có thẩm quyền quyết định việc tạm
dừng thi hành văn bản trong thời gian nhất định để hoạt động công quyền được

diễn ra thuận lợi.
Trường hợp này, người ra quyết định tạm đình chỉ phải ra văn bản bãi bỏ
việc tạm đình chỉ đó nếu khơng cịn cần thiết. Văn bản đã bị tạm đình chỉ tiếp
tục có hiệu lực.
Đây được coi như “biện pháp khẩn cấp, tạm thời” làm ngưng hiệu lực pháp
lý của các văn bản trái pháp luật. Sau khi đình chỉ việc thi hành văn bản, tùy
theo tính chất, mức độ sai trái của văn bản chủ thể có thẩm quyền áp dụng một
trong các biện pháp xử lý đối với văn bản. Cũng giống các biện pháp xử lý khác,
biện pháp đình chỉ và tạm đình chỉ thi hành văn bản pháp luật chưa được quy
định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật dẫn đến khó khăn trong việc
xác định trường hợp nào áp dụng biện pháp đình chỉ, trường hợp nào áp dụng
biện pháp tạm đình chỉ. Mặt khác, có thể thấy biện pháp tạm đình chỉ thi hành
chỉ là một phần của biện pháp đình chỉ thi hành, việc tách riêng hai biện pháp
này là bất hợp lý, dễ gây nhầm lẫn. Do đó nên hợp nhất hai biện pháp này để
việc áp dụng biện pháp trong xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết được dễ
dàng hơn.
6. Sửa đổi, bổ sung
Sửa đổi, bổ sung là biện pháp xử lý được áp dụng đối với các văn bản pháp
luật khi tính chất và mức độ khiếm khuyết của văn bản rất nhỏ.
Sửa đổi là việc ra văn bản để làm thay đổi một phần nội dung văn bản pháp
luật hiện hành trong khi vẫn giữ nguyên những nội dung khác. Vì vậy, sửa đổi
9


chỉ làm mất hiệu lực pháp luật của bộ phận văn bản bị sửa đổi, cịn tồn bộ văn
bản vẫn có hiệu lực pháp luật.
Bổ sung là việc ra văn bản để thêm vào nội dung văn bản pháp luật những
quy định mới trong khi vẫn giữ nguyên nội dung vốn có của văn bản đó. Bổ
sung khơng làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp luật của văn bản mà chỉ làm thay
đổi nội dung, quy mô của văn bản được bổ sung.

Thông thường các cơ quan ban hành một văn bản để sửa đối, bổ sung một
văn bản pháp luật khác. Với cách sửa đổi, bổ sung phổ biến như vậy làm cho cơ
quan ban hành văn bản mất nhiều thời gian, kinh phí, phải trải qua mọi thủ tục
mà pháp luật quy định. Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu lập pháp ở
Việt Nam đã bắt đầu nói đến kỹ thuật “ban hành một văn bản để sửa nhiều văn
bản khác” khi chúng có nội dung liên quan đến nhau.
Hiện nay, với thực trạng nhiều cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp
luật để chi tiết hoá và hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp
trên còn chậm, thiếu văn bản; nhiều quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo trong
nội tại văn bản cũng như với các văn bản pháp luật khác, thì việc áp dụng kĩ
thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản khác” là rất cần thiết. Hơn nữa việc
nghiên cứu sửa đổi đồng thời một lúc nhiều văn bản pháp luật cho phép tuân thủ
các bước tối thiểu của quy trình lập pháp, lập quy mà vẫn bảo đảm đúng chức
năng, thẩm quyền của các cơ quan, đồng thời khắc phục được sự lãng phí về
thời gian trong từng cơng đoạn và tiết kiệm kinh phí nghiên cứu, ban hành văn
bản.
Khi ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, cơ quan có thẩm quyền tiến hành
hợp nhất nội dung sửa đổi, bổ sung vào văn bản được sửa đổi, bổ sung bảo đảm
tính thuận tiện cho áp dụng pháp luật.
Hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa
đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản
10


được sửa đổi, bổ sung theo quy trình và kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh Hợp
nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012. Việc hợp nhất văn bản quy phạm
pháp luật sau khi được sửa đổi, bổ sung không làm ảnh hưởng đến nội dung và
hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất. Như vậy, hợp nhất
văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động chỉ mang tính kỹ thuật khơng tạo ra
quy phạm pháp luật mới cũng như văn bản quy phạm pháp luật mới.

Mục đích của việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là làm cho hệ
thống pháp luật trở nên đơn giản, minh bạch, thống nhất, dễ tiếp cận; nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật; tạo thuận lợi cho việc tra cứu, trích dẫn các quy
định của văn bản. Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Hội đồng Thẩm phán Tồ án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, bộ
trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Nhằm bảo đảm việc hợp nhất văn bản
được
Theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm
2012, hợp nhất được thực hiện bắt buộc đối với văn bản quy phạm pháp luật của
Quốc hội, ủy ban Thường vụ nhanh chóng, kịp thời, chính xác và có sự tiếp nối
liên tục từ q trình soạn thảo, ban hành đến hợp nhất văn bản, không làm phát
sinh thêm biên chế, tổ chức mới, Pháp lệnh quy định trách nhiệm hợp nhất thuộc
về:
+ Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội tổ chức việc hợp nhất đối với văn bản
quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản liên
tịch giữa ủy ban Thường vụ Quốc hội với cơ quan trung ương của các tổ chức
chính trị-xã hội;
+ Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
được sửa đổi, bổ sung của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ
chức việc họp nhất đối với văn bản của những chủ thể này;
11


+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức việc hợp nhất đối với thơng tư
do mình ban hành, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo;
+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức việc họp nhất đối với
văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo;
+ Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức việc hợp nhất đối với

thơng tư do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ tri soạn thảo;
+ Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức việc hợp nhất đối với quyết định do
mình ban hành.
7. Đính chính văn bản
Biện pháp này được sử dụng trong trường hợp văn bản pháp luật có những
sai sót đơn giản như chỉ sai về căn cứ pháp lý được viện dẫn, sai thể thức, kỹ
thuật trình bày cịn nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật,
bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp thì đính chính đối với những sai sót đó. Việc
đính chính văn bản pháp luật không làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của văn
bản đó.
Ví dụ Quyết định số 236/QĐ – UBND năm 2019 đính chính văn bản quy
phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành.[1]
Xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết là một hoạt động quan trọng của các
chủ thể có thẩm quyền nhằm khắc phục kịp thời những khiếm khuyết của văn
bản, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và tính thống nhất của hệ thống văn bản
pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế thì việc xử lý các văn bản pháp luật khiếm
khuyết chưa thực sự nhanh chóng, kịp thời, khách quan, tồn diện và mang lại
hiệu quả. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là pháp luật
chưa có sự quy định rõ ràng, cụ thể về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật
[1][1] Trang Hệ thống pháp luật Việt Nam

12


khiếm khuyết nên chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể nhận
thức đúng đắn và dễ dàng áp dụng. Do thiếu các quy định của pháp luật mà khi
xử lý các văn bản pháp luật khiếm khuyết, nhiều chủ thể có thẩm quyền đã áp
các biện pháp xử lý một cách tùy nghi, chưa thực sự đúng với điều kiện áp dụng
biện pháp.
IV. Liên hệ thực tiễn

Thời gian qua, với việc tích cực, chủ động triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các
giải pháp, công tác xây dựng văn bản đã đạt được những kết quả tích cực. Theo
đó hệ thống văn bản đã thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực, góp phần điều chỉnh hầu hết các quan
hệ xã hội phát sinh, nhất là những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách cần phải
được giải quyết kịp thời, hiệu quả. Văn bản cơ bản đảm bảo tính hợp hiến, hợp
pháp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trên địa bàn, đã
hạn chế tình trạng ban hành văn bản chưa đảm bảo về thẩm quyền, nội dung và
thể thức, kỹ thuật trình bày.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cơng tác xây dựng văn bản vẫn cịn một số tồn tại,
hạn chế sau.
1. Hạn chế
Ban hành trái thẩm quyền, nội dung trái pháp luật, các quy định tản mát,
chồng chéo, mâu thuẫn nhau, không phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội nên
đã khơng có khả năng thực thi hoặc khi thực hiện đã tạo ra những kết quả rất
thấp, thậm chí ngược lại so với dự định của chủ thể ban hành văn bản. Bên cạnh
đó, việc nhận diện, xác định văn bản khiếm khuyết, việc xử lý các văn bản
khiếm khuyết thường không được kịp thời, nhiều khi không đúng đắn hoặc
không thống nhất về quan điểm của các bên hữu quan.

13


- Tịa án chưa có thẩm quyền thực sự và triệt để để xử lý trực tiếp đối với
văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết. Việc xử lý chỉ dừng lại ở đề nghị,
kiến nghị hoặc kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ, thay thế.
- Các quy định về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn và trách nhiệm giải quyết
kiến nghị mặc dù được quy định trong tố tụng hành chính nhưng lại được thực
hiện theo thủ tục hành chính. Các quy định này khơng tương thích với quyền
hạn của Hội đồng xét xử được quy định tại khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành

chính năm 2015.
- Việc quy định xử lý văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết khơng triệt
để có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức.
- Đối với văn bản áp dụng pháp luật bất hợp pháp, Tịa án chỉ có quyền
tun hủy theo trình tự tố tụng hành chính mà khơng có bất kỳ quyền nào khác.
Bởi vậy, việc xác định tính bất hợp pháp của văn bản áp dụng pháp luật là đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính cần phải được đặt ra ngay từ khi cá nhân định
đoạt quyền khởi kiện. Các yêu cầu sửa đổi, thay thế văn bản áp dụng pháp luật
của người khởi kiện sẽ khơng được Tịa án xem xét giải quyết và Tịa án cũng
khơng có thẩm quyền sửa đổi, thay thế văn bản áp dụng pháp luật là đối tượng
khởi kiện vụ án hành chính.
2. Một số đề nghị
Hiện nay số lượng các văn bản pháp luật được ban hành ngày càng nhiều,
chất lượng ngày càng được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn quản lý
xã hội, tuy nhiên bên cạnh đó cịn khơng ít các văn bản khiếm khuyết vẫn cịn
tồn tại gây khó khăn khơng nhỏ cho hoạt động áp dụng và thi hành trên thực tế.
Cần tiến hành kiểm tra, rà soát văn bản pháp luật, để kịp thời ban hành các
văn bản pháp luật để thực hiện các chủ trương, biện pháp, phục vụ công tác chỉ
đạo, điều hành, quản lý chính nhà nước của Trung ương, địa phương góp phần
14


thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh
của đất nước.
Đề nghị các cơ quan chuyên môn các cấp tham mưu giúp việc trong quá
trình được giao xây dựng, chủ trì soạn thảo cần xây dựng và soạn thảo đảm bảo
đúng quy trình, đặc biệt là các văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, cấp huyện trong việc tham gia góp ý kiến và dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật.

Các cơ quan chuyên mơn được giao chủ trì soạn thảo, cơ quan kiểm sốt
văn bản trước khi trình ký các văn bản phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các
yêu cầu của pháp luật.
Kịp thời phát hiện những văn bản hết hiệu lực pháp luật; khơng cịn phù
hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, để đề nghị với cơ quan cấp trên
có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ các văn bản ban hành không tuân thủ các quy định
của pháp luật.
B. Bài tập vận dụng
Anh/Chị hãy soạn thảo Quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học X về
việc buộc thôi học đối với sinh viên Trần Văn B.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
X
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
X, ngày 6 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH
Về việc buộc thôi học đối với sinh viên
15


HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC X
Căn cứ Quyết định số 01/QĐ-X ngày 05/3/2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học X về
việc ban hành Quy định về Tổ chức và Hoạt động trong Trường Đại học X;
Căn cứ Quyết định số 2997/ QĐ-X ngày 03/12/2015 về việc bồi hồn kinh phí đào tạo
của sinh viên đại học hệ chính quy buộc thơi học;
Xét đề nghị của ơng trưởng phịng Cơng tác HSSV và ơng trưởng phịng Đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Buộc thôi học đối với sinh viên Trần Văn B do khơng có đơn xin

chuyển hệ đào tạo theo quy định của Nhà trường kể từ học kỳ 1 năm học 2020 –
2021.
Điều 2. Sinh viên Trần Văn B phải hoàn thành học phí hết học kỳ 2 năm
2020 – 2021.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các Ơng (Bà)
Trưởng phịng Đào tạo, Kế hoạch – Tài chính, Chính trị và Cơng tác sinh viên,
Trưởng khoa chuyên môn, các đơn vị liên quan và sinh viên phải có trách nhiệm
thi hành quyết định này./.
HIỆU TRƯỞNG
Nơi nhận:

( Ký tên)

- Như điều 3
- Lưu ĐT, HC - TH

Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, Nxb Tư pháp 2015.
2. Bài viết “Thể thức và cách trình bày văn bản áp dụng từ 05/3/2020” ,
Trang điện tử Luật Việt Nam tiện ích văn bản luật.
16


3. Danh mục Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn
bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp năm 2018, Trang Cơ sở dữ
liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
4. Quyết định 64/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm
tiền mua nhà ở cho một số đối tượng khi mua nhà đang ở thuê thuộc sở hữu Nhà
nước 21/03/1998, Trang điện tử Luật Việt Nam tiện ích văn bản luật.
5. Quyết định 173/QĐ-BKHCN năm 2016 công bố Danh mục văn bản quy

phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ và văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ năm
2015, Trang Pháp luật Cộng đồng.
6. Võ Tuyết Hà - Sở Tư pháp Quảng Bình, Bài viết “Một số bất cập trong
thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, Trang Trường
đại học Kiểm sát Hà Nội.
7. TS. Nguyễn Thị Thủy- Đại học Luật Hà Nội, Bài viết “Pháp luật tố tụng
hành chính với việc xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết”, Trang Thế giới Luật.
8. Tiểu luận “Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp
luật khiếm khuyết”, ( 03/04/2013), Trang 123doc.

17



×