Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Phật giáo nam tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người khmer ở tỉnh trà vinh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 112 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHAN THỊ PHƢỢNG

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TƠNG
VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NĨ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
NGƢỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHAN THỊ PHƢỢNG

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TƠNG
VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NĨ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
NGƢỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 8.22.90.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:


TS. NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Trọng Nghĩa. Tơi xin hồn tồn chịu
trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cơng trình này.

Tác giả

Phan Thị Phƣợng


MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................... 11
Chƣơng 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NỘI
DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG ............. 11
1.1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO ..................................... 11

1.1.1. Điều kiện ra đời của Phật giáo ............................................................ 11
1.1.2. Tiền đề ra đời của Phật giáo ................................................................ 16
1.1.3. Quá trình phát triển và sự phân phái của Phật giáo .......................... 19
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG .24

1.2.1. Khái quát chung về đạo đức Phật giáo Nam Tông ............................ 24
1.2.2. Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo Nam Tông ............... 25

1.2.3. Giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo Nam Tông................................. 39
Kết luận chƣơng 1 ....................................................................................... 46
Chƣơng 2. SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM
TÔNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƢỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH
HIỆN NAY .................................................................................................. 48
2.1. SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀO CỘNG ĐỒNG NGƢỜI
KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH .......................................................................... 48

2.1.1. Điều kiện tự nhiên – xã hội ở tỉnh Trà Vinh ....................................... 48
2.1.2. Khái quát chung về đồng bào Khmer và phật giáo Nam Tông ở tỉnh
Trà Vinh ....................................................................................................... 50
2.1.3. Sự du nhập Phật giáo Nam Tông vào cộng đồng người Khmer ở tỉnh
Trà Vinh ........................................................................................................ 54
2.2. MỘT SỐ ẢNH HƢỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG NGƢỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY.......................... 58


2.2.1. Sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam tông đối với tư tưởng, đạo
đức lối sống của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh ............................................ 58
2.2.2. Đạo đức Phật giáo Nam Tông thể hiện tinh thần nhập thế trong đời
sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh ............................................................... 61
2.2.3. Sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam Tông đến phong tục, tập qn,
tín ngưỡng tơn giáo, lễ hội trong đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh ....... 65
2.2.4. Những mặt tích cực và hạn chế trong sự ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo Nam Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay ... 79
2.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA HỆ PHÁI NÀY ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG NGƢỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY.......................... 86

2.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân về công tác bảo tồn và phát huy
nền đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với người Khmer tại Trà Vinh, trước

hết là đảng viên, cán bộ các cấp .................................................................... 86
2.3.2. Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tích cực của đồng bào
Khmer trong xây dựng nền văn hóa mới ...................................................... 87
2.3.3. Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế vùng dân cư
có đồng bào Phật giáo Nam Tơng Khmer, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống ...................................................................................................... 92
2.3.4. Tranh thủ các chức sắc, người có uy tín, số sư sãi Phật giáo Nam tơng ... 94
2.3.5. Tích cực vận động đồng bào thực hiện tốt chính sách dân tộc và tôn
giáo của Đảng, Nhà nước đã đặt ra. Đấu tranh chống lại các biểu hiện lợi
dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ....................................... 96
Kết luận chƣơng 2 ....................................................................................... 97
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................. 99


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là hiện tượng xã hội – văn hoá của các cộng đồng dân cư,
mang những bản sắc xuất xứ đồng thời có sức truyền bá, hịa nhập, đan xen
giữa các cộng đồng khác nhau. Ngồi ra, khi nói đến tơn giáo, người ta cũng
tự nhiên nghĩ đến cái cộng đồng tín ngưỡng và từ đó mà phân ra thành tơn
giáo có tính thế giới và tơn giáo có tính dân tộc, từ cái diện bao trùm hoặc
lan tỏa ra của chúng mà xem xét tơn giáo có ảnh hưởng lớn hay tơn giáo có
ảnh hưởng nhỏ. Nói chung, ba tơn giáo lớn có tính thế giới mà người ta
thường nói tới là tơn giáo Kitơ, Islam giáo và Phật giáo, cịn các tơn giáo
khác chủ yếu là tơn giáo có tính dân tộc hoặc tơn giáo có tính khu vực. Vì
thế, hầu như các cộng đồng đều có hiện tượng sống chung các tơn giáo, ra
đời và phát triển trong lịng xã hội mình (gọi là tơn giáo nội sinh) với các tơn
giáo được du nhập từ bên ngồi vào.
Việt Nam nằm trong vị trí rất thuận lợi, đã sớm có điều kiện tiếp xúc với

hai nền văn hóa lớn của thế giới: văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa. Có
thể nói rằng, đây là hai người khổng lồ trong nền văn hóa lồi người. Dân tộc
Việt Nam vốn có truyền thống hịa hiếu và rộng mở với những đặc trưng của
nền văn hóa lúa nước phương Nam, dễ dàng tiếp thu những giá trị tinh hoa
của hai nền văn hóa lớn đó. Ngay từ những năm đầu Cơng nguyên, thông qua
các thương buôn, Việt Nam chúng ta đã có điều kiện tiếp xúc với văn hóa Ấn
Độ mà nền văn hóa Ấn Độ trong thời kỳ này đã mang trong mình tinh hoa của
tư tưởng Phật giáo. Phật giáo trong quá trình hình thành và phát triển đã chia
thành hai hệ phái: Bắc Tông và Nam Tông. Trong đó, Phật giáo Nam Tơng
được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ
đi theo đường biển tới Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan tới vùng sông Mê Kông
(Campuchia) và vùng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt


2
Nam. Phật giáo Nam tông đã thấm vào đời sống tinh thần và văn hóa Việt
Nam một cách tự nhiên và dễ dàng, đạo đức Phật giáo Nam tông đã truyền
dạy một lối sống đúng đắn, hợp đạo lý con người, khuyến khích con người trở
thành người tốt, sống có ích cho xã hội. Quan điểm đạo đức của Phật giáo
Nam tông đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ, nhân sinh quan của người dân
Việt nói chung và người dân Khmer ở Trà Vinh nói riêng và trở thành một giá
trị tinh thần vô giá của người dân nơi đây.
Phật giáo Nam tông được người dân Khmer tiếp nhận và phát triển
trong cộng đồng qua nhiều thế kỷ, giữ một vị trí quan trọng trở thành tín
ngưỡng chính của đồng bào Khmer. Cuộc sống tâm hồn của họ luôn gắn liền
với những tư tưởng, giáo lý đạo đức của Phật giáo Nam Tơng. Nó thấm
nhuần vào trong ý thức của mỗi con người, trở thành niềm tin, triết lý sống
“từ, bi, hỷ, xả”, họ luôn tin vào luật nhân quả… Dù cuộc sống có khó khăn,
họ vẫn ln hướng về Phật, luôn tin vào những giáo lý đạo đức của Phật để
cầu mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trà Vinh là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long,
nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200
km đi bằng quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long, khoảng cách rút ngắn thời gian
chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre, cách thành phố
Cần Thơ 95 km. Trà Vinh là tỉnh thành có nhiều người Khmer sinh sống,
theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, số người Khmer
tại Trà Vinh chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước. Trà Vinh là địa bàn
cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc
đặc trưng tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù.
Có thể nói đối với người Khmer Trà Vinh nói riêng thì Phật giáo Nam Tông
dường như là một liều thuốc trợ giúp tinh thần cho họ thoát khỏi những rủi
ro trong cuộc sống hằng ngày giúp họ vươn lên trong cuộc sống và tạo động
lực để phát triển kinh tế – xã hội.


3
Trong những năm gần đây, Trà Vinh đã và đang phấn đấu vươn lên
tạo nên bước phát triển đột phá trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Bên cạnh mặt tích cực đó thì trên địa bàn Thành phố cũng xuất
hiện nhiều vấn đề về trật tự, an ninh, xã hội. Đặc biệt, tình trạng phạm tội
trong nhân dân khơng ngừng gia tăng, trong đó xuất hiện ngày càng nhiều
đối tượng phạm tội là các bạn thanh thiếu niên. Đặc biệt, theo (Trần Hồng
Liên, 2014) trong những năm gần đây xuất hiện sự biến đổi trong sinh hoạt
tôn giáo của người Khmer, hiện tượng cải đạo, hoặc chuyển đạo trong cộng
đồng người Khmer đang diễn ra, phải chăng những giá trị đạo đức của Phật
giáo Nam tông khơng cịn sức ảnh hưởng đối với một số người Khmer hiện
nay. Trước thực trạng đó địi hỏi nhu cầu bức thiết được giải đáp, định
hướng về mặt lý luận vấn đề giáo dục về đạo đức cho nhân dân là một yêu
cầu cấp bách đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Trà Vinh hiện nay. Do đó,
việc nghiên cứu vấn đề “Đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó

đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay” càng trở nên cấp
bách và có ý nghĩa thiết thực khơng chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của Trà Vinh nói chung mà cịn có ý nghĩa đối với đời sống văn hóa, tín
ngưỡng tinh thần của người Khmer nói riêng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo là tôn giáo được sinh ra trên đất nước Ấn Độ cổ đại. Khơng
bao lâu sau khi ra đời, nó đã phát triển rộng khắp các nước thuộc khu vực
Châu Á và ngày nay nó lại đang lan toả mạnh sang các nước phương Tây.
Cùng với q trình lịch sử, tơn giáo này đã có những đóng góp đáng kể cho
nền văn hố của nhân loại. Chính vì vậy, Phật giáo và vai trị của nó trong
đời sống xã hội nói chung từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học không chỉ ở phương Đông mà cả phương Tây. Nhìn chung các
nhà khoa học khi nghiên cứu về Phật giáo đều đánh giá cao những giá trị
văn hố của nó.


4
Với việc nghiên cứu về Phật giáo, về “Đạo đức Phật giáo Nam Tơng
và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện
nay” từ trước đến nay đã có sự thu hút, quan tâm với nhiều cơng trình đã
cơng bố với quy mơ và góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong đó có một số
cơng trình nghiên cứu về Phật giáo Nam Tơng:
Hướng thứ nhất, là hướng nghiên cứu về Phật giáo Nam Tông. Hướng
này bao gồm những cơng trình nghiên cứu, giới thiệu về Phật giáo Nam tông
được thể hiện trong các bộ kinh như: Kinh Tương ưng bộ, tập 1, 2, 3, Đại
tạng kinh Việt Nam (1993), Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành;
Kinh Trường bộ, tập 2, Đại tạng kinh Việt Nam (1991), Viện nghiên cứu
Phật học Việt Nam, ấn hành; Kinh Trường bộ, tập 2, Đại tạng Kinh Việt
Nam (2001), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội; Kinh Trường bộ, tập 4, Đại tạng Kinh
Việt Nam (1972), bản dịch Thích Minh Châu, Đại học Vạn Hạnh xuất bản;

Kinh Trung bộ, tập 1, Đại tạng Kinh Việt Nam (19920, Viện nghiên cứu Phật
học Việt Nam, ấn hành; Kinh Trung A hàm, tập 1, 2, Đại tạng kinh Việt Nam
(1992), Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành; Kinh Tăng chi bộ, tập
3, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1998), bản dịch của Thích Minh Châu, Viện
nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, ấn hành. Theo hướng này cịn có các cơng
trình về lý luận chung của quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở
Việt Nam có rất nhiều cơng trình nghiên cứu, trong đó tác giả đã đã tham
khảo những cơng trình nổi bật như: Cơng trình của tác giả Nguyễn Duy Hinh
được biên soạn thành sách có tên Tư tưởng Phật giáo Việt Nam được Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Duy Hinh đã
hệ thống hóa những tư liệu, nên những nhận xét chưa đầy đủ nhưng đó là cơ
sở, nền tảng cho những người bước đầu tìm hiểu Phật giáo ở Việt Nam.
Cuốn Phật Tử của Hịa thượng Thích Thiện Châu, Nxb. TP. Hồ Chí Minh ấn
hành năm 1998, quyển sách này trình bày dưới dạng hỏi – đáp về những nội
dung cơ bản của Phật tử khi tu theo đạo Phật, trong đó bao hàm cả những


5
triết lý cơ bản của Phật giáo về nhân sinh quan, triết lý sống giữa người với
người. Cuốn Phật giáo (trong 3 bài diễn thuyết) của Trần Trọng Kim, Nxb.
Đà Nẵng năm 2002 quyển sách này trình bày dưới dạng bài diễn thuyết của
các nhà sư nhằm giảng giải cho mọi người có nhu cầu hướng đạo và tìm hiểu
về đạo Phật cũng như cách giải thoát mọi khổ đau, phiền não. cuốn Nhật
hành của người tại gia tu Phật của Tỳ Khưu Hộ Tông, do nhà xuất bản Tôn
giáo ấn hành năm 2006, tác phẩm này đã khái quát những quy định của Phật
giáo Nam tôngđối với những người Khmer tu tại gia.
Bên cạnh đó, theo hướng nghiên cứu này cịn có các tác phẩm: Thích Mật
Thể (1944), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb. Minh Đức; Lịch sử Phật giáo
Việt Nam của Viện Triết học do Nguyễn Tài Thư và Minh Chi chủ biên
(1988), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật

giáo sử luận I – II – III, Nxb. Văn học, Hà Nội; Nguyễn Hùng Hậu (2002),
Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV,
NXb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Công Lý (2003), Văn học Phật giáo
thời Lý – Trần , diện mạo và đặc điểm, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí
Minh;… nhìn chung những cơng trình nghiên cứu trên đã bước đầu khái quát
nội dung tư tưởng, đặc điểm của Phật giáo Việt Nam với tư cách là một sản
phẩm tôn giáo được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng tâm linh của cư dân
bản địa có tiếp thu tơn giáo ngoại nhập. Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào
nghiên cứu sâu vào sự xâm nhập của Phật giáo Nam tông vào đời sống của
một dân tộc cụ thể tại Việt Nam hay một địa phương cụ thể. Kết quả của
công trình nghiên cứu trên giúp tác giả có những hiểu biết khát quát về Phật
giáo từ quá trình du nhập vào Việt Nam đến những triết lý cơ bản Phật giáo
nói chung từ đó có thể nghiên cứu sâu hơn về q trình du nhập Phật giáo
Nam Tơng vào trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer.
Trong cuốn Lịch sử nhà Phật của Đồn Trung Cịn, Nxb. Tơn giáo đã
kể lại xuất thân của Đức Phật, các đời truyền bá đạo Phật, các tông phái


6
trong đạo; bên cạnh đó, là những triết lý của Đạo thơng qua lời giảng của
Phật khi cịn tại thế; sự phát triển của Đạo Phật trong quá trình đạo được
truyền từ Ấn Độ đến các nước khác; ảnh hưởng sâu rộng và giá trị to lớn của
Đạo Phật trong đời sống của nhân loại từ khi ra đời cho đến nay. Mặt khác,
cịn có những bài viết đề cập đến vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo như
tại bài viết “Thực hiện chính sách tơn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội
XI của Đảng” của Ban Tơn giáo Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2020
trong đây đã đề cập đến vấn đề tôn giáo cũng như những chính sách mà
Đảng và Nhà nước đã thực hiện trong những năm qua. Chẳng hạn, tạo điều
kiện cho các tổ chức tôn giáo được in ấn kinh sách, sửa sang, làm mới cơ sở
thờ tự, hoạt động xã hội, từ thiện của các tổ chức này ngày càng nhiều và

được hưởng ứng mạnh mẽ. Các tổ chức giáo hội cũng như quan hệ của các
tôn giáo ngày càng được nâng cao và hoàn thiện hơn. Cùng các luận văn
Thạc sĩ về vấn đề tôn giáo và một số luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng
viết về Đảng lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo ở một số tỉnh, thành
trong cả nước. Những cơng trình trên đã đề cập đến vấn đề tôn giáo và công
tác tôn giáo ở Việt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau. Trên cơ sở đó tiến
hành phân tích những chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay.
Hướng thứ hai, là hướng nghiên cứu đạo đức của Phật giáo Nam tông
đối với đời sống của đồng bào Khmer. Về tình hình và ảnh hưởng của Phật
giáo Nam Tông hay về đạo đức của Phật giáo Nam Tông đối với đời sống
của đồng bào Khmer nói chung và đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh
nói riêng có khá ít cơng trình như cuốn Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng
bằng song Cửu Long của Huỳnh Thanh Giang, Nxb. Chính trị Quốc gia đã
trung nghiên cứu một số giá trị cơ bản của văn hóa Khmer thời gian qua,
thực trạng việc phát huy giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sơng Cửu
Long trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, đưa ra một số giải pháp nhằm phát


7
huy giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng song Cửu Long trong giai đoạn
hiện nay ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, vẫn cịn một số cơng trình nghiên
cứu về các giá trị đạo đức của Phật tử khi tu tại gia như thế nào điển hình như
cơng trình của Thích Nhật Từ (1994), Các nguyên tắc đạo đức của người Phật
tử tại gia, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, hay những ảnh hưởng của
Phật giáo trong đạo đức, lối sống của người Việt theo luận văn của Nguyễn
Thị Cẩm Chi (2011), Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đạo đức, lối sống của
người Việt ở tỉnh Long An hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Tp. Hồ Chí
Minh, cùng một số luận văn khác: Lê Nguyễn Lâm Thiên Lý (2013), Ảnh
hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đến đời sống tinh thần đồng bào

Khmer tỉnh Trà Vinh hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp Đại Học, Trường Đại học
Cần Thơ; Võ Thị Kim Xuân, Nhân sinh quan Phật giáo Nam Tơng và ảnh
hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người Khmer ở tỉnh Vĩnh Long
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Triết học, 2016 và cuốn Tôn giáo và lịch sử văn
minh nhân loại – Phật giáo Việt Nam và thế giới, Nxb.Văn hóa thơng tin, tạp
chí nghiên cứu tơn giáo, số 10, sau khi trình bày tổng quan về Phật giáo ở Việt
Nam từ sự du nhập đến sự hình thành, phát triển Phật giáo gắn liền các triều
đại dân tộc, từ trang 23 – 51 tác giả trình bày những ảnh hưởng Phật giáo
trong đời sống người Việt. Qua các tác phẩm trên đã giúp tác giả nhận thấy
rằng các tác phẩm này . Đó là ảnh hưởng về đạo lý, ảnh hưởng qua q trình
hội nhập văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng qua gốc độ nhân văn và xã hội; ảnh
hưởng qua loại hình nghệ thuật và sau cùng đi đến kết luận: “Thật vậy, đạo
Phật đã ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của người Việt Nam từ triết lý, tư tưởng,
đạo đức, văn học, nghệ thuật cho đến phong tục, tập qn, nếp sống, nếp
nghĩ”. Nhìn chung, các cơng trình khoa học trên đây đã bàn luận sâu sắc và rõ
nét về nhiều vấn đề về lịch sử ra đời, phát triển của Phật giáo Nam Tông và
ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến
chính trị trong cuộc sống văn hóa của cộng đồng người Khmer Nam Bộ.


8
Chính nhờ các cơng trình nghiên cứu trên cùng với nguồn tài liệu từ sách, báo,
và cùng với trung tâm thông tin trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
TP. Hồ Chí Minh là những nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy giúp tơi
hồn thành đề tài này.
Nhìn chung, việc nghiên cứu Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam
Tông đối với người Khmer ở vùng Nam Bộ nói riêng có khá nhiều và trải
qua một quá trình lâu dài. Tuy nhiên cịn nhiều khía cạnh chưa được lưu ý
như là vấn đề về đạo đức cùng những ảnh hưởng của nó và nhất là áp dụng
tại một địa phương cụ thể vẫn chưa có đề tài khoa học nào đi sâu nghiên cứu.

Vấn đề Phật giáo Nam Tông ở địa phương mới chỉ được đề cập, dừng lại như
là một nội dung trong các báo cáo tổng kết công tác tôn giáo hàng năm của
Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Tôn giáo và khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của
tỉnh Trà Vinh hay chỉ là nghiên cứu ở mức tổng quan toàn bộ tư tưởng của
Phật giáo Nam Tơng cùng với ảnh hưởng của nó như đề tài của sinh viên Lê
Nguyễn Lâm Thiên Lý nêu trên. Ở đề tài Đạo đức Phật giáo Nam Tơng và
ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay
này tác giả sẽ tham khảo trên những tài liệu sẵn có của các cơng trình, các
báo cáo trên xem đó như là những tư liệu quý báu, đồng thời sẽ kế thừa biện
chứng đúng mức đối với chúng nhằm đi sâu tìm hiểu và làm rõ về triết lý đạo
đức của Phật giáo Nam Tơng cũng như những ảnh hưởng của nó thấm nhuần
trong từng nét sinh hoạt của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn:
Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung, giá trị cốt lõi của đạo đức Phật
giáo Nam Tông và sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với đời
sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh
Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:


9
Một là, trình bày và phân tích những điều kiện, tiền đề của sự hình
thành và nội dung của đạo đức Phật giáo Nam Tơng.
Hai là, trình bày và phân tích ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam
Tơng đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
Ba là, một số giải pháp nhằm phát huy giá trị của hệ phái này đối với
đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu về vấn đề
đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người
Khmer.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Đạo đức Phật giáo Nam Tông có phạm vi rất rộng, luận văn khơng đề
cập hết. Trong khn khổ mục đích và nhiệm vụ của luận văn, vấn đề nghiên
cứu chỉ giới hạn ở nội dung căn bản như: triết lý nhân sinh, luật nhân quả ..
và giá trị cốt lõi của nó. Về khách thể, không gian và thời gian khảo cứu,
luận văn xác định là đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn:
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà
nước Việt Nam về tơn giáo và cơng tác tơn giáo. Ngồi ra, tác giả cịn kế
thừa có chọn lọc những cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các
tác giả đi trước.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.


10
Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
khoa học như: phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lơgic, phương pháp
phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, so sánh và đối
chiếu, v.v..
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc thêm nội dung, giá trị cốt lõi

của đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống
người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn vạch rõ những ảnh hưởng và từ đó đề ra những giải pháp
nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo
Nam Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho Đảng bộ, chính quyền ở Trà Vinh
đề ra chủ trương, chính sách và biện pháp trong q trình thực hiện chính
sách tơn giáo, dân tộc ở tỉnh Trà Vinh hiện nay hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng là tài liệu tham khảo
cho việc giảng dạy và học tập ở một số chuyên ngành như Triết học, Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Xã hội học…cũng như
làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,
Phần nội dung của luận văn có 2 chương, 5 tiết.


11
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO
VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG
1.1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO

1.1.1. Điều kiện ra đời của Phật giáo
Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời
của Phật giáo
Ấn Độ cổ đại là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng. Đất nước
này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ án ngữ kéo dài trên hai ngàn km ở

phía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mơng; vừa có sơng Ấn chảy
về phía Nam, lại có sơng Hằng chảy về phía Tây. Vì thế, đất nước Ấn Độ
bao gồm nhiều miền khí hậu khác biệt, từ những vùng đồng bằng trù phú
màu mỡ cho đến những vùng nóng ẩm mưa nhiều, vùng lạnh giá quanh năm
tuyết phủ, hay lại có những vùng sa mạc khơ cằn, nóng bức. Yếu tố địa lý đa
dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để hình thành sớm những tư tưởng
tôn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại.
Về kinh tế – xã hội, từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm
hữu nô lệ Ấn Độ đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người
Dravidian và Sumerian đã có nền văn minh khá cao. Đầu thế kỷ II TCN, một
nhánh người Aryan thâm nhập vào bán đảo Ấn Độ, dần dần chuyển sang định
cư và sống bằng nghề nơng. Diện tích ruộng đất canh tác trong nơng nghiệp
ngày càng tăng lên. Những miền lưu vực các con sông lớn như sông Ấn, sông
Hằng, sông Brahmapoutra… điều được khai khẩn thành những vùng kinh tế
phát đạt với các ngành trồng trọt, chăn ni trù phú, hình thành nên một tầng
lớp mới trong xã hội, đó là tầng lớp điền chủ. Đặc biệt, do sự phát triển của
sức sản xuất xã hội ở Ấn Độ thời kỳ này đã làm cho thủ công nghiệp tách hẳn


12
ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng. Những nghề thủ cơng phát đạt nhất lúc đó
là nghề dệt bơng đay và tơ lụa, nghề luyện sắt, nghề làm đồ gốm, đồ gỗ và
nghề chế biến hương dược liệu…Các ngành nghề này dần dần được chun
mơn hóa và phần lớn tập trung ở những khu trấn đô sầm uất. Nhiều trấn đô trở
thành trung tâm thủ công nghiệp, thương nghiệp quan trọng thời bấy giờ như
Bénerès, Sravasti (nay là Savathi), Ratjagraha (nay là Radjia), Pataliputra (nay
là Patna),.. Có thể thấy, Ấn Độ thời đó đã giao dịch bn bán khá rộng rãi với
các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả Rập, Trung Á và cả với các nước
vùng Đông Nam Á...Đây không chỉ là con đường giao lưu kinh tế thơng
thường mà sâu rộng hơn đó là con đường giao lưu, truyền bá văn hóa giữa Ấn

Độ với các nước khác.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế ở Ấn Độ thời cổ đại vẫn đang bị bóp
nghẹt bởi tính chất kiên cố của chế độ công xã nông thôn, vốn dựa trên mọi
liên hệ có tính gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công
nghiệp, làm cho mỗi làng xã trở thành một đơn vị bé nhỏ có tổ chức độc lập
và cuộc sống biệt lập với những hình thức tổ chức quản lý cơng xã theo
ngun tắc cổ truyền, thô sơ, chật hẹp, lạc hậu, làm cho nền kinh tế mang tính
tự nhiên, tự cấp tự túc, đời sống xã hội trở nên trì trệ, chậm chạp. Hơn nữa, xã
hội Ấn Độ cổ còn chịu sự chi phối nặng nề của chế độ phân biệt đẳng cấp hết
sức khắc nghiệt, ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương,
gắn liền với nó là sự bần cùng hố của người dân trong cơng xã, và quan hệ
giữa gia đình thân tộc được coi là quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân
chia thành các đẳng cấp. Mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều nằm trong tay giai
cấp quý tộc, tăng lữ. Các đẳng thấp thấp hèn khác như tiện dân, nô lệ và
những người ngoài lề đẳng cấp bị khinh miệt và đói khổ.
Nền kinh tế mang tính tự nhiên kết hợp với cách thức tổ chức kiểu công
xã nông thôn là điểm nổi bật về kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của nhiều
trường phái triết học ở Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng.


13
Thứ hai, điều kiện chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời
của Phật giáo
Về điều kiện chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời của
Phật giáo Nam tơng đó là chế độ nơ lệ và chế độ phân biệt đẳng cấp nặng nề.
Khoảng năm 2000 TCN, Ấn Độ thuộc về người Aryan là bộ lạc du mục có
ngơn ngữ thuộc nhóm Ấn – Âu xâm nhập. Người Aryan đến Ấn Độ định cư,
phát triển sản xuất nơng nghiệp, dùng trâu bị làm sức kéo. Họ tiến hành
nhiều cuộc chiến tranh chinh phạt, đàn áp người bản địa, gọi người bản địa là
“đa xa” (kẻ địch). Phần lớn dân bản địa bị người Aryan giết hại, một số bị

bắt làm nô lệ. Chế độ nô lệ được quy định một cách chi tiết, số phận của
người nô lệ phụ thuộc hồn tồn vào người chủ nơ, hồn tồn khơng có
quyền sở hữu, tự do nào, có thể bị trừng phạt, giết chết, đem bán như một
hàng hóa.... có thể nó chế độ nơ lệ hà khắc, xiềng xích trói buộc con người.
Đề khơng bị lai giống, pha tạp người Aryan đã xây dựng một chế độ
phân biệt đẳng cấp varna. Chế độ varna thể hiện sự phân biệt đẳng cấp bằng
những quy định chặt chẽ như phân biệt dựa vào màu da, chủng tộc, cấm kết
hôn khác chủng tính, phân biệt nghề nghiệp, phân biệt tơn giáo, phân biệt
giao tiếp (người đẳng cấp thấp không được tiếp xúc với đẳng cấp trên, giao
tiếp theo lễ nghi),.... chế độ varna làm cho quan hệ xã hội Ân Độ trở nên chặt
hẹp. Xã hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý
tộc, bình dân tự do và nơ lệ cung đình. Mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều nằm
trong tay giai cấp quý tộc, tăng lữ. Các đẳng thấp thấp hèn khác như tiện
dân, nơ lệ và những người ngồi lề đẳng cấp bị khinh miệt và đói khổ. Đặc
biệt, dưới thời các vua Gupta, để duy trì chế độ trung ương tập quyền, người
ta còn sưu tập những bộ pháp điển ở thời kỳ trước như bộ luật Manu, bộ
Thực lợi luận (Arthas’astra) đem dung hịa với chính sách đương thời, viết ra
các bộ sách chính trị, pháp luật làm tiêu chuẩn áp dụng cho tổ chức xã hội
hiện thời; thần thánh hóa ngơi vương chủ đến tột bật bằng mọi biện pháp như


14
tuyên truyền, giáo dục; ra các luật lệ, mệnh lệnh, tạo cho nhân dân một niềm
tin và lịng sùng kính tuyệt đối trước quyền uy linh thiêng tối cao của quốc
vương. Chẳng hạn, theo giải thích của bộ pháp điển Narada Bdhaspati còn
lưu lại cho đến ngày nay quy định: “Quốc vương ấy mới chính là vị thánh
sống trên thế gian. Lời nói và việc làm của quốc vương ấy là lời nói và việc
làm của thành nên tất cả đều là tuyệt đối và tối kính, kẻ làm dân chỉ có nhiệm
vụ thi hành, khơng suy luận, khơng được chống đối” (dẫn theo Dỗn Chính,
1999, ). Chính điều kiện chính trị - xã hội như vậy, đã hướng các trào lưu

triết học Ấn Độ đều tập trung vào vấn đề số phận con người, lý giải vì sao
con người khổ, tìm cách giải thốt con người. Cũng trên cơ sở phê phán chế
độ phân biệt đẳng cấp mà Phật giáo Nam tơng ra đời.
Thứ ba, điều kiện văn hóa, khoa học của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra
đời của Phật giáo
Cùng với sự biến đổi, phát triển về chính trị và kinh tế, thì văn hóa,
khoa học kỹ thuật Ấn Độ thời kỳ này cũng đạt được những tiến bộ đáng kể.
Về văn hóa – khoa học, Ấn Độ cổ đại có một nền triết học phát triển từ rất
sớm. Văn hoá Ấn Độ cổ – trung đại được chia làm ba giai đoạn. Khoảng
thế kỷ XXV-XV TCN gọi là nền văn minh sông Ấn, từ thế kỷ XV – VII
TCN gọi là nền văn minh Vêđa, đã cho ra đời bộ thánh kinh Vêđa và từ thế
kỷ VI – I TCN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn
gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và khơng chính thống. Thời
kỳ này, tiêu chuẩn của chính thống và khơng chính thống là có thừa nhận
uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn hay không. Thời kỳ VI-I TCN là thời
kỳ triết học Bàlamôn (1000-800 năm TCN) và Upanishad (800-600 năm
TCN). Trong Upanishad đã đề cập đến nhiều vấn đề có ý nghĩa triết học
thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể
(Atman), thuyết luân hồi, nghiệp nhân quả, vấn đề giải thốt... Những tư
tưởng đó đã đặt nền móng vững chắc để cho các trào lưu tư tưởng mới sau


15
này phát triển. Thế giới quan thần thoại, chủ nghĩa duy tâm trong thánh
kinh Vêđa, Upanishad và đạo Bàlamôn thống trị đời sống tinh thần của xã
hội Ấn Độ cổ đại. Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã đạt
được những thành tựu về khoa học tự nhiên như có kiến thức phong phú về
thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, đã biết quả đất xoay trịn và tự xoay quanh
trục của nó, phát minh ra số thập phân, chữa bệnh bằng thuật châm cứu,
bằng cây thuốc…

Về thiên văn, môn thiên văn được coi là một đứa con ngẫu nhiên của
môn chiêm tinh và đã thốt ra thành bộ mơn độc lập. Bộ sách Siddhanta
(khoảng năm 425TCN) được xem là bộ sách cổ nhất về thiên văn Ấn Độ. Về
thiên văn, nhà thiên văn và toán học lớn nhất của Ấn Độ thời kỳ cổ điển,
Aryabhata, đã đặt vè để giảng về các phương trình bậc hai,… Người nối tiếp
danh tiếng nhất của ông là Brahmagupta đã có cơng sắp xếp các tri thức về
thiên văn Ấn Độ thời đó thành một hệ thống. Các nhà thiên văn Ấn Độ
dương thời còn đặt ra một thứ lịch mỗi năm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày,
mỗi ngày 30 giờ, cứ 5 năm lại có một tháng nhuận. Họ tính được một các
chính xác lạ lùng – đối với tời đó – trực kính của mặt trăng, các ngày nhật
thực, nguyệt thực, vị trí và sự vận chuyển của các ngơi sao chính, họ đã tìm
ra được thuyết trọng lực. Trong bộ Siddhanta đã từng nói đến sự quan trọng
của trọng lực đối với Trái đất. Cho rằng do trọng lực của Trái đất đã hút hết
mọi vật, mọi thứ về phía Trái đất.
Về tốn học, hệ thống toán học của Ấn Độ rất phong phú thậm chí cao
hơn ở Ai Cập, Hy Lạp trừ thành tựu về hình học. Thể kỷ thứ VII các cơng
thức tính tốn cạnh và góc của tam giác đã có, phát minh ra chữ số thập phân,
số pi, phát minh ra số 0, số căn, lũy thừa. Đặc biệt những bài toán thường thể
hiện bằng các bài thơ dùng cho các chàng trai, cô gái. Về y học, Ấn Độ cũng
phát triển rất sớm, phát hiện ra các loại thảo mộc, biết trồng cây lấy thuốc. Từ
thế kỷ V TCN đã mở các trường dạy y khoa, biết chuẩn đoán bệnh, biết giải


16
phẫu, vô trùng, sử dụng thuốc mê.....Về kĩ thuật, người Ấn Độ cổ phát triển
nghề nhuộm, biết chưng cất rượu, làm thủy tinh, chế hương dược liệu. Văn
học nghệ thuật cũng phát triển nổi bật với hai bộ sử thi Ramayana và
Mahabharata phản ánh quan hệ đẳng cấp, quan hệ xã hội, phả ánh triết lý về
bổn phận, trách nhiệm tự nhiên của con người, triết lý nhân sinh ...
Như vậy, tất cả những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật lúc bấy giờ

thật sự là những nấc thang nhận thức quan trọng, góp phần đắc lực vào việc
giải thích và cải tạo thế giới phục vụ cho lợi ích của con người, cung cấp
những chất liệu để các trường phái tư tưởng khái quát thành thế giới quan,
phương pháp luận.
1.1.2. Tiền đề ra đời của Phật giáo
Bên cạnh chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện của kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội thì sự ra đời của Phật giáo cịn có hai tiền đề rất quan trọng là:
Thứ nhất, sự thống trị về mặt tư tưởng Triết học của Kinh Veda, kinh
Upanishad
Phật giáo được cho là trường phái tư tưởng khơng chính thống tại Ấn
Độ lúc bấy giờ. Triết lý Phật giáo dựa trên sự phủ nhận vị trí thống trị, uy thế
tối cao của các triết lý của kinh Veda, kinh Upanishad trong tư tưởng. Các
môn phái triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này đã phát triển thành những hệ
thống khá chặt chẽ. Chủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong kinh Veda, kinh
Upanishad và giáo lý đạo Bàlamôn đã trở thành hệ tư tưởng và tơn giáo
chính thống, thống trị trong đời sống xã hội Ấn Độ đương thời. Tuy nhiên,
trong thời kỳ này, do sự biến đổi của đời sống xã hội, đã xuất hiện những
trào lưu triết học mới với tinh thần tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội ở
vùng Đông Ấn. Đông Ấn là vùng đồng bằng sông Hằng với điều kiện địa lý,
tự nhiên, khí hậu điều hòa, đất đai trù phú, thuận lợi cho sự phát triển nông
nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, làm xuất hiện những giai tầng xã
hội mới, đó là giai cấp thương nhân, điền chủ, chủ xưởng đối lập với địa vị


17
và lợi ích của giai cấp quý tộc tăng lữ bảo thủ. Họ làm chủ về mặt kinh tế, do
đó, cũng làm chủ về mặt tinh thần, tư tưởng nên đã hình thành nên những
học thuyết mới đầy sức sống, đại diện cho tiếng nói của họ, dám đương đầu
với tư tưởng, giáo lý tơn giáo chính thống có tính kinh viện, được coi là tri
thức mặc khải trong kinh Veda và kinh Upanishad. Các trường phái triết học

tôn giáo có tính chất thế giới quan và chủ trương tín ngưỡng khác nhau lần
lượt xuất hiện, đặc biệt là tư tưởng triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo
và các môn phái triết học duy vật, vô thần tiến bộ mà kinh điển Phật giáo cổ
gọi là “Lục sư ngoại đạo” và phong trào “Hư vô chủ nghĩa”. Họ thốt khỏi
sự chi phối của tư tưởng và văn hóa cổ truyền, phê phán chế độ phân biệt
đẳng cấp xã hội. Họ thực sự là luồng gió mới trong đời sống tinh thần xã hội
Ấn Độ đương thời.
Thứ hai, gắn liền về thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca Mâu Ni
Theo các bộ kinh Phật giáo truyền lại và sử liệu, Thích Ca Mâu Ni_ơng
là một vương tử hoàng tộc Gautama (Cồ - Đàm) của tiểu quốc Shakya. Vào
thế kỷ thứ VI trước Cơng ngun, hồng hậu nước Catina, phía Nam Nepal
ngày nay, đã sinh hạ được một hoàng tử đặt tên là Gautama Siddhartha (Tất
Đạt Đa). Theo các kinh điển Phật giáo, ngay từ lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ
tướng tốt (Ba mươi hai tướng tốt). Tên được chọn là Siddhartha (Tất-ĐạtĐa) có nghĩa là "người thành đạt mọi nguyện vọng", là người thông minh,
hiếu học, có tri thức uyên thâm và cưỡi ngựa, bắn cung rất giỏi nhưng lại rất
đa sầu, giàu lòng thương cảm. Nhưng bản thân Siddhartha ln có những suy
nghĩ về sinh – lão – bệnh – tử và muốn tìm cách để giải thoát cho cuộc đời
của một người. Tuy nhiên, Siddhartha cũng đã đọc qua Kinh Veda, Bà la
môn... nhưng khơng thấy câu trả lời nên hồng tử nảy sinh ý định đi tu.
Chính vì vậy, vua cha của Siddhartha đã vội cưới vợ để ông từ bỏ ý
định xuất gia. Nhưng đến khi ơng 29 tuổi, đã có một người con trai, trong khi
cả nước đang ăn mừng thì Siddhartha rời bỏ hồng cung để tìm đến các nhà


18
hiền triết tìm hiểu về cội nguồn của lẽ sống nhưng vẫn khơng có kết quả.
Ơng tìm đến con đường tu hành bằng khổ hạnh: giảm thiểu tối đa việc ăn
uống, ăn ít từng giọt một… với mong muốn được giải thốt, nhưng khơng
thành cơng mà lại dẫn đến thể xác bị suy kiệt. Sau năm năm tu khổ hạnh
không đạt kết quả, ông từ bỏ cách tu này và quyết định ăn uống bình thường

trở lại và thường xuyên đến bờ sông để ngồi thiền định. Sau cùng, đến ngày
thứ 49, Siddhartha chọn một gốc cây cổ thụ ni – câu – đà (cách cây Bồ Đề
không xa ngồi xếp bằng về phía đơng, sau khi ăn xong bát cháo sữa được hai
chị em con ông trưởng làng Senani cung kính đặt trước mặt khi thấy
Siddhartha đang tĩnh tọa, tâm trạng ông phấn chấn và cảm thấy sắp đạt thành
tựu viên mãn. Sau khi Siddhartha để bát vàng trên dịng nước và nguyện nếu
được chứng quả thành Phật thì cái bát nổi trên mặt nước và trơi ngược dịng
song, cho đến khi bị xốy nước mạnh nhấn chìm rơi đúng nơi có 3 cái bát
vàng của 3 vị Phật đã đắc đạo trước đó thì Siddhartha quay về bờ đến gốc
cây Bồ Đề và nguyện nhập định không rời chỗ cho đến khi giác ngộ. Cuối
cùng ông đạt Diệt – Thọ - Tưởng định và hàng phục được ma vương
Siddhartha tiếp tục bắt đầu chứng đắc các đạo quả: Sinh tử luân hồi (tìm ra
các căn nguyên của mọi loại khổ của nhân loại: Chết thế nào? Tái sinh thế
nào? Nhân duyên nghiệp báo ra làm sao? Nhân – Quả và Luân – Hồi và cuối
cùng là tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền não đạt đến giác
ngộ hoàn toàn. Biết được đâu là khổ, đâu là hạnh phúc và căn nguyên của
khổ, của hạnh phúc,…). Theo tương truyền, ở tuổi 35 Siddhartha đã đạt tới
giác ngộ, trở thành Phật toàn giác, lịch sử đương thời gọi ơng là Đức Phật
(Buddha) Thích Ca Mâu Ni và tôn giáo của ông là Phật giáo.
Sau khi giác ngộ thành Phật, ông bắt đầu giảng pháp bằng kinh nghiệm
thành Phật của mình, ơng giảng Tứ diệu đế - Bát chính đạo – Vơ ngã – Vơ
thường,… và thuyết giảng ở nhiều nơi, nhiều vùng miền liên tục từ năm này
qua năm khác ở Ấn Độ với mong muốn ai cũng được giác ngộ, ai cũng có


19
thể thoát khỏi “Khổ”, thoát khỏi mọi dục vọng để có thể đạt tới sự viên mã
về tinh thần và linh hồn. Nên tín đồ của Siddhartha ngày càng đơng và nhân
dân Ấn Độ rất ngưỡng mộ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, mâu thuẫn
trong nội bộ cũng không ngừng xuất hiện. Để hạn chế những rạn nứt, Phật

giáo đã ban hành hàng loạt điều cấm kỵ. Theo kinh “Đại – bát – niết –
bàn”, vào mùa mưa năm 80 tuổi, Phật Thích Ca đã dự đốn trước rằng ông
sẽ nhập diệt sau 3 tháng nữa. Siddhartha đã triệu các đệ tử đến để nghe ơng
nói chuyện lần cuối cùng để sau này có thể thay ơng phổ độ chúng sinh.
Ông qua đời tại thành phố Câu – thi – na vào năm 544 trước Công
nguyên (một số nhà khảo cổ thì cho rằng đó là năm 486 hay 483
trước Công nguyên), địa điểm này được các nhà khảo cổ nhận dạng là
Kasia ở quận Deoria của xứ Utta Pradesh ngày nay. Sau 7 ngày, thi thể của
ông được hỏa táng, quốc vương 8 nước trong vùng yêu cầu chia xá lợi (tro
cốt) thành 9 phần và xây tháp để cúng. Đến thế kỷ thứ III trước Công
nguyên, triều đại Khổng Tước ở Ấn Độ (Maurya) lấy đạo Phật làm Quốc
giáo. Từ đó, đạo Phật được truyền bá rộng rãi sang các nước Đông Nam Á,
Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,… và trở thành một trong ba tôn giáo
lớn của thế giới.
1.1.3. Quá trình phát triển và sự phân phái của Phật giáo
Ra đời trên nền tảng phủ nhận những giáo lý, lễ nghi khắt khe của đạo
Bà la môn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt; mặt khác, lại kế
thừa những tư tưởng, những yếu tố tích cực của nó như đề cao lịng nhân ái,
từ bi, với mục đích tối cao là “giải thoát” con người khỏi bể khổ của cuộc
đời bằng sự tu luyện đạo đức, tu luyện trí tuệ, thiền định (giới, định, tuệ).
Nhờ đó, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của
đơng đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư
tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên trong q trình phát triển, Phật
giáo đã có sự phân thành nhiều bộ phái khác nhau.


20
Sau khi Đức Phật diệt độ, các môn đệ cũng như các tăng sỹ trong hàng
ngũ tăng già có quan điểm khác nhau về giáo lý và giới luật của Đức Phật,
thể hiện rõ ở hai quan điểm bảo thủ và cách tân. Đại đa số các tăng sỹ,

trong đó có Ca Diếp, đều theo quan điểm bảo thủ, chủ trương bảo vệ truyền
thống, giữ nguyên lời giảng của Đức Phật lúc còn tại thế. Trái lại, những
người theo quan điểm cách tân như A Nan lại cho rằng, tuỳ theo hồn cảnh
cụ thể, có thể thêm bớt vào những lời giảng, những giới luật của Đức Phật
cho phù hợp. Theo họ, khơng nên gị bó gượng ép lời dạy, giới luật vào
ngơn từ chữ nghĩa hẹp hịi, mà phải thấu hiểu ý nghĩa sâu xa những lời dạy
của Đức Phật để áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Vì thế, ngài
Đại Thiên chủ trương: Khi Phật cịn tại thế, chư Thiên và Tứ chúng nói ra,
đều phải được Phật ấn chứng, mới gọi là Kinh, nay Phật đã diệt độ, nếu
trong đại chúng có người thơng minh, có tài thuyết pháp, cũng có thể trước
tác được “Kinh Điển”.
Sự phân chia thành nhiều bộ phái của Phật giáo có nhiều nguyên nhân
nội bộ nảy sinh cũng như tác động bên ngoài. Tuy nhiên, xét cho cùng,
nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo, đó là
sự thay đổi cuộc sống hiện thực xã hội. Tư tưởng bao giờ cũng là là sự phản
ánh hiện thực xã hội. Khi thực tiễn xã hội thay đổi, tất yếu tư tưởng cũng
thay đổi cho phù hợp với hồn cảnh cụ thể. Đó là quy luật khách quan. Cuộc
sống xã hội Ấn Độ thay đổi, muốn tồn tại, Phật giáo cũng phải thay đổi để
thích nghi với hoàn cảnh trong từng giai đoạn cụ thể. Sự thay đổi thích nghi
ấy, một mặt, tạo ra sự phát triển và mặt khác, đã dẫn đến sự phân phái.
Quá trình phân phái của Phật giáo bắt đầu từ khi Phật tổ diệt độ, kéo
dài qua nhiều thế kỷ, thơng qua bốn cuộc kết tập lớn, đã hình thành nên các
bộ phái cơ bản sau:
Từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai vào 100 trăm năm sau khi đức
Phật diệt độ, Phật giáo phân chia thành hai bộ phái: Thượng tọa bộ và Đại


×