Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Đề bài phân tích các yếu tố cấu thành đảng cộng sản việt nam em hãy nêu nhận thức của mình về vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với cách mạng việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (349.31 KB, 17 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
--------***--------

BÀI TẬP LỚN
MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề bài: Phân tích các yếu tố cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Em hãy nêu nhận thức của mình về vai trị lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với Cách mạng Việt Nam hiện nay.

HỌ VÀ TÊN SV: NGUYỄN THU HẰNG
LỚP: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM_08
MÃ SV: 11191716
GVHD: TS NGUYỄN HỮU CÔNG

HÀ NỘI, THÁNG 2/2021


MỤC LỤC
I. Phân tích các yếu tố cấu thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam............................................3
1. Điều kiện lịch sử của Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX...................................................3
2. Yếu tố cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam...................................................................................6

II. Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam
hiện nay................................................................................................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................17

I. Phân tích các yếu tố cấu thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam

2



1. Điều kiện lịch sử của Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX
Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á,
Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp
trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát
lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1/9/1958,
thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thơn
tính Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong
kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Trước nguy cơ
ngoại xâm, triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp (Hiệp ước năm 1862, 1874,
1883) và đến năm 1884 với Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã đầu hàng hoàn toàn thực dân
Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị
giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.
Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt
Nam vẫn không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp
sự nổi dậy của nhân dân. Đồng thới với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với
các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây
dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong
kiến bản xứ làm tay sai. Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối
đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với
các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.
Với việc thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, Việt Nam từ một
nước độc lập, có chủ quyền, trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
Từ năm 1897, sau khi đàn áp phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân
Việt Nam, thực dân Pháp đã thiết lập được bộ máy cai trị, bắt đầu tiến hành khai
thác thuộc địa: cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác
thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam
nói riêng và Đơng Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hố ế thừa của
3



“chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của
người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khố nặng nề.
Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam
là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vơ cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ
chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa.
Về văn hoá – xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai
trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hố,
duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội
mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc thế hệ người Việt Nam, ra sức
tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”,…
Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nơ dịch về văn hố của thực
dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp
cũ phân hoá, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó
cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất
quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội. Chính sách cai trị và khai thác bóc lột
của thực dân Pháp đã làm phân hoá những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến
(địa chủ, nông dân) đồng thời tạo nên những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư
sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ chính trị khác nhau. Những mâu thuẫn mới
trong xã hội Việt Nam xuất hiện. Trong đó, mâu thuẫn giữa tồn thể dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu
nhất và ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, những luồng tư tưởng ở bên ngoài: tư tưởng Cách mạng tư
sản Pháp 1789, phong trào Duy tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy tân tại
Trung Quốc năm 1898, Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm 1911,…, đặc
biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển
biến phong trào yêu nước những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
4



Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp với tinh thần quật cường bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam
đã diễn ra liên tục, rộng khắp. Đến năm 1884, dù triều đình phong kiến nhà
Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng với nhân
dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp.
Đó là phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi
xướng (1885 – 1896). Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi
nghĩa Ba Đình (Thanh Hố), Bãi Sậy (Hưng n), Hương Khê (Hà Tĩnh),… diễn
ra sôi nổi, rộng khắp ba kỳ và thể hiện tinh thần quật cường chống ngoại xâm của
các tầng lớp nhân dân. Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc đó khơng cịn là ngọn cờ
tiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi, toàn thể các tầng lớp nhân dân, khơng có
khả năng liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nữa. Cuộc khởi nghĩa
của Phan Đình Phùng thất bại (1896) cũng là mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của
giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam.
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở vùng miền núi và trung du
phía Bắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) dưới sự lãnh đạo của vị thủ
lĩnh nơng dân Hồng Hoa Thám, nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập
căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp. Nhưng phong trào của
Hoàng Hoa Thám vẫn mang nặng “cốt cách phong kiến”, khơng có khả năng mở
rộng hợp tác và thống nhất tạo thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuối
cùng cũng bị thực dân Pháp đàn áp.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh
hưởng, tác động của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của
Phan Bội Châu, xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào
tiểu tư sản trí thức của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927 – 2/1930) đã
tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công. Sự
thất bại của khởi nghĩa Yên Bái của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng đã thể hiện
là “… một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn
5



khơng bao giờ ngóc đầu lên nổi. Khẩu hiệu “khơng thành cơng thì thành nhân”
biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng
biểu lộ tính chất khơng vững chắc, non yếu của phong trào tư sản.”
Như vậy, rõ ràng là vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tiếp tục
truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào
chống thực dân Pháp theo ngọn cờ phong kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân
dân Việt Nam đã diễn ra quyết liệt, liên tục và rộng khắp. Dù với nhiều các thức
tiến hành khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu đánh đổ chế độ thuộc địa, giành
độc lập cho dân tộc. Tuy nhiên, “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần
Vương đến lập trừng tư sản, tiểu tư sản qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất
bại”. Nguyên nhân thất bại của các phong trào đó là do thiếu đường lối chính trị
đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội, chưa
có một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc, chưa xác
định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù.
Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cho đến những năm 20 của thế kỷ XX
đều thất bại, nhưng đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân,
bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những
nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới,
một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại. Nhiệm vụ lịch
sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đường thời là cần phải có một tổ chức cách
mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
2. Yếu tố cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và của phong trào công nhân
châu Âu, Lê-nin nêu lên hai yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản, đó là sự kết
hợp chủ nghĩa Mác Lê-nin và phong trào cơng nhân. Cịn khi đề cập đến sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam, bên cạnh hai yếu tố đó phải kể đến yếu tố thứ ba, đó
là phong trào yêu nước. Đây là một luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về sự
6



hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 không phải là một hiện
tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự tác động, vận động và phát triển tất yếu,
chín muồi của cả ba nhân tố kết hợp. Chủ nghĩa Mác Lê-nin trang bị lý luận, chỉ ra
mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, phương pháp khoa học, soi đường dẫn lối cho giai
cấp vô sản và quần chúng lao động tiến hành đấu tranh cách mạng xoá bỏ chế độ
xã hội cũ, chế độ người áp bức bóc lột người và xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội
chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác Lê-nin còn chỉ ra rằng trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, giai cấp
công nhân cần phải lập ra Đảng vô sản của mình, Đảng đó phải là bộ tham mưu,
đội tiên phong của giai cấp cơng nhân, trung thành với lợi ích của giai cấp cơng
nhân và dân tộc. Đảng đó phải là Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Chủ
nghĩa Mác Lê-nin được truyền bá, thâm nhập vào Việt Nam trở thành nhân tố quan
trọng dẫn tới sự ra đời của Đảng.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho
dân tộc Việt Nam: cứu nước theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê-nin.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Người đã tích cực hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác
Lê-nin vào Việt Nam. Nhờ những đóng góp thiết thực của Người như xuất bản báo
chí, viết bài, báo cáo tham luận,… và đặc biệt là hai tác phẩm nổi tiếng Bản án chế
độ thực dân Pháp và Đường Kách mệnh, những tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin đã ngày càng được thâm nhập rộng rãi vào Việt Nam. Thông qua việc sáng lập
tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và các hoạt động của nó, Nguyễn Ái
Quốc đã thực hiện được việc truyền bá và giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin cho quần
chúng lao động và giai cấp công nhân Việt Nam.
Nhờ có chủ nghĩa Mác Lê-nin mà phong trào cơng nhân đã chuyển từ tự phát
sang tự giác. Hồn cảnh, đặc điểm ra đời và quá trình phát triển của giai cấp công
nhân Việt Nam dẫn đến giai cấp đó sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập,
7



thống nhất, tự giác trong cả nước, trên cơ sở đó nhanh chóng vươn lên nắm quyền
lãnh đạo cách mạng nước ta. Sự lớn mạnh của phong trào công nhân địi hỏi phải
có một chính Đảng duy nhất và thống nhất lãnh đạo. Đảng đó phải theo chủ nghĩa
Mác Lê-nin, phải có đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật
nghiêm minh, liên hệ mật thiết với quần chúng và trưởng thành dần trong quá trình
đấu tranh cách mạng. Vì thế, phong trào cơng nhân là điều kiện cơ bản, quyết định
dẫn tới sự ra đời của Đảng.
Đầu thế kỉ XX, giai cấp công nhân Việt Nam đã được hình thành và bước vào
trận tuyến đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất,
phong trào công nhân chưa trở thành lực lượng riêng biệt, cịn hồ lẫn vào phong
trào dân tộc. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1925, giai cấp công
nhân được tăng cường về số lượng và chất lượng, phong trào công nhân đã trưởng
thành, xuất hiện những cuộc bãi cơng lớn địi các quyền lợi về kinh tế, chính trị, trở
thành lực lượng riêng biệt và bước đầu xuất hiện những tổ chức sơ khai. Tuy nhiên
phong trào cơng nhân Việt Nam thời kỳ này cịn ở mức độ thấp, phụ thuộc vào
phong trào yêu nước nói chung, mang tính chất tự phát, chưa tỏ rõ được sức mạnh
của một lực lượng chính trị độc lập, chưa có ý thức rõ rệt về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp mình. Cuộc bãi cơng Ba Son kết thúc thắng lợi đánh dấu một bước tiến
mới của phong trào công nhân Việt Nam: không chỉ nhằm vào mục tiêu đấu tranh
kinh tế mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích chính trị, thể hiện tình đồn kết
giai cấp, đồn kết quốc tế của cơng nhân Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, cuộc
bãi cơng Ba Son là một mốc son rất quan trọng trong phong trào công nhân - giai
đoạn công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và có mục đích
chính trị rõ ràng.
Từ năm 1925 trở đi, phong trào công nhân Việt Nam có nhiều tác động mới.
Đó là phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc, tiêu biểu là cuộc khởi
nghĩa Quảng Châu (1927) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam. Ảnh
hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) vang dội tới Việt Nam ngày một
8



nhiều hơn. Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (7/1924) đã ra những nghị
quyết quan trọng về vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc ở  các nước thuộc địa.
Những sự kiện trên trường quốc tế ấy đã giúp cho nhân dân ta nhận thấy rõ hơn
bản chất của giai cấp tư sản, yêu cầu cấp thiết sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa như
Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thông qua những hoạt động của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều người Việt Nam yêu nước khác, các sách báo cách
mạng đã được truyền bá vào nước ta. Nhờ đó, giai cấp cơng nhân Việt Nam bước
đầu biết tới Cách mạng tháng Mười Nga, biết đến chủ nghĩa Mác Lê-nin, trên cơ
sở đó dần dần tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa cộng sản để từng bước thấm sâu hơn
vào tinh thần giác ngộ lý tưởng và đã bắt đầu biến thành hành động cách mạng.
Trước sự chuyển biến mạnh mẽ trong các phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân, các tầng lớp nhân dân ngày càng lên cao, Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên không còn đủ sức lãnh đạo. Yêu cầu phải thành lập một chính đảng
cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng tồn dân tộc, đảm nhiệm vai trị lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc đang trở nên bức thiết đối với cách
mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Từ đó, dẫn tới sự tan rã của các tổ chức Thanh niên và
Tân Việt, xuất hiện ba tổ chức cộng sản “Đông Dương Cộng sản
Đảng”(17/06/1929), “An Nam Cộng sản Đảng” (11/1929), “Đơng Dương Cộng
sản Liên đồn” (01/01/1930). Sự thống nhất ba tổ chức cộng sản được đặt ra thành
một yêu cầu cấp bách của cách mạng nước ta; đồng thời đánh dấu bước trưởng
thành và chín muồi của một chính Đảng vơ sản duy nhất. Như vậy, phong trào
công nhân ngày một trưởng thành, đi từ tự phát đến tự giác là một trong những
điều kiện tất yếu dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác Lê-nin và phong trào công nhân mới chỉ là điều
kiện cần cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuất phát từ hoàn cảnh thực
tế của nước ta giai đoạn đó, Hồ Chí Minh nhận đinh phong trào yêu nước là điều
kiện đủ để Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Chủ nghĩa yêu nước được hình thành
9



từ rất sớm trong lịch sử dân tộc và được thử thách qua hàng ngàn năm lịch sử:
“Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại
đến hiện đại.”
Ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì phong
trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc đã
bắt đầu. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa, phong
trào đấu tranh với mục tiêu giành lại nền độc lập dân tộc. Tuy nhiên, các phong
trào đó cũng khơng đi đến thành cơng. Ngun nhân cơ bản là do các phong trào
khơng tìm được đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc và con đường phát triển
đúng đắn, chưa phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Mà điều
cốt lõi nhất là các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX chưa tìm được và chưa có
khả năng tập hợp lực lượng đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Phong trào
nông dân không giải quyết được mâu thuẫn giữa địa chủ, phong kiến và nông dân,
nhân dân lao động nói chung. Phong trào yêu nước muốn phát triển đất nước theo
chiều hướng tư sản và tiểu tư sản không giải quyết được mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân đang phát triển ngày càng mạnh với giai cấp tư sản mà chủ yếu là tư sản
Pháp. Do đó, cũng không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp, không tranh thủ được sức mạnh của phong trào cách mạng
thế giới đang dâng lên mạnh mẽ.
Trong đêm trường tăm tối đó Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của
Đảng là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người bổ sung yếu tố phong trào yêu
nước, coi nó là một trong ba yếu tố kết hợp dẫn đến việc hình thành Đảng Cộng
sản Việt Nam bởi vì những nguyên nhân sau. Thứ nhất, phong trào yêu nước có vị
trí, vai trị cực kỳ to lớn trong q trình phát triển của dân tộc Việt Nam, là nét văn
hoá trường tồn trong nền văn hoá Việt Nam. Thứ hai, phong trào yêu nước kết hợp
được với phong trào cơng nhân bởi vì hai phong trào đó đều có mục tiêu chung là
giải phóng dân tộc, làm cho Việt Nam được hoàn toàn độc lập, xây dựng đất nước

10


hùng cường. Hơn nữa, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân, phong
trào công nhân xét về nghĩa nào đó lại là phong trào yêu nước. Thứ ba, phong trào
nông dân kết hợp với phong trào công nhân. Nói đến phong trào yêu nước Việt
Nam phải kể đến phong trào nơng dân. Do đó, giữa phong trào cơng nhân và phong
trào yêu nước có mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau. Thứ tư, phong trào
yêu nước của tri thức Việt là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu
tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tri thức là người nuôi dưỡng, bảo
vệ, truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những
trung gian trong quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của nhân
loại. Trong quá trình cách mạng, tri thức chiếm một số lượng không nhiều nhưng
lại là “ngòi nổ” cho các phong trào yêu nước bùng lên chống thực dân Pháp xâm
lược và bọn tay sai. Họ ln là người hiểu biết rộng, có uy tín trong xã hội, là
những người tiếp thu những tư tưởng tiến bộ và truyền đạt tới tầng lớp công nhân
và nhân dân lao động. Chính vì vậy, sự xuất hiện của nhân tố phong trào yêu nước
trong sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam như một điều hiển nhiên, tất yếu. Nó
nhân lên sức mạnh của Đảng, tạo chỗ dựa vững chắc cho Đảng, cho giai cấp công
nhân Việt Nam.
II. Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách
mạng Việt Nam hiện nay
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trị vơ cùng quan trọng trong việc làm nên
sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản như kim chỉ nam, dẫn lối,
soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng khơng chỉ là lãnh tụ chính trị, đội tiên
phong và đại biểu cho lợi ích của giai cấp, của dân tộc mà cịn là lãnh tụ chính trị,
đội tiên phong và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam. Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân. Người khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc khơng có con

11


đường nào khác - con đường cách mạng vô sản”. Để thực hiện được mục tiêu đó,
Người chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, bên trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngồi thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở
mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành cơng, cũng như người cầm lái có
vững thì thuyền mới chạy”. Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trị lãnh đạo nhân
dân cùng một lúc phải làm tư sản cách mạng, làm dân tộc cách mạng và làm giai
cấp cách mạng. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của cách mạng vô sản ở Việt Nam do
Đảng Cộng sản lãnh đạo và cũng là một đặc điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng
đối với giai cấp, dân tộc và xã hội Việt Nam.
Vai trò lãnh đạo của Đảng ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu
gọi của Đảng khi Đảng mới thành lập, đó là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; “Đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “Làm cho nước Việt Nam được độc lập;... giải
phóng cơng nhân và nơng dân thốt khỏi ách tư bản; mở mang cơng nghiệp và
nơng nghiệp;... đem lại mọi quyền lợi tự do cho nhân dân”.
Suốt 90 năm qua, Đảng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến,
lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới
trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi
thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc ta đã nghe theo lời kêu gọi
của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc và đã
giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược; lập lại hồ bình ở miền
Bắc Việt Nam. Trong hồn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, Đảng ta
đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi đế

quốc Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam (năm 1965), tiến hành chiến tranh cục
12


bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược
ra miền Bắc (năm 1964), Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước đánh cho Mỹ cút
(năm 1973), đánh cho ngụy nhào, giải phóng hồn tồn miền Nam, thống nhất đất
nước (ngày 30/4/1975), đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi vĩ đại
của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) do Đảng Cộng
sản Việt Nam Lãnh đạo, dân tộc Việt Nam trở thành một trong những dân tộc đầu
tiên làm cách mạng giải phóng dân tộc thành công ở một nước thuộc địa và lệ
thuộc, một trong những dân tộc đầu tiên đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và chủ
nghĩa thực dân mới, mở đầu phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và
châu Mỹ La-tinh.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, đất
nước Việt Nam thống nhất, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đất nước gặp
nhiều khó khăn về kinh tế, đời sống nhân dân còn thiếu thốn, Đảng đã chủ động
khởi xướng và lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới đất nước. Những thành tựu
to lớn sau hơn 30 năm đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội,
quốc phịng - an ninh, quan hệ quốc tế... đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo
trong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ một đất nước bị tàn phá
nặng nề bởi nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, bị các thế lực
thù địch chống phá, bị bao vây, cấm vận kinh tế, lại phải chịu nhiều tổn thất do
thiên tai khắc nghiệt gây ra, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh
tế - xã hội, đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động không ngừng được cải
thiện, chính trị ổn định, lịng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng được củng
cố, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Với những thành tựu to
lớn của công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam trở thành một trong những nước xã

hội chủ nghĩa đầu tiên tiến hành đổi mới thành công theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhân dân, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam 13


người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Từ thắng lợi của công cuộc
đổi mới đất nước, có thể khẳng định rằng: đường lối lãnh đạo của Đảng, tư tưởng
Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng suốt và luôn được các tầng lớp nhân dân ủng hộ,
tin tưởng. Đảng có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam
không chỉ giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến giành và giữ chính quyền, giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mà cả trong xây dựng và phát triển kinh tế,
xây dựng đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.”
Cách mạng Việt Nam hiện nay đã chuyển sang giai đoạn mới. Những mục
tiêu cơ bản của cách mạng do Đảng xác định từ những năm 30 của thế kỷ XX đến
nay đang được thực hiện. Đất nước đã được độc lập, nhân dân được tự do. Tuy
nhiên, đời sống của nhân dân lao động vẫn cịn nhiều khó khăn, kinh tế đất nước
vẫn chưa phát triển mạnh. Đảng ta chỉ rõ “nguy cơ “diễn biến hồ bình” của các
thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta, tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị,
đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ
phận cán bộ, đảng viên,... sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Các thế lực thù địch, cơ hội
thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hịa bình” chống phá cách mạng Việt Nam
đã thực hiện nhiều hoạt động thâm độc nhằm gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên
trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta. Trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết
xun tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật, kích động, lôi kéo những người bất mãn với
chế độ, bôi nhọ, nói xấu Đảng và Nhà nước... gây ra sự bất ổn về chính trị ở một số
nơi, gây hồi nghi về vai trò, khả năng lãnh đạo của Đảng, nhằm từng bước làm
mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng với mưu đồ tiến đến xóa
bỏ vai trị lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với giai cấp, dân tộc và xã hội
Hiện nay, chúng ta càng thấy rõ sự lãnh đạo và đường lối của Đảng là cần

thiết và đúng đắn. Trong bối cảnh tình hình dịch COVID-19 hiện đang diễn biến
vơ cùng phức tạp và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quốc gia trên thế giới,
14


bản thân em thực sự phải ghi nhận và đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả
của Đảng, Nhà nước, vừa thực hiện phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế và
bảo đảm đời sống nhân dân. Trong khi nhiều quốc gia kinh tế tăng trưởng âm, Việt
Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng dương, kinh tế vĩ mô ổn định, an sinh xã
hội được bảo đảm.
Khi dịch COVID-19 bùng phát trở lại thời gian gần đây với ổ dịch đầu tiện tại
Hải Dương, với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước cùng kinh nghiệm chống
dịch và quyết tâm rất cao của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã kịp thời ngăn chặn,
kiểm sốt được phần nào dịch bệnh. Đảng, Nhà nước ta trong lúc điều kiện hết sức
khó khăn những vẫn có các giải pháp bảo hộ cơng dân, hỗ trợ, đón đồng bào ở
nước ngồi về nước.
Vì vậy, một câu hỏi đặt ra là có hay khơng vai trị lãnh đạo của Đảng Cộng
sản đối với giai cấp và xã hội. Câu hỏi này chỉ có người dân Việt Nam mới có câu
trả lời chính xác. Chính nhân dân, là bản thân em nói riêng và người dân Việt Nam
nói chung, chứ không phải bất kỳ ai khác mới là người đánh giá chính xác nhất vai
trị, uy tín của Đảng, là người có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn sự lãnh
đạo đối với cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Những kẻ bán
nước cầu vinh, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thì khơng đủ tư cách
để có tiếng nói trong vấn đề này. Đảng ta đã là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Cho dù thời cuộc có thay đổi phức tạp, khó khăn, nhưng người dân Việt Nam
vẫn một lòng theo Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã
hội ngày càng được khẳng định.
Sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Vì vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là
vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã hội là vấn
đề chiến lược có tính ngun tắc đã và đang đặt ra những u cầu mới và tồn
diện, song bên cạnh đó cũng cịn nhiều khó khăn, thách thức. Với bản lĩnh đã được
15


tôi luyện trong thực tiễn cách mạng, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua và làm tốt sứ
mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá
cách mạng của các thế lực thù địch nhằm làm mất uy tín, danh dự, phủ nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp và xã hội chắc chắn sẽ bị
vạch trần và thất bại. Bởi vậy, Đảng cần kế thừa và phát huy những bài học kinh
nghiệm trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Trong q trình lãnh đạo, khơng ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực
cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và các lực lượng vũ
trang nhân dân Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới.
Bản thân em, với tư cách là một sinh viên, sẽ luôn cố gắng phấn đấu, đẩy
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để có thể
đóng góp được cơng sức của mình vào cơng cuộc xây dựng đất nước vững mạnh.
Khi được học bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thì em cũng như các bạn
sinh viên khác, đã nhận thức rất rõ về sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam hiện nay. Cho dù cuộc sống đang
diễn ra hồ bình, nhưng vẫn ln có những thế lực ngầm thù địch với Đảng và Nhà
nước. Vì thế mà chúng em ln phải nâng cao cảnh giác để tránh bị dụ dỗ, lôi kéo
vào những hành vi xấu, xuyên tạc gây tổn hại đến Đảng và Nhà nước ta.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc Đại học – không

chuyên lý luận chính trị) – Bộ Giáo dục và Đào tạo
2. Sự ra đời và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân
tộc và xã hội:
/>3. Vai trò của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống dịch COVID-19 và phát triển
kinh tế:
/>4. Yếu tố phong trào yêu nước trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam:
/>5. Quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân việt Nam từ tự phát đến từ giác
(1919-1930):
/>6. Sự kết hợp 3 yếu tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam:
/>
17



×