Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

BÌNH LUẬN VIỆC ĐÀO TẠO LUẬT Ở PHÁP, ĐỨC VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CÓ THỂ ỨNG DỤNG VÀ TIẾP THU VÀO VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.08 KB, 12 trang )

ĐẠI HỌC KHOA HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN
BÌNH LUẬN VIỆC ĐÀO TẠO LUẬT Ở PHÁP, ĐỨC VÀ NHỮNG KINH
NGHIỆM CÓ THỂ ỨNG DỤNG VÀ TIẾP THU VÀO VIỆT NAM
Họ và Tên: Dương Đức Huân
Lớp: Luật B-K15
Mã sinh viên: DTZ1752380101138

***Thái

Nguyên, tháng 07 năm 2021***


MỤC LỤC
PHẦN I. HÌNH THỨC ĐÀO TẠO LUẬT TẠI PHÁP VÀ ĐỨC
1.

Hình thức đào tạo luật tại Pháp

2. Hình thức đào tạo luật tại Việt Nam
PHẦN II ƯU, NHƯỢC ĐIỂM HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TẠI PHÁP VÀ ĐỨC
1. Ưu, nhược điểm của hình thức đào tạo luật tại Pháp
2. Ưu nhược điểm của hình thức đào tạo luật tại Đức
PHẦN III. KINH NGHIỆM CÓ THỂ TIẾP THU VÀ ỨNG DỤNG VÀO
VIỆT NAM


LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thế giới có 204 quốc gia, ở mỗi quốc đều có hệ thống pháp luật


riêng biệt, bao gồm những chế định điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội. Từ
những nét riêng biệt trong hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia dẫn đến cũng có sự
khác nhau trong hoạt động đào tạo luật, do hoạt động đào tạo luật chủ yếu tập trung
vào việc tìm hiểu về lịch sử lập pháp, những nguyên tắc của pháp luật, những quy
định và chế tài cụ thể của quốc gia đó. Đặc biệt tại các quốc gia có truyền thống lập
pháp thì cũng có truyền thống đào tạo luật rất riêng. Trong đó ta phải kể đến hai
quốc gia có truyền thống lập pháp lâu đời và đại diện cho hệ thông pháp luật civil
law là Pháp và Đức. Bên cạnh có nhiều điểm tương đồng trong hệ thống pháp luật,
hai quốc gia này vẫn có rất nhiều điểm khác biệt đặc biệt trong hoạt động đào tạo
luật.
Hệ thống pháp luật của Đức và Pháp chịu ảnh hưởng khá sâu rộng của pháp luật
La Mã. Các bộ luật lớn như Bộ luật dân sự Napo leon năm 1804 của Pháp, Bộ luật
dân sự Đức năm 1896 đều được hình thành trên cơ sở của việc kết hợp giữa tập
quán địa phương và luật La Mã. Trải qua quá trình phát triển cộng thêm với việc du
nhập, tác động qua lại của các hệ thống pháp luật không thành văn thuộc dòng họ
pháp luật common law đã khiến cho hệ thống pháp luật của hai quốc gia Pháp và
Đức nói riêng và cả dịng họ pháp luật civil law nói chung mang tính hồn thiện
tương đối cao. Chính vì sự phát triển khá sớm của luật pháp thành văn nên ở Đức
và Pháp, việc đào tạo luật và nghề luật đã bắt đầu từ khá sớm và ngày càng có xu
hướng phát triển rộng. Ngay từ thế kỉ XI khi ở Châu Âu bắt đầu xuất hiện xu
hướng giảng dạy pháp luật trong các trường đại học tổng hợp, trong đó trường đại
học tổng hợp Bologna của Ý được biết đến như một cái nôi của giảng dạy luật đầu
tiên trên tồn Châu Âu lục địa và đó là nơi quy tụ các giảng viên và học viên ở
khắp Châu Âu, trong đó có các học viên của Pháp và Đức. Thừa hưởng kiến thức
pháp luật cũng như các phương pháp áp dụng trong giảng dạy, những luật gia được
đào tạo ở Bologna là những người đã đặt nền móng cho truyền thống pháp luật ở
quốc gia của họ. Tại Pháp và Đức, tuy cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống
pháp luật La Mã, nhưng cho tới hiện nay, thì tùy thuộc vào điều kiện thực tế và thế
mạnh của mỗi quốc gia mà có quy trình đào tạo luật phù hợp với quốc gia mình.
Điểm chung về quá trình đào tạo Luật tại Pháp và Đức đó là sinh viên để có thể

hành nghề luật trong các lĩnh vực khác nhau thì đều phải hồn thành hai giai đoạn
đào tạo


PHẦN I: HÌNH THỨC ĐÀO TẠO LUẬT TẠI PHÁP VÀ ĐỨC
1.

Đào tạo luật tại Pháp
1.1 Giới thiệu chung về đào tạo luật tại Pháp

Pháp là quốc gia có nền dân chủ lâu đời, một nền kinh tế thị trường phát triển,
một hệ thống pháp luật khá hoàn thiện. Nghề luật và đào tạo luật ở Pháp vì thế
cũng phát triển. Hiện nay, tại Pháp có khoảng hơn 50 trường Đại học cơng lập có
giảng dạy và đào tạo luật, chưa kể các viện nghiên cứu của nhà nước và các trường
tư (ví dụ, hệ thống Trường thương mại – Ecole de commerce) cũng có các chương
trình đào tạo luật.
Từ năm 1999, trong khn khổ tiến trình nhất thể hóa theo quy chuẩn châu
Âu về đào tạo đại học, Pháp thay đổi theo mơ hình đào tạo đại học 3 năm (Mơ
hình: LMD: Đại học 3 năm, Cao học 2 năm và Tiến sĩ 3 năm). Trước đây, chương
trình đạo tạo đại học kéo dài trong 4 năm (mtrise) và cao học 1 năm. Cao học
chia làm hai loại: Cao học theo định hướng ứng dụng (Master 2 Professionnel) và
Cao học theo định hướng nghiên cứu (Master 2 Recherche). Chương trình ứng
dụng được thiết kế hướng trực tiếp tới một nghề nghiệp cụ thể, ngồi chương trình
học là một khóa thực tập kéo dài khoảng 6 tháng, còn Cao học theo định hướng
nghiên cứu nhằm chuẩn bị cho người học theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu và giảng
dạy sau này, cụ thể là thông qua việc làm luận án tiến sĩ (Doctorat). Luận án tiến sĩ
theo quy định được chuẩn bị trong 3 năm, nhưng đối với ngành luật thì rất ít người
hoàn thành luận án trong 3 năm mà thường kéo dài hơn.
Giống như tại Việt Nam, đào tạo luật ở Pháp bắt đầu từ việc trở thành sinh
viên của khoa Luật thuộc các trường Đại học (ở Pháp, không có các trường chuyên

về luật, mà khoa Luật thường nằm trong các trường Đại học tổng hợp đa ngành,
giống như các quốc gia phương Tây khác. Tuyển sinh đầu vào ngành luật của Pháp
được thực hiện theo hình thức ghi danh, tức là chỉ cần có bằng tú tài (baccalauréat)
là có thể ghi danh vào một cơ sở đào tạo luật (có ngoại lệ cho một số trường đặc
biệt như Học viện khoa học chính trị, Trường Thương mai… người dự tuyển phải
trải qua chương trình dự bị 2 năm với kết quả cao). Vì tuyển sinh theo hình thức
ghi danh nên tỉ lệ sinh viên không học qua năm thứ nhất ở các khoa luật khá cao:
Khoảng 40% đến 50%. Các học lên cao thì số lương sinh viên đầu ra càng giảm
dần.
Chương trình đào tạo luật ở bậc đại học ở Pháp kết hợp hài hòa giữa lý luận
hàn lâm và thực tiễn: Theo đó, sinh viên dành thời lượng khoảng 70% theo học các
bài giảng của các giáo sư tại giảng đường lớn (cours magistraux), và 30% thời


lượng để theo học các lớp bài tập lớn (travaux dirigés - lớp học ít người và thường
do các nghiên cứu sinh hoặc giảng viên trẻ đảm nhiệm).
Bên cạnh việc học lên bậc sau đại học (Cao học, tiến sĩ), thì sau khi có bằng
đại học chun ngành luật, người học có thể tiếp tục theo học các trường đào tạo
nghề. Có thể kể ra các trường đào tạo nghề cơ bản sau: Trung Tâm đào tạo nghề
luật sư vùng (Centres Régionaux de formation professionnelle des avocatsCRFPA), Trung tâm đào tạo nghề công chứng vùng (Centres Régionaux de
formation professionnelle notarial-CRFPN); Trường thẩm phán quốc gia Bordeaux
(Ecole Nationale de la Magistrature-ENM).
1.2. Các trường đào tạo nghề luật
Nghề luật sư: ở Pháp để hành nghề luật sư, trước hết phải có bằng cử nhân
luật (mtrise en droit), phải thi đầu vào và hồn thành khóa học 18 tháng tại Trung
tâm đào tạo nghiệp vụ (Centres Régionaux de formation professionnelle des
avocats-CRFPA) được tổ chức ở từng vùng. Nếu có bằng tiến sĩ thì được miễn kỳ
thi khó khăn này. Chương trình học do ủy ban quản lý Trung tâm khu vực quy định
với sự nhất trí của hội đồng quốc gia luật sư và báo cáo với bộ Tư pháp. Nội dung
chương trình chủ yếu là nghiên cứu điều lệ và đạo đức luật sư, thảo các văn bản,

thực hành các thủ tục tố tụng… Bên cạnh đó, các luật gia phải trải qua 2 năm tập
sự dưới sự hướng dẫn của luật sư thực hành. Sau thời gian tập sự, nếu có nhận xét
tốt của luật sư hướng dẫn tập sự, người thực tập sẽ nhận được giấy chứng nhận hết
tập sự, tun thệ trước tịa án và có thể trở thành luật sư chính thức.
Nghề thẩm phán: Một người sau khi có bằng cử nhân nếu muốn theo nghề
xét xử, phải trải qua 1 kỳ thi rất khó để vào Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia tại
Bordeaux. Chương trình đào tạo thẩm phán tương tự chương trình đào tạo cơng tố
viên kéo dài 31 tháng. Sau khi hoàn thành tốt chương trình, bao gồm 1 kỳ thực tập
quan trọng các học viên tốt nghiệp thường được chỉ định vào các vị trí xét xử hoặc
cơng tố khác nhau. Việc bổ nhiệm thẩm phán do Tổng thống cộng hoà Pháp quyết
định dựa trên đề nghị của 1 cơ quan đặc biệt là Hội đồng tối cao về thẩm phán. Cơ
quan này cũng chịu trách nhiệm về kỷ luật xét xử của các thẩm phán.
Một thiết chế tương tự cũng áp dụng với các tồ hành chính nhưng thẩm phán các
tồ hành chính học nghề xét xử khơng phải tại các trường ở Bordeaux mà học cùng
các công chức cao cấp tại Học viện hành chính danh tiếng ở Paris (Ecole nationale
d’administation). Trong cả hai hệ thống đào tạo thẩm phán tư pháp và hành chính
này, người trúng tuyển theo học đều trở thành công chức nhà nước và được trả
lương từ khi theo học.
Nghề cơng chứng viên: Về trình độ, ứng cử viên phải có bằng tốt nghiệp đại
học, nghĩa là ít nhất phải có 4 năm đại học luật. Sau đó, phải trải qua một khố đào
tạo chun mơn cả về lý thuyết lẫn thực hành, được tổ chức tại các trung tâm đào


2.1

tạo nghề nghiệp để có Bằng nghiệp vụ cơng chứng (Diplôme d’aptitude à la
fonction de notaire) hoặc theo học ngay tại những trường đại học đã ký hợp đồng
đào tạo về cơng chứng để có Bằng cơng chứng (Diplơme supérieur du notariat).
Trong cả hai trường hợp, yêu cầu khóa thực tập 2 năm tại một cơ sở công chứng là
điều kiện bắt buộc để có chứng chỉ hành nghề. Trước khi bắt đầu hoạt động, công

chứng viên phải tuyên thệ tại Toà án và phải tuyên thệ tại Hội nghị tồn thể cơng
chứng viên, và được Nhà nước cấp con dấu để hành nghề.
2. Đào tạo Luật tại Đức
Giai đoạn đào tạo luật
Đây là giai đoạn thứ nhất trong quy trình đào tạo luật tại Đức. Bất kỳ ai, nếu
muốn trở thành luật sư, công chứng viên, thẩm phán, công tố viên... đều phải thi
tuyển hoặc được xét tuyển vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại
các trường đại học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa
luật trực thuộc các trường đại học nằm rải rác trong phạm vi 16 bang). Theo quy
định, các trường luật, các khoa luật thuộc các trường đại học tổng hợp chỉ phải
tuân thủ khung chung về đào tạo pháp luật do luật liên bang quy định. Trên cơ sở
đó, mỗi bang có thể quy định các chương trình đào tạo chi tiết khác nhau dựa trên
thế mạnh trong nghiên cứu, đào tạo của các trường đại học của bang mình.
2.1.1Các mơn học
Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải học trong một khoảng thời
gian ít nhất là ba năm rưỡi với các mơn học mang tính cơ sở về khoa học luật như:
lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và
các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự,
luật hành chính, luật tố tụng dân sự... Bên cạnh các mơn học mang tính bắt buộc thì
sinh viên luật ở Đức cũng có các mơn học tự chọn, đó có thể là mơn luật về thuế,
luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ... Việc thiết kế các
mơn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương trình của mỗi trường. Ví dụ
như, theo chương trình đào tạo của trường North – Rhine Westphalia, các môn học
tự chọn là luật thuế, luật kinh doanh, luật quốc tế...
2.1.2 Phương pháp đào tạo:
Đối với phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan
điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm
cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu
Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các
nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực

tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào
tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo


pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản,
tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức tồn diện cho sinh viên. Còn các
kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang tính chất nghề luật là nhiệm vụ
trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát gần đây cho thấy,
nhiều khoa luật trên lãnh thổ của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm
lượng lý thuyết và thực tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được
minh chứng bằng việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các
khoa luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu hỏi của
các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật
ngày càng tăng.
Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp v à đánh giá kết quả học tập: Nếu nhìn vào quy trình
tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là
thi tốt nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo pháp
luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ Tư pháp của mỗi
bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi này, thậm chí cả việc ra câu
hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp
giai đoạn thứ nhất ở bang Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành
bài thi trong thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh
viên luật nào. Ngồi hình thức thi viết, các trường cịn có thể cho sinh viên thi tốt
nghiệp bằng hình thức vấn đáp. Theo đó, sinh viên sẽ phải trả lời câu hỏi trước một
hội đồng bao gồm: hai giáo sư, hai thẩm phán, một luật sư hoặc một chuyên viên
pháp luật. Thời gian thi vấn đáp có thể kéo dài tới bốn tiếng cho một nhóm khoảng
năm sinh viên. Nếu sinh viên bị trượt trong lần thi lại thì coi như họ đã bỏ phí mấy
năm học tại trường. Những sinh viên đã vượt qua kỳ thi này thì được quyền học
tiếp giai đoạn thứ hai. Một vấn đề không thể không nhắc đến trong thực tế học tập
và thi cử của sinh viên luật ở Đức là sự hiện diện của các “Repetiter” có thể tạm

dịch là “ thầy dạy kèm ” (xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII và XIV trong việc dạy và học
luật ở trường đại học tổng hợp Bologna, sau đó lan rộng ra khắp châu Âu và tồn tại
cho đến nay). “Thầy dạy kèm” tuy không phải là các giáo sư dạy luật của các
trường đại học, nhưng họ có trình độ, kiến thức pháp luật uyên thâm, giúp các sinh
viên cách học và tích lũy kiến thức để vượt qua các kỳ thi. “Thầy dạy kèm” tận tụy
với việc truyền đạt những kiến thức mà các giáo sư trong trường chưa làm cho sinh
viên thỏa mãn. Giả sử như, khi giảng bài trong một lớp học có khoảng 100 sinh
viên, giáo sư khó có thể trả lời được tất cả những thắc mắc của từng sinh viên và
cách tốt nhất đối với các sinh viên luật trong trường hợp này là đến với các “thầy
dạy kèm” . Theo thống kê, có tới 95% sinh viên luật ở Đức đã từng đến với “thầy
dạy kèm”. Các “thầy dạy kèm” sống bằng những khoản phí do sinh viên trả, họ có
thể hoạt động đơn lẻ hoặc hoạt động trong một hiệp hội, một công ty. Pháp luật của
Đức coi hoạt động dạy kèm là hợp pháp.


2.2 Giai đoạn đào tạo nghề luật
Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ được
tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai - giai đoạn đào tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo
các kiến thức pháp luật thực hành. Việc đào tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo
dài hai năm và cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu khơng vượt qua kỳ thi này
thì sinh viên luật sẽ khơng nhận được học vị cử nhân, điều đó cũng đồng nghĩa với
việc, họ không thể bước vào con đường nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán,
hay nghề cơng tố viên... Đào tạo nghề luật ở Đức có điểm giống với nhiều nước
trong hệ thống pháp luật châu Âu ở chỗ, đây là giai đoạn đào tạo kiến thức về các
nghề luật như: nghề luật sư, nghề thẩm phán, nghề công tố ... Nhưng khác biệt là:
(1) Đây là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học. (2) ở Đức
không tồn tại mô hình đào tạo nghề thẩm phán như ở Pháp (sinh viên luật ở Pháp,
sau khi tốt nghiệp đại học, nếu có tham vọng trở thành thẩm phán thì phải tiếp tục
thi và theo học trong trường đào tạo thẩm phán), mà pháp luật của Đức quy định
một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi

tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề luật. Trong thời gian hai
năm gắn với thực hành, sinh viên luật ở Đức vẫn phải tham gia các giờ học mang
tính chất lý thuyết. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những
thẩm phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật dù
đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán... thì vẫn phải tham gia
tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian sáu tháng; ở cơ quan
công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng và bốn tháng tập sự cùng với
một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen
với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính... Mức độ
tiếp cận với thực tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập
và khả năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ
quan nói trên, trong thời gian bảy tháng cịn lại, họ có thể tùy chọn tập sự lại ở một
trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng chuyên sâu nghề nghiệp. Trong
bảy tháng này, những sinh viên có định hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn
tòa án là nơi tăng cường thực tiễn. Cịn những sinh viên có tham vọng theo nghề
luật sư, thì địa chỉ mà họ thực tập là các cơng ty luật hoặc các đồn luật sư. Giai
đoạn thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi tốt
nghiệp. Kỳ thi này cịn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt nghiệp trong
giai đoạn thứ nhất. Theo thống kê của bang Bavarian, có tới 15% trong tổ số sinh
viên luật tại bang thi trượt trong kỳ thi này. Khi những sinh viên đã thi lại lần hai
mà vẫn khơng qua, thì con đường bước vào nghề luật của họ coi như đã bị khép lại.
Còn những sinh viên luật đã hoàn thành việc học tập trong cả hai giai đoạn và vượt
qua cả hai kỳ thi nói trên sẽ được nhận bằng luật, và họ có đủ tư cách để tìm những
vị trí làm việc thích hợp. Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi tốt nghiệp có


rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do cơng việc này ít có nhu cầu bổ
sung. Bên cạnh đó, biên chế trong các cơ quan cơng tố và cơ quan hành chính nhà
nước cũng ln có giới hạn. Tình trạng này làm cho số người chọn nghề luật sư để
kiếm sống ngày càng tăng. Theo con số thống kê năm 2001, tồn liên bang Đức có

khoảng 110.367 luật sư được cơng nhận tư cách trong các đồn luật sư. Đến tháng
1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư đã lên tới
121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó. Nghề luật sư ở Đức
cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh ngày càng cao, do đó hình
thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh
vực pháp luật như: luật hơn nhân gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính,
luật sở hữu trí tuệ... Như vậy, việc quy định hai bước trong quy trình đào tạo pháp
luật ở Đức vừa có những điểm tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật
châu Âu lục địa, đồng thời, cũng có những đặc điểm riêng, thể hiện rõ nét ở việc
đào tạo nghề luật trong giai đoạn thứ hai
Dựa vào các cơ sở đã nêu trên ta nhận thấy, tuy Pháp và Đức là hai quốc gia
thuộc cùng một dòng họ pháp luật và là láng giềng của nhau về mặt địa lý, nhưng
lại có những điểm khác biệt khá căn bản về mơ hình đào tạo luật và nghề luật.
Chính những điều đó đã tạo nên cho Pháp và Đức những nét đặc trưng riêng, tạo
nên thế mạnh cho mỗi quốc gia trong lĩnh vực phát triền nghề luật. Trong xu hướng
tồn cầu hố hiện nay, việc nắm bắt và hiểu biết về các hệ thống pháp luật trên thế
giới, đặc biết là các quốc gia có nền luật pháp phát triển như Pháp và Đức có một ý
nghĩa rất thiết thực trong đời sống của mỗi chúng ta, giúp chúng ta nâng cao nhận
thức và sự hiểu biết về pháp luật, văn hoá, cách sống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
khác nhau, đồng thời tạo điều kiện giao lưu quốc tế và đối thoại với đồng nghiệp
nước ngoài. Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về pháp luật nước mình, nhìn nhận hệ thống
pháp luật nước mình với một quan điểm mới, để từ đó xây dựng một mơ hình đào
tạo luật và ngành luật thích hợp
áp dụng vào trong giảng dạy ở nước ta.…

II. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC ĐÀO TẠO LUẬT TẠI PHÁP VÀ
ĐỨC
1.

Ưu, nhược điểm của hình thức đào tạo luật tại Pháp.

1.1 Ưu điểm

Là một quốc gia điểm hình của hệ thống pháp luật civil law, chính vì vậy đào tạo
luật tại Pháp rất chú trọng đến hệ thống lý luận và các học thuyết pháp luật cổ điển.


Điều đó sẽ giúp các sinh viên có được hệ thống kiến thức nền tảng quan trọng và
mang tính định hướng tư duy pháp lý trong việc giải quyết các tình huống pháp lý.
Tiếp đến sinh viên luật sẽ được tiếp cận với các văn bản luật nội dung có lịch sử
lâu đời và chặt chẽ.
1.2

Nhược điểm
Việc đào tạo chú trọng nhiều vào lý thuyết cũng dẫn đến sinh viên quá chú trọng
lý luận mà chưa có tư duy thực hành pháp luật. Không chỉ vậy việc chú trọng vào
việc nghiên cứu, giảng dạy các học thuyết pháp luật cổ điển cũng làm cho sinh
viên không bắt kịp với sự đa dạng của các tình huống, thay đổi mơi trường pháp lý
đương đại.
2.Ưu, nhược điểm của hình thức đào tạo luật tại Đức
2.1 Ưu điểm
Việc đào tạo luật tại Đức coi trọng kiến thức khi mà sinh viên học, Đức có hình
thức Thày dạy kèm nó giúp sinh viên tăng việc tiếp thu kiến thức
2.2 Nhược điểm
Hình thức thi có thể gây nhiều bất cập. Khi sinh viên thi trượt và thi lại lần 2
vẫn trượt thì sẽ k đc thi nữa. Như vậy vơ hình chung tạo nên áp lực rất lớn cho
người học.
III. NHỮNG KINH NGHIỆM CÓ THỂ HỌC HỎI VÀ ỨNG DỤNG VÀO
VIỆC ĐÀO TẠO LUẬT TẠI VIỆT NAM
Trong số các quốc gia có nền tư pháp phát triển Pháp và Đức được coi là “cái
nôi” của hoạt động đào tạo Luật và nghề Luật trên toàn thế giới với rất nhiều Khoa

và Trường đào tạo Luật danh giá như: Đại học Pari, Đại học strabough, đại học
Munster WWU,..

Với truyền thống đào tạo Luật và nghề Luật trải qua hàng thế kỉ, Khoa Luật
thuộc các trường Đại học tại Pháp, Đức đã xây dựng và áp dụng khung chương
trình đào tạo riêng biệt, hướng đến đào tạo những cử nhân Luật học có tri thức sâu
rộng khơng chỉ trong lĩnh vực pháp lí mà cịn là những lĩnh vực cụ thể khác về
kinh tế, xã hội,..với mô hình đào tạo tiên tiến, khoa học như vậy có rất nhiều điều


mà chúng ta có thể tiếp thu, ứng dụng trong hoạt động đào tạo luật tại Việt Nam cụ
thể ở những khía cạnh sau:

Đầu tiên là hoạt động quản lí đào tạo, theo thống kê tính đến tháng 09/2020
cả nước Mỹ chỉ có 11 trường, khoa đào tạo Luật [7] tuy nhiên tính đến cùng thời
điểm Việt Nam của chúng ta hiện có 60 cơ sở đào tạo cử nhân luật trên cả nước [8],
qua sự so sánh trên chúng ta đã thấy có sự chênh lệch rất lớn, một quốc gia rộng
lớn, có số dân cư đơng và mức độ phát triển kinh tế xã hội hơn nhiều lần Việt Nam
nhưng lại có cơ sở đào tạo rất hạn chế, và ngược lại Việt Nam của chúng ta các
trường Đại học đang ồ ạt mở ngành Luật dẫn đến tình trạng đào tạo tràn lan, thiếu
hiệu quả do thiếu cơ sở vật chất, chất lượng giảng viên chưa cao, việc đào tạo đại
trà không tập trung cũng dẫn đến tình trạng bão hịa. Chỉ trong khu vực Tỉnh Thái
Ngun hiện nay đã có tới 5 cơ sở đào tạo Luật về nghề Luật đó là Khoa Luật –
Đại học Khoa học, Khoa Quản í – Luật Kinh tế, Bộ mơn Luật – Cao đẳnng Kinh tế
- Tài chính, Luật – Đại học Việt Bắc, và đào tạo nghề Luật tại Cao đẳng Luật – Bộ
Tư pháp, chính vì việc thiếu sự quản lí chặt trong hoạt động mở ngành đào tạo dẫn
đến sinh viên Luật ngày càng đại trà, bị đánh giá thấp so với những ngành nghề
khác. Vì vậy chúng ta cần phải có sự quản lí chặt chẽ hơn khi quyết định mở ngành
đào tạo luật, cụ thể chúng ta có thể khắc phục bằng cách gộp các Khoa Luật của
các trường thành một Khoa để đảm bảo chất lượng đào tạo đồng thời xây dụng

thương hiệu riêng.

Tiếp đến là đảm bảo chất lượng đầu vào, hiện nay các trường đào tạo Luật tại
Mỹ đều áp dụng một quy định chuẩn về chất lượng đầu vào đối với hệ cử nhân đó
là: “Sinh viên khoa luật là những người đã tốt nghiệp đại học ở một chuyên ngành
khác, một số khoa luật chỉ chọn được một sinh viên trong số năm hoặc mười người
dự tuyển”. [1] Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay việc theo học ngành Luật khá đơn
giản, các trường đào tạo Luật tại Việt Nam đều sử dụng 2 hình thức tuyển là xét
học bạ và dùng điểm thi THPT do vậy chất lượng tuyển chọn chưa cao, các sinh
viên đa phần đều chưa có nhiều kiến thức xã hội vì vậy rất cần các cuộc thi tuyển
đầu vào do các trường luật tổ chức riêng để đánh giá những kiến thức căn bản, cần
thiết và phù hợp với ngành luật, nếu sử dụng điểm thi tốt nghiệp THPT thì nên quy
định mức điểm tối thiểu (giống với ngành Sư phạm) để đảm bảo chất lượng đầu
vào. Vì chất lượng đầu vào quyết định một phần rất quan trọng đối với việc sinh
viên có đủ tư duy, sự nhạy bén, logic để theo học hay không


Thứ ba, khung chương trình giảng dạy. Hiện nay tại Việt Nam, các cơ sở đào
tạo Luật đều đào tạo theo hình thức tín chỉ, với các mơn học luật với tài liệu chủ
yếu là luật, giáo trình. Tuy nhiên tại Mỹ các môn đều được giảng dạy bằng
phương pháp tình huống “Socratic” với phương pháp này sách dùng cho mỗi mơn
học khơng phải là giáo trình cơ bản về luật chuyên ngành mà là sách tình huống
chứa đựng các án lệ đã được lựa chọn. Những cuốn sách thường viết về từng môn
học riêng biệt trên cơ sở phân tích các án lệ, trong cuốn sách sẽ khơng trình bày
các nguyên tắc pháp lí mà được rút ra bằng cách nghiên cứu án lệ. Trong kiểu
nghiên cứu này, giảng viên hiếm khi đưa ra quan điểm cá nhân và khuyến khích
sinh viên phân tích và tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình. Đây là một hình
thức đào tạo còn rất hạn chế tại Việt Nam khi đa phần các môn học luật hiện nay
tại Việt Nam đang rất nặng về lí luận, một chiều và thiếu tính phản biện, sinh viên
đa phần rất thụ động khi tiếp cận kiến thức. Vì vậy cần tạo mơi trường để sinh viên

có cơ hội và tiếp cận với các hoạt động nghiên cứu hồ sơ, án lệ ngay từ khi đang
trong thời gian học thông qua việc tăng các buổi thực hành pháp luật, tăng thời
gian thực tế chuyên môn,..

Thứ tư, để sinh viên chủ động, đây là một bài tốn rất khó khi đa phần sinh
viên hiện nay rất lười tìm hiểu, đọc sách, xem xét xử, tham gia CLB học thuật,..
tuy nhiên tại Mỹ nếu là một sinh viên luật thứ đầu tiên cần có đó là sự chăm chỉ,
khác với Việt Nam nhà trường sẽ không đào tạo các kiến thức nền: về lý luận, Hiến
pháp, các nguyên tắc của luật mà chủ yếu sẽ đào tạo kĩ năng xử lý tình huống pháp
lí, các kiến thức cơ bản sinh viên phải tự nghiên cứu và đào sâu tìm hiểu nếu muốn
nhận định và giải quyết một vụ án cụ thể. Ngược lại ở Việt Nam của chúng ta hiện
nay vẫn sử dụng hình thức đào tạo lý luận căn bản trước sau đó sinh viên sẽ được
học lần lượt một số lĩnh vực luật quan trọng sau đó các sinh viên sẽ có ít nhất 2 kì
thực tập trong tổng 4 năm học. Tuy nhiên thời gian thực tập lại ngắn, các việc khi
thực tế khá đơn giản do vậy chưa đủ để các sinh viên có cơ hội tiếp xúc sâu các
kiến thức đã học và học hỏi thêm kiến thức mới. Vì vậy cần bổ sung thêm thời gian
thực tế, các việc thực tế sẽ nằm ngoài kiến thức đã học để các bạn sinh viên có cơ
hội nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức mới.

Thứ tư: làm khóa luận bắt buộc. Sau khi hồn tất chương trình học, sinh viên
sẽ làm luận án, nếu muốn tốt nghiệp, sinh viên phải gặp người hướng dẫn và dĩ


nhiên phải bảo vệ thành công trước hội đồng trường. Hiện nay tại Việt Nam việc
làm khóa luận là khơng bắt buộc, tuy nhiên khóa luận tốt nghiệp giúp ích cho sinh
viên rất nhiều, về cách tư duy, cách trình bày, cách bảo vệ quan điểm...vì vậy
chúng ta nên áp dụng làm khóa luận mang tính điều kiện giúp các bạn sinh viên thể
hiện sự chủ động của mình trong hoạt động học tập đồng thời trau dồi các kiến
thức và kĩ năng.




×