Tải bản đầy đủ (.docx) (166 trang)

Giáo trình Gây mê hồi sức YDK CTUMP 2021

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.68 MB, 166 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
BỘ MÔN GÂY MÊ HỒI SỨC

GIÁO TRÌNH

GÂY MÊ HỒI SỨC

Dành cho sinh viên Y đa khoa

Năm 2020


Đồng chủ biên
PGs. Ts. Phạm Văn Năng
Ths. Bs. Vũ Văn Kim Long

GIÁO TRÌNH

GÂY MÊ HỒI SỨC

Năm 2020


ĐỒNG CHỦ BIÊN
PGs. Ts. Phạm Văn Năng
Ths. Bs. Vũ Văn Kim Long

BAN BIÊN SOẠN
1. Ths. Bs. Trần Văn Đăng
2. Ths. Bs. Lê Vũ Linh
3. Ths. Bs. Vũ Văn Kim Long


4. Ths. Bs. Võ Nguyên Hồng Phúc

BAN BIÊN TẬP
1. Ths. Bs. Trần Văn Đăng
2. Ths. Bs. Lê Vũ Linh


LỜI NÓI ĐẦU

Ngành Gây mê hồi sức thế giới phát triển khoảng một thế kỷ nay do nhu cầu
phát triển các kỹ thuật phẫu thuật trên bệnh nhân nặng và phức tạp. Ở nước ta nói
chung và ở khu vực Đồng bằng sơng Cửu Long nói riêng, ngành Gây mê hồi sức
chỉ mới phát triển khoảng 50 năm trở lại đây nhưng cũng đã bắt kịp những thành
tựu gây mê hồi sức của thế giới.
Ngày nay, gây mê có thể tiến hành trên bất kỳ đối tượng nào, từ trẻ sơ sinh
đến người cao tuổi hay phụ nữ có thai, từ những người mang một vấn đề ngoại khoa
đơn thuần hay mắc rất nhiều bệnh kèm theo như: đái tháo đường, tăng huyết áp, tim
bẩm sinh,... hay những bệnh nặng: chấn thương sọ não, đa chấn thương,... Chính vì
thế, gây mê phải gắn liền với hồi sức cũng như nội khoa nói chung. Gây mê chỉ
được thực hiện tốt khi tiến hành hồi sức tốt những bệnh nhân nặng trước trong và
sau mổ, kiểm soát tốt hay điều trị các bệnh lý nội khoa đi kèm.
Giáo trình “Gây mê hồi sức cơ bản” được bộ môn Gây mê hồi sức, trường
Đại học Y Dược Cần Thơ biên soạn nhằm mục đích giảng dạy một số vấn đề cơ bản
trong lĩnh vực gây mê hồi sức cho đối tượng sinh viên Y đa khoa. Trong giáo trình
này, chúng tơi đề cập đến những kiến thức cơ bản nhất, dễ tiếp cận nhất nhằm giúp
sinh viên định hình được những kỹ thuật gây mê, gây tê cơ bản, những loại thuốc sử
dụng trong lĩnh vực gây mê hồi sức hay việc chuẩn bị bệnh nhân trước mổ cũng như
chăm sóc, hồi sức bệnh nhân sau mổ… Chúng tôi hy vọng, quyển giáo trình này có
thể đáp ứng nhu cầu học tập và giúp sinh viên Y đa khoa nói riêng, người học nói
chung có thể hiểu và vận dụng được những kiến thức cơ bản về ngành gây mê hồi

sức trong thực hành lâm sàng.
Trong quá trình soạn thảo, do hạn chế về thời gian và năng lực, nên giáo
trình này cũng khơng tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tơi rất mong được tiếp thu
những ý kiến đóng góp của đọc giả. Chân thành cảm ơn.
Nhóm tác giả


MỤC LỤC
Lời nói đầu
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Tên bài giảng

Tran

1. Lịch sử ngành gây mê hồi sức......................................................................1
2. Đại cương về vô cảm..................................................................................13
3. Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ.....................................................................23
4. Những loại dịch truyền thường dùng trong gây mê hồi sức........................31
5. Thuốc thường dùng trong gây mê hồi sức..................................................39
6. Oxy liệu pháp.............................................................................................61
7. Gây tê tủy sống...........................................................................................73
8. Gây tê ngoài màng cứng-Gây tê khoang xương cùng.................................83
9. Gây mê nội khí quản...................................................................................95
10. Gây mê cho phẫu thuật bệnh nhân ngoại trú.............................................104
11. Xác định độ mê.........................................................................................113
12. Tai biến và biến chứng của gây mê...........................................................125
13. Chăm sóc bệnh nhân sau mổ.....................................................................139
14. Giảm đau sau mổ......................................................................................147
15. Tài liệu tham khảo....................................................................................153

16. Đáp án......................................................................................................154


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASA:

American Society of Anesthesiologist (Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ)

ECG:

Electrocardiogram: điện tâm đồ

GMHS:

Gây mê hồi sức

HA:

Huyết áp

HATT:

Huyết áp tâm thu

MAC:

Minimum Alveolar Concentration (Nồng độ phế nang tối thiểu)

NKQ:


Nội khí quản

NMC:

Ngồi màng cứng

NMCT:

Nhồi máu cơ tim

PACU:

Post Anesthesia Care Unit (đơn vị chăm sóc bệnh nhân sau mổ)

PCA:

Patient Controlled Analgesia (giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát)

PCEA:

Patient Controlled Epidural Analgesia (giảm đau bệnh nhân tự kiểm
soát qua đường ngoài màng cứng)

PEEP:

Positive End Expiratory Pressure (áp lực dương cuối thì thở ra)

SCAT:

Sốt cao ác tính


TB:

Tiêm bắp

TIVA:

Total IntraVenous Anesthesia (Gây mê tĩnh mạch toàn phần)

TM:

Tiêm mạch

TS:

Tủy sống


LỊCH SỬ NGÀNH GÂY MÊ HỒI SỨC
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày được nguồn gốc và sự phát triển của các loại thuốc mê
2. Trình bày được sự phát triển các thiết bị gây mê
3. Nêu được sự hình thành các tổ chức gây mê hồi sức.
1. ĐẠI CƯƠNG
Thực hành gây mê đã được ghi nhận từ thời xa xưa. Tuy nhiên, mãi cho tới
giữa thế kỷ XIX bắt đầu phát triển thành một chuyên khoa và chỉ được công nhận là
một chuyên khoa của ngành y chỉ cách đây khoảng gần một thế kỷ.
Vào thời kỳ văn minh cổ đại người ta đã biết dùng cây thuốc phiện, lá cây
coca, rễ cây mandrake (cây độc có quả vàng), rượu và ngay cả việc trích máu (mục
đích tạo nên mất tri giác) để cho phép các nhà ngoại khoa thực hiện phẫu thuật điều

trị bệnh nhân. Người Ai Cập cổ đại cũng đã biết kết hợp cây thuốc phiện và cây
hyoscyamus (là hai cây thuốc sau này điều chế thành morphin và scopolamin được
sử dụng trong tiền mê) để gây mê. Ngoài ra, phương thức giảm đau gần giống như
gây tê vùng cũng đã được sử dụng từ thời xưa: Gây chèn ép thân thần kinh (gây
thiếu máu nuôi dây thần kinh), làm lạnh để gây tê vùng mổ hoặc các phẫu thuật viên
gây tê tại chỗ bằng cách nhai các lá cây coca rồi đắp lên vết thương. Lúc đó, các thủ
thuật và phẫu thuật bị giới hạn, chỉ thực hiện được với các trường hợp gãy xương,
các vết thương do chấn thương, cắt cụt chi hoặc lấy sỏi bàng quang. Vì vậy, sự phát
triển của lĩnh vực ngoại khoa bị cản trở không những do kém hiểu biết về q trình
bệnh lý, giải phẫu, vơ trùng trong phẫu thuật mà cịn thiếu sự tin cậy và an tồn của
kỹ thuật gây mê. Mặc dù kỹ thuật phẫu thuật phát triển nhưng bệnh nhân vẫn còn
chịu nhiều đau đớn trong lúc mổ, họ thường la hét, khóc thét. Điều này ảnh hưởng
rất nhiều đến tinh thần và thể xác của bệnh nhân sau đó.
Những yếu tố kể trên cộng với sự nhiễm trùng làm tăng tỉ lệ tử vong trong
phẫu thuật. Giữa thế kỷ XIX, các bác sĩ quyết tâm tìm ra cách cải thiện tử vong, tuy
nhiên tỉ lệ này vẫn còn rất cao, chiếm khoảng 50% trong tổng số các trường hợp
được phẫu thuật. Việc tiếp cận, đánh giá các yếu tố nguy cơ đã được thực hiện đầu
tiên ở Boston, Massachusetts. Vào ngày 16-10-1846, William Thomas Green
Morton đã chứng minh được việc sử dụng ether cho gây mê phẫu thuật.
Kỹ thuật gây mê được phát triển trước hết bắt nguồn từ việc sử dụng thuốc
mê bốc hơi và khí mê, tiếp theo là các thuốc tê để áp dụng trong gây tê vùng và tê
1


tại chỗ sau cùng là các thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau trung ương và thuốc
dãn cơ.
2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LOẠI THUỐC MÊ
2.1. Các loại thuốc mê hơi
- Đầu tiên là khí N2O được đồng khám phá bởi Priestley và Joseph Black, có
khả năng làm mất đi đau đớn. Tuy nhiên, khí này sau đó được coi là một khí nguy

hiểm vì N2O có thể là ngun nhân chính của sự lây lan các bệnh dịch hạch. Năm
1800, Humphry Davy, một nhà khoa học trẻ đã viết N 2O có khả năng hoạt động
rộng, làm mất đi đau đớn về thể xác, làm giảm chảy máu trong quá trình phẫu thuật.
Vào đêm 10-10-1844, giáo sư Colton đã trình bày những đặc tính của việc sử dụng
N2O tại Union Hill. Sau đó N2O đã được chứng minh cho việc phẫu thuật không đau
bằng cách cho một nam sinh viên hít N 2O để nhổ răng cùng. Tuy nhiên, khơng may
lúc đó cảm giác đau khơng hồn tồn mất hẳn, việc chứng minh bị thất bại và N 2O
không cịn được sử dụng sau đó.
- Ngày 16-10-1846, Morton đã có một sự thành cơng hồn hảo khi ơng sử
dụng ether để gây mê thành công cho bác sĩ John Collins Warren phẫu thuật u ở cổ
có nhiều mạch máu bao quanh cho một bệnh nhân. Sự thành công đầy ngoạn mục
và gây ấn tượng sâu sắc này gây ra những hoài nghi nhất định của một số người
tham dự trong buổi báo cáo khoa học đó, đến nỗi mà người nghiên cứu và những
nhà ngoại khoa đã phải trấn an rằng: “Thưa các ông các bà đây không phải sự lừa
dối bịp bợm đâu!”.
Sau 63 ngày Morton biểu diễn thành công với ether, nha sĩ người Anh tên
James Robinson gây mê bằng ether để nhổ răng cho bé gái 13 tuổi, 2 ngày sau đó,
Robert Liston đã phẫu thuật cắt cụt chân tại bệnh viện Đại học London dưới gây mê
bằng ether. Vài tháng sau đó, gây mê bằng ether được phổ biến khắp châu Âu.
Tuy nhiên, có một vài tài liệu nói rằng khơng phải Morton là người sử dụng
ether đầu tiên, mà ether đã được sử dụng đầu tiên vào ngày 30-3-1842 bởi bác sĩ
Jefferson Georgia để cắt bỏ một khối u ở cổ cho một người đàn ông trẻ nhưng
không được công khai và chưa được công nhận.
Sau một năm, với sự xuất hiện của ether, việc tìm kiếm các thuốc khác đã
được nghiên cứu. Mặc dù ether là một thuốc mê khá an tồn, có thể khơng cần tập
huấn nhiều mà vẫn có thể sử dụng được, tuy nhiên ether cũng có những nhược điểm
như dễ cháy, thời gian tác dụng kéo dài, mùi khó chịu, tỉ lệ nơn ói cao và do đó việc
tìm kiếm các thuốc mê mới là rất cần thiết.

2



- Ngày 04-9-1847, chloroform đã được sử dụng, sau đó phổ biến ở Anh, có
thể được dùng trong giảm đau sản khoa. Tuy nhiên, vấn đề giảm đau sản khoa đã bị
bác bỏ thời điểm đó vì lý do tơn giáo. Chloroform được sử dụng rộng rãi ở Anh
nhưng sự an toàn của chloroform vẫn tiếp tục được bàn cãi khi kết hợp với
adrenalin, chloroform có thể gây rung thất, đều này đã làm cho chloroform khơng
cịn được tiếp tục sử dụng.
- Nitơ oxit: Sau ngày 10-10-1844, N2O đã không còn được sử dụng, mãi đến
1863, N2O đã được sử dụng lại để gây mê phẫu thuật nhổ răng, N 2O cịn được xem
là khí cười. Từ năm 1864-1897, N2O đã được sử dụng trong Nha khoa khoảng
200.000 trường hợp mà khơng có biến chứng. N 2O và O2 đã được sử dụng tại Mỹ
bởi Elmer I. Mckesson. Tuy nhiên, do sử dụng N2O 100% nên đã dẫn đến việc thiếu
oxy và có những biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong trong quá trình gây
mê. Đến 1868 Edmund Andrews đã dùng lại bằng cách pha trộn với 20% oxy, khí
mê này hiện nay cịn được sử dụng phổ biến và vẫn là một khí mê tốt.
Dẫu rằng về sau có thêm nhiều loại thuốc mê hơi khác được tìm ra (ethyl
chloride, ethylene, divinylether, cyclopropane...), nhưng ether vẫn được đánh giá là
thuốc gây mê toàn thân tiêu chuẩn và tiếp tục sử dụng cho đến đầu thập niên 60 của
thế kỷ XX.
Suốt những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, các bác sĩ đã có vài cải tiến cho
những thuốc mê thế hệ mới. Một quyển sách về gây mê đã được viết bởi James T.
Gwathmey và được xuất bản năm 1914 nói về 600 loại thuốc mê để người đọc có
thể tham khảo. Cho đến năm 1930, tất cả các thuốc mê đều thành công trừ
chloroform.
- Đầu năm 1930, họ Halogen bắt đầu được nghiên cứu. Năm 1954 halothan
được tổng hợp và được giới thiệu sử dụng lâm sàng năm 1956 bởi Michael
Johnston. Halothan có những ưu điểm nhất định như mùi dễ chịu, độc tính thấp.
Vào thời điểm đó, halothan là một thành cơng, có thể thay thế các thuốc mê cũ,
được sử dụng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, vào năm 1958, một báo cáo mô tả một

phụ nữ 39 tuổi chết do viêm gan tối cấp sau gây mê với halothan. Năm 1963, một
trường hợp khác cũng bị hoạt tử gan sau khi gây mê với halothan và từ đó thuật ngữ
“viêm gan halothan” đã ra đời từ đó.
- Năm 1960, thuật ngữ MAC (Minimum Alveolar Concentration-nồng độ
phế nang tối thiểu) được xuất hiện. MAC đại diện cho nồng độ cuối thì của bất kỳ
thuốc mê hơ hấp nào mà tại đó có 50% bệnh nhân đáp ứng với kích thích đau cực
đại, với MAC, các thuốc mê có thể được giới thiệu rộng rãi đến cộng đồng gây mê.

3


- Enfluran và Isofluran được giới thiệu cách đây 40 năm, isofluran đã rất
thành công và được sử dụng rộng rãi từ thời điểm đó đến nay. Desfluran là một
trong những thuốc mê được tổng hợp cuối cùng và được sử dụng trên người năm
1990 đến nay.
- Sevofluran được tổng hợp từ hơn 40 năm trước nhưng vì khơng ổn định
trong vôi soda nên không được sử dụng. Đến năm 1980 sevofluran bắt đầu được sử
dụng ở Nhật sau đó đến Mỹ, đến nay sevofluran đã được sử dụng khắp thế giới.
2.2. Thuốc tê và gây tê
2.2.1. Thuốc tê
Cây coca được sử dụng đầu tiên như một thuốc tê tại chỗ bởi một người Tây
Ban Nha tên Jesuit Bernale Cobo năm 1653, ông dùng coca nhai để làm giảm đau
răng. Năm 1856, Albert Niemann đã chiết xuất Alkaloid từ lá khô cho ra cocain
dạng hoạt động. Người Mỹ và châu Âu đã ứng dụng trực tiếp cocain cho tác dụng
trung ương. Vasili von Anrep là người đầu tiên nhận xét về tính chất gây tê cục bộ
của cocain và đề nghị sử dụng như một thuốc tê tại chỗ. Sau đó, Carl Koller đã sử
dụng cocain để gây tê tại chỗ trong nhãn khoa. Ngày 15-9-1884, Carl Koller đã
chứng minh việc sử dụng cocain để làm giảm đau tại chỗ, giảm đau bề mặt trong
nhãn khoa.
Cocain rất độc và có tính gây nghiện, do đó procain được tổng hợp năm 1905

và được sử dụng rộng rãi đến năm 1932, sau đó tetracain có thời gian tác dụng dài
cũng được biết đến. Lidocain được giới thiệu năm 1948 bởi Torsten Gorolh, có độc
tính thấp, thời gian tác dụng trung bình và được sử dụng rộng rãi cho đến nay.
Các thuốc tê khác lần lượt được giới thiệu, bao gồm: Chloroprocain (1952),
Mepivacain (1957), Bupivacain (1963), Ropivacain (1996) và Levobupivacain.
Hiện nay, bupivacain, ropivacain, levobupivacain là thuốc được sử dụng phổ biến
cho giảm đau sau mổ và giảm đau sản khoa do thời gian tác dụng kéo dài.
2.2.2. Gây tê vùng
Năm 1884, Halsted đã bắt đầu thành công trong gây tê vùng bằng cách sử
dụng cocain 4% tiêm vào cẳng tay làm ngăn chặn dẫn truyền thần kinh và làm giảm
đau. Sau đó, họ tiêm 80mg vào dây thần kinh trụ ở khuỷu tay làm tê xa xuống cẳng
tay. Từ đó, gây tê đám rối thần kinh được thực hiện và phát triển.
Năm 1908, kỹ thuật gây tê tĩnh mạch vùng được August Bier thực hiện bằng
cách đặt garo trên cánh tay và tiêm vào tĩnh mạch dung dịch procain pha loãng.

4


Năm 1911, Hirschel mô tả phương pháp gây tê ở nách, vài tháng sau đó
Kulenkampff giới thiệu phương pháp gây tê trên địn, ơng sử dụng procain để gây tê
và đạt được mức hoàn hảo ở cánh tay. Năm 1917, Bazy và Pauchet đã mô tả kỹ
thuật gây tê giữa cơ bậc thang và đến những năm 1970s được phát triển nhiều do
tránh được các biến chứng tràn khí màng phổi, đồng thời cũng chỉ ra các mốc giải
phẫu dựa vào cơ là khơng chính xác bằng dựa vào mạch máu, kỹ thuật truyền liên
tục vào thần kinh cũng được phát triển trong giai đoạn này. Sự thành công liên tục
của kỹ thuật gây tê vùng được thể hiện qua việc gây tê dưới hướng dẫn của siêu âm,
điều này làm giảm liều thuốc tê cũng như kéo dài thời gian tác dụng của thuốc tê.
Gây tê tủy sống: Ngày 15-8-1898, August Bier đã thực hiện gây tê tủy sống
cho các phẫu thuật phần dưới cơ thể. Sau đó, gây tê tủy sống đã lan truyền nhanh
chóng ở châu Âu và Mỹ, trong vịng 2 năm có hơn 1.000 trường hợp gây tê tủy sống

được báo cáo. Sau đó, gây tê tủy sống được thực hiện với lidocain. Việc sử dụng
kim có đường kính nhỏ cũng được đề cập để giảm nhức đầu sau gây tê tủy sống. Kỹ
thuật Blood Patch cũng được đề xuất vào năm 1960 bởi James B. Gormley.
Gây tê ngoài màng cứng: Năm 1901, gây tê khoang cùng được giới thiệu
bởi Jean Enthuse Sicard và Fernand Cathelin sử dụng cocain, gây tê khoang cùng có
thể dùng cho các phẫu thuật vùng đáy chậu. Năm 1921, Fided Pages, một bác sĩ Tây
Ban Nha, đã giới thiệu kỹ thuật tiêm procain vào khoang ngoài màng cứng ở tất cả
các đoạn, ơng báo cáo 43 trường hợp tê ngồi màng cứng đoạn lưng và đoạn ngực.
Năm 1951, Oral Crawford và cộng sự đã báo cáo hơn 600 trường hợp gây tê ngồi
màng cứng cho phẫu thuật vùng ngực, có 2 trường hợp tử vong.
Từ năm 1947, kim Tuohy được sử dụng rộng rãi.
Năm 1960, gây tê ngoài màng cứng được phát triển trong giảm đau sản khoa,
cũng như gây tê kéo dài trong các phẫu thuật lớn và giảm đau sau mổ thơng qua
catheter ngồi màng cứng.
2.3. Thuốc mê tĩnh mạch
Gây mê tĩnh mạch được thực hiện đầu tiên trên người năm 1872 bởi PierreCyprien Oré bằng cách sử dụng chlorol hydrate. Paraldehyd cũng được sử dụng để
gây mê tĩnh mạch trong và sau thế chiến thứ I. Sự kết hợp morphin với scopolamin
cũng được thực hiện và rất phổ biến trong sản khoa, tuy nhiên do có nhiều tai biến
nên cũng bị lãng quên dần.
Thiopental được sử dụng năm 1934 bởi John Lundy tại Mayo Clinic, việc sử
dụng thiopental là một nghệ thuật, khái niệm gây mê cân bằng cũng được ra đời từ
việc sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau. Theo John Lundy, việc sử dụng nhiều loại
5


thuốc cho gây mê sẽ an toàn hơn do giảm được liều của thuốc và giảm được tác
dụng phụ của từng thuốc. Tuy nhiên sau đó, thiopental được sử dụng để gây mê cho
những bệnh nhân bị thương trong vụ đánh bom ở Trân Châu Cảng thì tỉ lệ tử vong
rất cao. Điều này làm nhấn mạnh tác dụng phụ trên hệ thống tim mạch của
thiopental.

Từ những tác dụng phụ của thiopental đã thúc đẩy các nhà gây mê nỗ lực tìm
kiếm các thuốc mê tĩnh mạch ít ảnh hưởng đến tim mạch. Ketamin được tổng hợp
năm 1962, được giới thiệu như một thuốc mê vào năm 1966. Ketamin là thuốc mê
có thể sử dụng đường tiêm bắp cũng như đường tĩnh mạch. Tuy nhiên, tác dụng ảo
giác sau mổ cũng được đề cập đến và cân nhắc khi sử dụng. Ngày nay, ketamin
dùng kết hợp với thuốc an thần khác. Ketamin là thuốc duy nhất có tác dụng giảm
đau đồng thời là thuốc ít có tác dụng tim mạch và hơ hấp, thậm chí khi sử dụng liều
gây mê.
Etomidat được giới thiệu vào năm 1973 có tác dụng hạn chế tối đa các sự suy
giảm huyết động và được sử dụng cho những bệnh nhân giảm thể tích tuần hồn
cũng như có bệnh lý tim mạch trầm trọng. Tuy nhiên, etomidat có tác dụng phụ rất
đáng quan tâm là suy tuyến thượng thận.
Propofol được giới thiệu trên lâm sàng năm 1977, propofol có nhiều ưu điểm
so với thiopental, có thể chống nôn và ức chế phản xạ thanh quản do đó có thể đặt
nội khí quản dễ hơn. Propofol được sử dụng rộng rãi ngay sau khi được giới thiệu,
có thể sử dụng để gây mê tĩnh mạch liên tục khi phối hợp với các thuốc giảm đau
khác như opioids sẽ tạo nên gây mê hoàn hảo, phương thức này gọi là TIVA (total
intravenous anesthesia-gây mê tĩnh mạch toàn phần), điều này có thể loại bỏ hồn
tồn việc dùng thuốc mê hơi. Bên cạnh những ưu điểm hiện có, propofol cũng có
tác dụng phụ là gây giảm huyết áp và đau chỗ tiêm.
Các nhóm thuốc an thần cũng được tìm ra, có tác dụng giảm lo lắng, trong đó
diazepam được giới thiệu năm 1959 và sử dụng vào năm 1963, midazolam được
giới thiệu năm 1976 và được sử dụng rộng rãi năm 1978. Các thuốc đối kháng thuốc
an thần cũng được tìm ra nhằm điều trị quá liều thuốc an thần.
2.4. Thuốc dãn cơ
Thuốc ức chế thần kinh cơ hay dãn cơ là một phần không thể thiếu trong
thực hành gây mê hằng ngày. 100 năm trước đây người gây mê có thể khơng cần
thuốc dãn cơ nhưng ngày nay thì khơng thể khơng có thuốc dãn cơ.

6



Thuốc dãn cơ đã được sử dụng cách đây khoảng 500 năm, bắt nguồn từ Nam
Mỹ. Người ta dùng nhựa độc tẩm vào trong những mũi tên phục vụ cho việc đi săn
và chiến tranh.
Trong thời kỳ thuốc dãn cơ chưa có, các loại phẫu thuật được thực hiện trên
bệnh nhân bằng cách sử dụng với liều tương đối lớn của các thuốc mê với mục đích
để tạo ra dãn cơ. Nhưng liều lớn các thuốc mê sử dụng thường gây ức chế tuần hồn
và hơ hấp q mức cũng như kéo dài thời gian tác dụng sau mổ. Hơn nữa, chúng
thường khơng thích hợp cho những bệnh nhân trong tình trạng nặng, nguy kịch.
Vào năm 1942 Harold Griffith và Enid Johnson báo cáo nghiên cứu sử dụng
dẫn chất của cura (nhựa độc tẩm ở mũi tên để săn thú ở Nam Mỹ) dùng trong gây
mê là một mốc lịch sử lớn về sử dụng thuốc dãn cơ của ngành gây mê hồi sức.
Succinylcholin là thuốc dãn cơ khử cực, được tổng hợp bởi Bover vào năm
1949 và đưa vào sử dụng năm 1951, đây là thuốc được đánh giá là dãn cơ tiêu
chuẩn để đặt nội khí quản vì khởi phát tác dụng nhanh và thời gian tác dụng ngắn,
hiện nay vẫn còn được sử dụng trong một số trường hợp. Thuốc dãn cơ tạo điều
kiện dễ dàng cho thủ thuật đặt nội khí quản cũng như trong phẫu thuật, đặc biệt
phẫu thuật các cơ quan trong ổ phúc mạc.
Các thuốc dãn cơ khác lần lượt được tìm ra và giới thiệu sử dụng trên lâm
sàng (gallamin, decamethonium, metocurin, alcuronium và pancuronium), tuy nhiên
do các thuốc này có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt giải phóng nhiều histamin nên
thường gây sốc như dạng phản vệ. Vì vậy, tìm kiếm thuốc dãn cơ lý tưởng vẫn được
tiếp tục. Mivacum một thuốc dãn cơ khơng khử cực có thời gian tác dụng ngắn ra
đời, ít có tác dụng phụ nhưng khởi phát tác dụng vẫn chậm hơn so với
succinylcholine.
Một thuốc dãn cơ mới khác xuất hiện vào thập niên 1990 đó là Rocuronium,
có thời gian tác dụng trung bình nhưng khởi phát tác dụng gần bằng với
succinylcholin. Sau đó có thuốc dãn cơ Rapacuronium, có thời gian tác dụng và
khởi phát tác dụng bằng succinylcholin. Tuy nhiên, nhà sản xuất đã tự ý loại bỏ khỏi

thị trường vì có một vài báo cáo ghi nhận gây biến chứng co thắt phế quản, ngay cả
một vài trường hợp tử vong mà không giải thích được lý do.
2.5. Thuốc giảm đau trung ương
Ngồi các thuốc mê hô hấp, thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau cũng là
một trong các điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của ngành Gây mê hồi sức.
Morphin được chiết xuất từ cây thuốc phiện từ năm 1805 bởi Sertuner và về
sau cũng được thử nghiệm như một thuốc mê tĩnh mạch. Do tỷ lệ đe dọa tử vong và
7


tử vong cao khi sử dụng liều cao của morphin trong gây mê đã dẫn đến các nhà gây
mê tránh sử dụng, mãi cho đến năm 1939, meperidin (pethidine, dolargan) được
tổng hợp thì nhóm morphin mới được sử dụng lại trong gây mê.
Khái niệm “gây mê cân bằng” được ra đời do John Lundy giới thiệu cũng là
một bước phát triển mới của lĩnh vực gây mê, bằng cách dùng thiopental để khởi
mê, khí N2O để duy trì mê và làm quên đi mọi sự việc xảy ra trước và trong gây mê,
meperidin hoặc các dẫn chất khác của morphin để giảm đau và thuốc dãn cơ.
Năm 1969, Lowenstein quan tâm và nhen lại ngọn lửa sử dụng liều cao thuốc
phiện trong gây mê và đã giới thiệu lại khái niệm dùng liều cao của morphin như là
một kỹ thuật gây mê toàn thân, về sau các dẫn chất tổng hợp khác như fentanyl,
sufentanil, alfentanil lần lượt được dùng với một liều cao ngay từ đầu trong gây mê.
Vào thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một kỹ thuật gây mê mới được ứng
dụng là kỹ thuật “giảm đau-liệt thần kinh trung ương” bằng cách kết hợp hai nhóm
thuốc fentanyl và droperidol để gây mê tĩnh mạch hoặc mê tĩnh mạch kết hợp đặt
nội khí quản. Tuy nhiên, kỹ thuật này dần dần ít được sử dụng vì có tác dụng ức chế
hơ hấp sau mổ nếu dùng thuốc nhóm morphin liều cao.
Hiện nay, có loại morphin tổng hợp mới là remifentanil có thời gian tác dụng
ngắn, đặc biệt bị phá hủy nhanh tại huyết tương do men pseudocholinesterase, đã
tạo điều kiện thoát mê nhanh cũng như thuận lợi cho gây mê ở bệnh nhân có chức
năng thận kém là một tiến bộ mới về dược chất sử dụng trong ngành gây mê hồi

sức.
3. SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THIẾT BỊ GÂY MÊ
Hệ thống gây mê ban đầu: khi gây mê với ether, Morton đã sử dụng một chai
thủy tinh có cấu tạo đặc biệt với một ống thổi dính vào chai thủy tinh.
Ở Anh, John Snow đã phát triển hệ thống mới, có van để ngăn sự hít lại khí
thở ra, ông cũng đã sử dụng phương pháp hấp thu khí CO 2. Nhiều loại máy gây mê
đã được phát triển sau đó để cải thiện chất lượng máy gây mê và giúp thở cho bệnh
nhân. Việc sử dụng vôi soda để hấp thu CO2 cũng được sử dụng từ nửa đầu thế kỷ
XIX. Sự ra đời của thuốc mê bốc hơi như halothan cũng thúc đẩy việc sản xuất ra
các bình bốc hơi đặc biệt sử dụng riêng cho từng loại thuốc với độ chính xác cao và
được kiểm sốt một cách dễ dàng.
Mặt nạ và ống nội khí quản
Thơng khí khi gây mê khơng được kiểm sốt bằng các phương tiện đặc biệt
sau hơn 50 năm kể từ cuộc biểu diễn đầu tiên của Morton. Tử vong xảy ra nhiều
8


trong thời kỳ này lên đến mức báo động cao. Nguyên nhân chính là tắc nghẽn
đường thở. Friedrich von Esmarch đã mô tả việc nâng cằm là cần thiết để cứu sống
bệnh nhân khi bị tắc nghẽn đường thở, các loại mặt nạ cũng như airway ra đời.
Đầu tiên người ta tẩm ether vào một miếng xốp cho bệnh nhân hít, sau đó
một số mặt nạ khung đã được sử dụng, phổ biến nhất là mặt nạ Schimmelbusch.
Nhược điểm của các mặt nạ này là khí mê sẽ lan khắp phịng mổ, ơ nhiễm mơi
trường và lãng phí thuốc mê.
Mặt nạ Sibson là tiền thân của mặt nạ hiện đại, được làm bằng sắt đóng hộp
dẻo và bao bọc bởi găng tay, mặt nạ bao phủ cả mũi và miệng bệnh nhân. John
Snow nhanh chóng nhận ra sự vượt trội này và đưa vào thực tế lâm sàng.
Ống nội khí quản: trong thế kỷ XVIII, ống thơng vào khí quản đã được sử
dụng trong hồi sức, tuy nhiên việc đặt ống chỉ được thực hiện mị, khơng nhìn thấy
trực tiếp, và cũng không được sử dụng trong gây mê. Kỹ thuật mở khí quản để cứu

sống bệnh nhân tắc nghẽn đường thở cũng được thực hiện đầu tiên bởi Trousseau tại
Paris. John Snow đã dùng chloroform để gây mê qua ống mở khí quản ở động vật
và Friesrich Trendelenburg sử dụng kỹ thuật tương tự ở người. Sir William
Macewen là người đầu tiên đặt nội khí quản qua đường miệng để gây mê, ơng biểu
diễn ngày 05-7-1878 đặt nội khí quản mị qua đường miệng ở bệnh nhân tỉnh thành
cơng. Sau đó, Franz Kulon đã báo cáo việc đặt nội khí quản năm 1905 qua đường
mũi hoặc đường miệng đồng thời sử dụng hộp hấp thu CO 2, ông cũng đã đề xuất
việc sử dụng ống nội khí quản có bóng chèn. Việc sử dụng ống nội khí quản được
hồn thiện trong thập niên đầu của thế kỷ XX.
Kỹ thuật thơng khí một phổi được giới thiệu năm 1932 bởi Gale và Waters,
bốn năm sau đó Malfill giới thiệu dụng cụ chặn phế quản nhằm ngăn chặn sự tiết
dịch và nhiễm trùng từ phổi này sang phổi kia. Ống nội khí quản 2 nịng dùng cho
thơng khí một phổi được giới thiệu bởi Carlens năm 1949, sau đó có các ống nội khí
quản hai nịng sử dụng ngày nay như: Robertshaw dùng cho phổi trái, ống GreenGordon dùng cho phổi phải…
Đèn soi thanh quản
Đầu tiên việc đặt nội khí quản được thực hiện mù, bệnh nhân tỉnh để có thể
kiểm sốt được ống nội khí quản.
Kỹ thuật được cải tiến bắt đầu bởi Alfred Kirstein sau đó đến Chivalier
Jackson và Gustar Killian đã tạo ra đèn soi thanh quản cầm tay.
Sau đó các bác sĩ gây mê đã bắt đầu thiết kế đèn cho riêng mình sao cho phù
hợp với ống nội khí quản. Robert A. Miller thiết kế đèn soi thanh quản tương tự
9


Killian nhưng có đoạn cong ở đầu xa. Robert R. Macintosh đã tạo ra lưỡi đèn cong
sử dụng đến ngày nay.
Năm 1961, kỹ thuật khởi mê nhanh đã được mô tả bởi Brian A. Sellick,
phương pháp này liên quan đến việc ấn sụn nhẫn và chống trào ngược.
Trong vòng 30 năm qua, công nghệ mới được phát triển để đo độ sâu của gây
mê như điện não đồ, Bispectral (BIS) nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

4. SỰ HÌNH THÀNH TỔ CHỨC CHUYÊN NGÀNH GÂY MÊ-HỒI SỨC
4.1. Trên thế giới
Những hoạt động, thực hành gây mê-hồi sức và nguồn gốc để trở thành một
chuyên ngành của y học là xuất xứ từ nước Anh. Thật vậy, sau chứng minh trước
công chúng lần đầu tiên về việc sử dụng ether để gây mê ở Mỹ, sử dụng ether trong
gây mê đã lan rộng nhanh sang nước Anh. John Snow được đánh giá là cha đẻ của
ngành Gây mê hồi sức, ông là người bác sĩ đầu tiên đầu tư nhiều thời gian nghiên
cứu thuốc mê hơi này. Ông cũng là người đầu tiên thực hiện thăm dò khoa học đối
với ether và sinh lý học của gây mê toàn thân và là người đầu tiên chế tạo ra
phương tiện hô hấp nhân tạo và để sử dụng ether gây mê qua đường hô hấp. Năm
1847, Snow xuất bản cuốn sách thứ nhất về gây mê toàn thân với tiêu đề: “On the
Inhalation of Ether” và “On Chloroform and Other Anaesthetics” là cuốn sách thứ
hai của ông được xuất bản vào năm 1858.
- Sau khi John Snow qua đời Joseph T. Clover thay vào vị trí đầu ngành gây
mê hồi sức của Anh quốc. Ơng ln nhấn mạnh phải dõi liên tục mạch của bệnh
nhân trong lúc gây mê, một công việc thực hành mà không được chấp nhận rộng rãi
vào thời đó. Ơng là người đầu tiên mơ tả và thực hiện động tác nâng hàm trong
trường hợp bị tắc đường thở và cũng là người đầu tiên dùng thông nòng chọc qua
màng giáp nhẫn để cứu sống bệnh nhân bị tắc đường hô hấp do khối u trong miệng.
- Sir Frederick Hewitt cũng là một nhà gây mê lỗi lạc của nước Anh thời đó.
Ơng là người có nhiều phát minh các phương tiện dùng trong gây mê như là dụng
cụ khai thông đường miệng. Hewitt đã viết nhiều cuốn sách trong đó có cuốn
“Textbook of anesthesia” là cuốn sách đầu tiên thực sự viết cho gây mê và đã được
tái bản 5 lần.
Các ông Snow, Clover, Hewitt đã xây dựng nên “truyền thống của các bác sĩ
gây mê hồi sức” mà hiện nay vẫn còn tồn tại ở Anh quốc.
- Năm 1893, một tổ chức đầu tiên của những người làm chuyên khoa gây mê
được thành lập, đó là: “The society of Anaesthetists” (Hội của những người gây mê)
10



được J.F. Silk thành lập ở Anh. Sau đó ở Hoa kỳ một tổ chức đầu tiên của những
người làm gây mê được thành lập vào năm 1911 đó là “The Long Island Society of
Anesthetists”, tổ chức này về sau được đổi tên “New York Society of Anesthetists”
và trở thành tầm cỡ quốc gia với tên gọi: “American Society of Anesthetists” vào
năm 1936. Về sau, vào năm 1945 tổ chức này được đổi tên lại “American Society of
Anesthesiologists” (ASA). Ở Mỹ có ba bác sĩ gây mê nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX
trong lĩnh vực gây mê đó là: Arthur E. Guedel, Ralph M. Waters và John S. Lundy.
Guedel là người đầu tiên viết một cách tỉ mỉ về các dấu hiệu theo dõi trong gây mê
toàn thân sau mơ tả đầu tiên của John Snow. Chính ơng là người đề xướng sử dụng
bóng chèn của ống nội khí quản và là người giới thiệu phương thức thơng khí nhân
tạo trong gây mê, sau này Ralph Waters gọi là hơ hấp kiểm sốt. Ralph Waters là
người ln quan tâm và có cơng hình thành tổ chức huấn luyện, đào tạo chuyên
khoa gây mê hồi sức của Hoa Kỳ.
Mặc dù ngành gây mê hồi sức có một sự phát triển khơng ngừng, có một vài
tổ chức của ngành được hình thành ở Anh, Mỹ, nhưng sự cơng nhận chính thức tổ
chức gây mê đầu tiên là: “American Board of Anesthesiology” (nghiệp đoàn của
những người gây mê của Mỹ) vào năm 1937, dù rằng trước đó vào năm 1933 Ralph
Waters đã được phong giáo sư gây mê đầu tiên của Hoa Kỳ ở Đại học Wisconsin. Ở
Anh quốc cuộc thi lấy bằng gây mê đầu tiên vào năm 1935 và Sir Robert Macintosh
được phong chức giáo sư đại học về gây mê đầu tiên ở Đại học Oxford vào năm
1937 nhưng ngành gây mê hồi sức được cơng nhận chính thức vào năm 1947 khi
Khoa gây mê của Đại học Hoàng Gia các phẫu thuật viên Anh quốc được thành lập.
Ngày nay, tổ chức gây mê khơng cịn chỉ giới hạn trong một quốc gia mà đã hình
thành một tổ chức có tầm cỡ thế giới đó là Hội Gây mê hồi sức thế giới.
4.2. Tại Việt Nam
Ngành gây mê hồi sức Việt Nam được kế thừa từ những thành tựu của gây
mê hồi sức thế giới. Phát triển về gây mê ở Việt nam cũng khoảng hơn 50 năm trở
lại đây, tuy nhiên, để trở thành một chuyên ngành chính thức hoạt động trong nền y
học Việt Nam thì chỉ vào thập niên 1960. Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, phần

lớn những người làm công tác gây mê là những y tá hoặc kỹ thuật viên dưới sự điều
hành của phẫu thuật viên. Cho đến thập niên 1960, ngành gây mê hồi sức Việt Nam
mới thực sự có vị trí của mình.
Trước sự phát triển của ngành Gây mê hồi sức thế giới, nhu cầu của ngành
Ngoại khoa trong nước và của cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, một số bệnh viện
lớn thành lập Khoa gây mê hồi sức (khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Việt Đức
1962), tiếp đến tổ chức Hội gây mê hồi sức Việt Nam được thành lập vào thập niên
11


1980, sau đó các Khoa-Bộ mơn gây mê hồi sức ở các Bệnh viện, các Trường Đại
học lớn, dần dần được thành lập để đào tạo và thực hành gây mê nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển nhanh chóng của ngành Ngoại khoa Việt nam.
Hội Gây mê hồi sức ở Việt Nam được thành lập năm 1980 và không ngừng
phát triển trong đào tạo đội ngũ bác sĩ gây mê hồi sức cũng như thực hành lâm sàng.
Riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đội ngũ bác sĩ gây mê cịn rất
thiếu, phân bố khơng đồng đều, chủ yếu bác sĩ gây mê chỉ có ở các bệnh viện lớn.
Riêng tại khu vực thành phố Cần Thơ, một số bệnh viện lớn cũng chưa đủ bác sĩ
gây mê. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển chung của các chuyên ngành
ngoại khoa. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là một trong những cơ sở có tương
đối đủ nhân lực về chuyên ngành gây mê hồi sức đáp ứng được nhu cầu phục vụ
cho bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cũng như đào tạo nguồn nhân lực
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi lượng giá:
1. Ống nội khí quản được hồn thiện vào những năm:
a. Cuối thế kỷ XIX
b. Đầu thế kỷ XX
c. Sau sự xuất hiện của đèn soi thanh quản
d. Gần đây

2. Thuốc mê tĩnh mạch ra đời muộn nhất là:
a. Ketamin
b. Thiopental
c. Propofol
d. Etomidate
3. Nguồn gốc của chuyên ngành gây mê hồi sức trở thành chuyên ngành của y
học xuất phát từ:
a. Anh
b. Mỹ
c. Đức
d. Pháp

12


13


ĐẠI CƯƠNG VỀ VƠ CẢM
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1.

Trình bày khái quát được ưu và nhược điểm một số phương pháp gây mê.

2.

Trình bày khái quát được ưu và nhược điểm một số phương pháp gây tê.

3.


Nêu được cách chọn lựa một số phương pháp vô cảm cho bệnh nhân.

1. ĐẠI CƯƠNG
Vô cảm là những phương pháp làm cho bệnh nhân mất cảm giác tạm thời, có
hoặc khơng có mất ý thức kèm theo, còn được gọi là gây mê hồi sức.
Mục đích của gây mê hồi sức là làm bệnh nhân thoát khỏi sự đau đớn của
cuộc phẫu thuật, đồng thời sau đó phải được phục hồi hồn tồn, khơng để lại các di
chứng hay tai biến, biến chứng.
An toàn trong gây mê hồi sức phải được đặt lên hàng đầu đối với tất cả
những người làm công tác liên quan đến phẫu thuật-gây mê hồi sức.
Các phương pháp vô cảm để phẫu thuật ngày nay rất đa dạng, tùy từng bệnh
nhân cụ thể mà có thể lựa chọn phương pháp vơ cảm thích hợp.
2. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI:
2.1. Định nghĩa:
Vô cảm là làm cho bệnh nhân mất cảm giác một cách tạm thời để phẫu thuật
hoặc làm thủ thuật, các cảm giác sẽ phục hồi hoàn toàn sau một thời gian nhất định
tùy thuộc vào phương pháp vô cảm.
2.2. Phân loại: có hai loại vơ cảm
Vơ cảm tồn thể: (gây mê) là phương pháp làm mất cảm giác toàn thân
đồng thời mất ý thức. Sự mất cảm giác và ý thức chỉ có tính cách tạm thời, sau một
thời gian người bệnh sẽ hồi phục trở lại hoàn tồn, khơng để lại di chứng.
Vơ cảm vùng: (gây tê) là phương pháp làm mất hay giảm cảm giác ở một bộ
phận, một vùng của cơ thể một cách tạm thời nhưng khơng làm mất ý thức, người
bệnh vẫn tỉnh.
Có thể tóm tắt như sau: Vơ cảm = Mất cảm giác  Mất ý thức + An tồn
Trong đó, mất cảm giác là mục đích quan trọng hàng đầu.

14



Một phương pháp vô cảm tốt phải đạt những yếu tố sau:
- An thần: bệnh nhân bớt lo âu, gây ngủ, làm quên, an toàn cho bệnh nhân.
- Bớt đau: bệnh nhân ít đau hay khơng đau khi phẫu thuật.
- Chống những phản ứng bất lợi cho bệnh nhân: co thắt khí phế quản, dị ứng.
- Dãn cơ: các cơ mềm để động tác gây mê và phẫu thuật thuận lợi.
3. VƠ CẢM TỒN THỂ: GÂY MÊ
Làm mất hồn tồn cảm giác và ý thức bằng các loại thuốc mê, giảm đau, dãn
cơ được đưa vào cơ thể bệnh nhân.
3.1. Thuốc mê
Thuốc mê là những chất khi được đưa vào cơ thể người bệnh mà có khả năng
ức chế hệ thần kinh trung ương một cách tạm thời. Thuốc mê thường có những tính
chất sau đây:
- Làm mất ý thức: người bệnh sẽ trong tình trạng mê.
- Làm giảm hay mất cảm giác đau đớn.
- Làm giảm trương lực cơ, làm mềm cơ.
3.2. Cơ chế mê và phân loại thuốc mê
Cho đến nay, tất cả các giả thuyết đưa ra chưa giải thích được cơ chế rõ ràng
mà hầu như chỉ lý giải được những hiện tượng dựa trên những dữ kiện vật lý, hóa
học, sinh lý, sinh hóa thần kinh. Đặc biệt là những phản ứng lý hóa của thuốc mê
đối với màng sinh học và những thay đổi chức năng của tế bào thần kinh. Tác dụng
của thuốc mê là làm thay đổi cấu trúc của màng sinh học, làm thay đổi về chuyển
hóa hay chức năng sinh lý thần kinh, ngăn cản sự dẫn truyền thần kinh tại những
nơi tiếp hợp, đưa đến tình trạng mê.
Người ta phân ra làm hai loại: đường hô hấp và đường tĩnh mạch
3.2.1. Thuốc mê đường hô hấp
3.2.1.1. Thuốc mê thể khí: trong điều kiện bình thường về nhiệt độ và áp suất thuốc mê
ở thể khí như là Cyclopropan (C3H6); Protoxyde d’azote (N2O).
3.2.1.2. Thuốc mê bốc hơi: Trong điều kiện bình thường về nhiệt độ và áp suất,
thuốc mê ở thể lỏng, dễ bốc hơi  cần phải có bình bốc hơi thích hợp để sử dụng.
Các thuốc này gồm có: Ether, Halothan, Enflurane, Isofluran, Sevofluran,

Desfluran…

15


Đối với gây mê qua đường hô hấp, lúc khởi mê, người ta cho người bệnh thở
một hỗn hợp khí mê-oxy cao. Do nồng độ khí mê trong phế nang cao hơn trong
máu, khí mê sẽ khuếch tán qua màng phế nang-mao mạch để vào máu, nồng độ
thuốc mê trong máu sẽ tăng dần. Khi duy trì mê, tiếp tục cho người bệnh thở một tỷ
lệ khí mê/oxy thích hợp để nồng độ thuốc mê trong máu được duy trì. Khi giảm
nồng độ khí mê trong hơi thở vào, khí mê sẽ khuếch tán từ máu ra phế nang để thải
ra ngoài, nồng độ thuốc mê trong máu sẽ giảm xuống và người bệnh sẽ tỉnh lại dần.
3.2.2. Thuốc mê tĩnh mạch
Thuốc được đưa vào cơ thể người bệnh qua đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm
bắp. Các thuốc này hiện nay được sử dụng rất rộng rãi Thiopental, Ketamine,
Propofol, Etomidate…
Đối với gây mê tĩnh mạch, lúc khởi mê, người ta tiêm thuốc ngủ vào tĩnh
mạch, nồng độ thuốc mê trong máu sẽ lập tức tăng cao. Sau đó xâm nhập vào các
mô, người bệnh sẽ mê khi nồng độ thuốc mê đạt mức ức chế hệ thần kinh trung
ương. Muốn duy trì độ mê, cần tiêm thêm hoặc truyền tĩnh mạch với một liều lượng
thích hợp. Khi khơng cung cấp thuốc nữa, thuốc trong cơ thể sẽ được biến dưỡng, thải
ra ngoài, nồng độ thuốc mê giảm xuống và người bệnh sẽ tỉnh lại.
3.3. Các phương pháp gây mê
3.3.1. Gây mê mạng hở
Dùng mặt nạ Schimmelbusch (hình 2.1), là một khung bằng sợi kim loại,
được phủ nhiều lớp gạc, chụp kín mũi-miệng người bệnh và nhỏ giọt Ether,
Halothan đều đặn lên lớp gạc, thuốc mê bốc hơi. Người bệnh thở tự nhiên, hít vào
hỗn hợp thuốc mê và khí trời. Ngày nay khơng cịn áp dụng phương pháp này vì tốn
thuốc mê, oxy và gây ô nhiễm môi trường, chỉ cịn mang chỉ tính chất lịch sử.


Hình 2.1: Mặt nạ Schimmelbusch (nguồn Mike 2014)

16


3.3.2. Gây mê mặt nạ
Dùng mặt nạ (mask) bằng cao su hay chất dẻo, chụp kín mũi-miệng người
bệnh, cho thuốc mê và oxy vào đường hơ hấp. Người bệnh có thể tự thở hay được
giúp thở. Phương pháp này ngày nay còn áp dụng trong gây mê nhi khoa.
3.3.3. Gây mê tĩnh mạch
Dùng thuốc mê tiêm vào tĩnh mạch hay tiêm bắp, tiêm ngắt quãng hoặc
truyền tĩnh mạch liên tục nhờ những bơm tiêm tự động. Người bệnh có thể tự thở
hay được giúp thở bằng mặt nạ với không khí hay oxy nhưng khơng dùng thuốc mê
qua đường hơ hấp.
3.3.4. Gây mê nội khí quản
Dùng một ống nội khí quản đặt qua ngã miệng hay qua mũi người bệnh để
một đầu nằm trong khí quản. Thuốc mê sử dụng qua đường hơ hấp hoặc dùng thuốc
mê tĩnh mạch.

A

B
Hình 2.2. Gây mê nội khí quản

Hình A: Tổng thể về gây mê nội khí quản; Hình B: Vị trí ống nội khí quản
(Nguồn: Janet M. Torpy, MD; Cassio Lynm, MA; Robert M. Golub, MD
JAMA. 2011;305(10):1050. doi:10.1001/jama.305.10.1050)

3.3.5. Gây mê phối hợp cân bằng
Có thể dùng nhiều cách, kết hợp các kỹ thuật: đặt nội khí quản để kiểm sốt

hơ hấp; dùng thuốc an thần, thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau, thuốc mê đường

17


hơ hấp để duy trì độ mê; dùng thuốc dãn cơ để làm mềm cơ, với một tỉ lệ phù hợp
của mỗi loại thuốc sao cho người bệnh đạt độ mê thích hợp mà khơng cịn đau đớn,
ổn định về huyết động, sinh lý, hạn chế những xâm kích,… là phương pháp vô cảm
rất phổ biến hiện nay.
3.3.6. Phương pháp Jackson-Rees (hình 2.3)
Là phương pháp dùng ống Ayre, ống Y cải tiến bằng cách gắn vào đầu tự do
của ống một túi hơi có lỗ thốt nhỏ ở đầu đối diện, để hỗ trợ hay điều khiển hô hấp
khi cần thiết. Túi hơi thường có thể tích nhỏ và lưu lượng khí mê-oxy lớn để tránh ứ
đọng thán khí.
Thuận lợi: như ba phương pháp trên thêm vào đó là có thể hỗ trợ hô hấp nên
ngày nay rất được ưa chuộng dùng cho trẻ em.
Bất lợi: có thể tăng CO2 máu nếu sử dụng lưu lượng khí mới thấp.

Hình 2.3: Hệ thống Jackson-Rees (Nguồn: Anaesthesia UK)

3.3.7. Hệ thống đường vịng

Hình 2.4: Hệ thống vòng
Nguồn: Morgan & Mikhail’s Clinical Anesthesiology, 5th edition

18


Hệ thống đường vịng có gắn các van hít vào, van thở ra giúp cho luồng khí
mê, được hướng dẫn đi theo một chiều nhất định qua bình vơi hút thán khí. Hơi thở

ra của người bệnh gồm khí mê, oxy được chứa trong túi hơi để dùng lại. Hệ thống
này cũng có van để thải khí mê, oxy ra ngồi hệ thống đường vịng.
Người ta có thể gây mê với các thế:
3.3.7.1. Thế kín hồn tồn
Lượng oxy cung cấp vừa đủ cho nhu cầu cơ thể (300-400mL/phút). Người
bệnh hít lại hồn tồn hơi mình đã thở ra, bắt buộc có bình vơi soda để hút thán khí.
- Thuận lợi: Tiết kiệm khí mê, ít ơ nhiễm mơi trường, ít mất nhiệt, ít cháy nổ.
- Bất lợi: Tăng sức cản, rất dễ ứ đọng thán khí.
3.3.7.2. Thế nửa kín
Lượng oxy cung cấp nhiều hơn nhu cầu của cơ thể (1-2lít/phút). Người bệnh
hít lại một phần lớn hơi đã thở ra, phải cần có vơi soda để hút thán khí.
- Thuận lợi: ít ứ đọng thán khí.
- Bất lợi: Tốn thuốc mê hơn thể kín.
3.3.7.3. Thế nửa hở
Lượng oxy cung cấp khá nhiều (trên 7-8lít/phút). Người bệnh hít lại một
phần nhỏ hơi đã thở ra, trong hệ thống đường vịng có thể khơng cần vơi hút CO2.
3.3.7.4. Theo lưu lượng khí mới
- Lưu lượng thấp: 10-20mL/kg
- Lưu lượng trung bình: 20-40mL/Kg
- Lưu lượng cao: trên 40mL/Kg
4. VÔ CẢM VÙNG: GÂY TÊ
Dùng thuốc tê tiêm, thoa, hay xịt vào một vùng cơ thể làm mất cảm giác mà
không mất ý thức của người bệnh.
4.1. Thuốc tê: là các dược chất có đặc tính ngăn chặn luồng thần kinh dẫn truyền
khi thuốc tê tiếp xúc với mơ thần kinh ở nồng độ thích hợp. Sau một thời gian, chức
năng thần kinh phục hồi hồn tồn, khơng có tổn thương hay di chứng ở tế bào và
sợi thần kinh. Thuốc tê không làm mất ý thức, chỉ làm giảm hay mất cảm giác và
vận động.

19



×