Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự tại tòa án nhân dân cấp huyện ở tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (655.34 KB, 76 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ VĂN QUỲNH

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO
TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI TỒ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
Ở TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

NGHỆ AN, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ VĂN QUỲNH

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO
TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI TỒ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
Ở TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Ngọc Thắng


NGHỆ AN, 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tơi.
Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn

Lê Văn Quỳnh


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp “Bảo đảm quyền của bị cáo trong
xét xử các vụ án hình sự tại tịa án nhân dân cấp huyện ở Tỉnh Nghệ An”,
cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ từ phía nhà trường, giáo viên hướng dẫn, Ban lãnh đạo và cán bộ của Tòa
án nhân dân Tỉnh Nghệ An.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa
Luật, trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện trong quá trình học tập tại trường thời gian qua. Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến TS. Đinh Ngọc Thắng đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tơi
trong q trình thực hiện đề tài này.Thầy là người đã chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình cả về kiến thức và kỹ năng để giúp tơi hồn thành tốt luận văn của
mình.

Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn học viên trong nhóm,
cùng lớp và cùng khóa đã hỗ trợ và giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.
Tác giả luận văn

Lê Văn Quỳnh


iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
DANH MỤC BIỂU ........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TỒ ÁN NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN .......................................................................................... 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các
vụ án hình sự của Tồ án nhân dân cấp huyện .................................................. 6
1.2 Nội dung bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của
tồ án nhân dân cấp huyện .............................................................................. 12
1.3 Các yếu tố bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của
Tồ án nhân dân cấp huyện ............................................................................. 25
1.4 Phương thức bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của
Tồ án nhân dân cấp huyện ............................................................................. 26
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG

XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TỒ ÁN NHÂN DÂN CẤP
HUYỆN Ở TỈNH NGHỆ AN ......................................................................... 30
2.1. Khái quát về Tòa án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Nghệ An....................... 30
2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của
Tồ án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Nghệ An ................................................... 32
2.3. Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án
hình sự của Tồ án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Nghệ An................................ 38
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ
CÁO TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TỒ ÁN NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ............................... 49
3.1. Quan điểm bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của
Tồ án nhân dân cấp huyện ............................................................................. 49
3.2. Một số giải pháp bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình
sự của Tồ án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Nghệ An hiện nay ......................... 50
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 64
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 66


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT

Chữ viết tắt

Viết đầy đủ

1


BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

2

CQĐT

Cơ quan điều tra

3

HTND

Hội thẩm nhân dân

4

TNHS

Trách nhiệm hình sự

5

HĐXX

Hội đồng xét xử

6


TAND

Tịa án nhân dân

7

TANDTC

Tịa án nhân dân tối cao

8

TTHS

Tố tụng hình sự

9

VAHS

Vụ án hình sự

10

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

11


VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


v

DANH MỤC BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Tình hình thụ lý và giải quyết án hình sự sơ thẩm tại tịa án cấp
huyện tỉnh Nghệ An ........................................................................................ 33
Bảng 2.2. Tổng hợp các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung tại tòa án cấp huyện
tỉnh Nghệ An ................................................................................................... 34
Bảng 2.3. Tổng hợp các vụ án có kháng cáo kháng nghị tại tịa án cấp huyện
tỉnh nghệ An .................................................................................................... 36


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là vấn đề luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm.
Để đảm bảo quyền con người trong xã hội nói chung, các bản Hiến pháp của
nước ta đều đã có nhiều điều khoản nhấn mạnh quyền cơng dân trong đó khơng
thể khơng kể đến bảo đảm quyền cho bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự. Việc
Hiến pháp ghi nhận quyền bảo đảm của bị cáo càng thấy rõ hơn tầm quan trọng
của chế định này. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) nước ta cũng quy định và
ghi nhận quyền bảo đảm cho bị cáo nhằm khơng để bất kì người nào có thể bị
hạn chế hay tước quyền cơ bản mà pháp luật đã dành cho họ.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách,

các biện pháp nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự. Một trong các biện
pháp đó là khơng ngừng nâng cao năng lực xét xử, kiện toàn tổ chức, hoạt động
và phát huy vai trò của đội ngũ luật sư, cơ quan bổ trợ tư pháp. Qua đó bảo đảm
các bản án được tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vừa không làm oan
người vô tội. Những nỗ lực trên đây được ghi nhận trong Bộ luật hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003,
Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân (VKSND) năm 2014, Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng
TTHS năm 2015...
Những chủ trương của Đảng và Nhà nước đã có tác động tích cực đến
chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có chất lượng hoạt động
xét xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện. Tỷ lệ các vụ án hình sự của
TAND cấp huyện oan, sai, vi phạm tố tụng xâm phạm đến quyền của bị cáo
đang giảm. Tuy nhiên, trên thực tế, các quyền của bị cáo ở một số phiên tịa xét
xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện ở một số địa phương chưa được bảo
đảm. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận để có những kiến
nghị nhằm bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự


2
của TAND cấp huyện là nhiệm vụ cấp thiết.
Từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài: “Bảo đảm quyền của bị cáo
trong xét xử các vụ án hình sự tại tịa án nhân dân cấp huyện ở Tỉnh Nghệ
An” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích góp phần nhỏ trong
nghiên cứu khoa học về bảo đảm quyền con người trong TTHS trước yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài mà học viên chọn trên đây là một vấn đề mang tính thời sự được
nhiều nhà quản lý và nhà khoa học cũng như báo chí đề cập ở những khía
cạnh nhất định. Qua q trình tìm tài liệu để chuẩn bị đề tài Luận văn thạc sỹ

của mình, học viên đã tìm thấy một số tác phẩm liên quan đến đề tài đã chọn
như:
Hồ Nữ Hạnh Dung (2017) “Đảm bảo quyền của bị cáo từ thực tiễn xét xử
tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh”, Luận Văn Thạc Sỹ (Đại học vinh)
Lê Xuân Hoàng (2011)“TAND trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam”, Luận văn Thạc Sỹ (Đại học Luật Hà Nội).
Trần Văn Độ,“Xác định chức năng của tòa án trong việc giải quyết vụ án
hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
09, tr.9-12.
Trần Văn Độ,“Yêu cầu của cải cách tư pháp về xác định Tòa án là trung
tâm và hoạt động xét xử là trọng tâm và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa
đổi BLTTHS”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11, tr5-7
Ngô Thị Thanh (2013),“Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử
vụ án hình sự”, Luận án Thạc Sỹ (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội).
Chu Đức Thắng (2004)“Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ
án dân sự của TAND ở cấp huyện ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ (Học
viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh).
Tuy nhiên, qua tìm hiểu, những luận án, luận văn khoa học, sách chuyên


3
khảo, các bài viết nêu trên chỉ đề cập ở một vài khía cạnh nhất định về bảo đảm
quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự tại tịa án nhân dân cấp huyện
v.v.. Vì vậy, đề tài luận văn khơng trùng lặp các cơng trình đã được cơng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn bảo đảm quyền của bị cáo
trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện, luận văn đề
xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm quyền của bị cáo
trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện tại Nghệ An

hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên đây, luận văn thực hiện nhiệm vụ sau:

- Phân tích những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bị cáo trong xét
xử vụ án hình sự tại TAND cấp huyện ở tỉnh Nghệ An.

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử
các vụ án hình sự tại TAND cấp huyện ở tỉnh Nghệ An.

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của bị cáo trong
xét xử các vụ án hình sự tại TAND cấp huyện ở Tỉnh Nghệ An hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luận
văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền của bị cáo
trong xét xử các vụ án hình sự tại TAND cấp huyện. Từ đó, luận văn dựa trên cơ
sở khoa học và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm
quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự tại TAND cấp huyện ở Tỉnh
Nghệ An hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về không gian: Bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự


4
tại TAND cấp huyện được bảo đảm bằng pháp luật và thông qua việc thực hiện
trách nhiệm, nghĩa vụ của nhiều chủ thể trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của bị
cáo thông qua các vụ án hình sự của TAND cấp huyện.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt

động xét xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện; đặc biệt nghiên cứu, phân
tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các
vụ án hình sự của TAND cấp huyện từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) làm cơ sở
phương pháp luận; đặc biệt luận văn coi trọng những quan điểm, đường lối của
Đảng về cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử các
vụ án hình sự trong Cương lĩnh chính trị, các Văn kiện của Đảng từ Đại hội VI
đến đại hội XII.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng
cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu, như
phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
luật học so sánh, khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: kết quả nghiên cứu đề tài luận văn góp phần làm phong phú
thêm cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ


5
án hình sự tại TAND cấp huyện ở tỉnh Nghệ An.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài luận văn có thể cung cấp tài liệu
tham khảo có giá trị đối với các nhà hoạch định chính sách, xây dựng và thực
hiện pháp luật bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự tại
TAND cấp huyện; có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các học viên sau đại
học chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo. Nội dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương, như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bị cáo trong xét
xử các vụ án hình sự tại tịa án nhân dân cấp huyện ở Tỉnh Nghệ An
Chương 2. Thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án
hình sự tại tòa án nhân dân cấp huyện ở Tỉnh Nghệ An
Chương 3. Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của bị cáo trong xét
xử các vụ án hình sự tại tòa án nhân dân cấp huyện ở Tỉnh Nghệ An


6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò bảo đảm quyền của bị cáo trong xét
xử các vụ án hình sự của Tồ án nhân dân cấp huyện
1.1.1 Khái niệm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự
Quyền con người là những giá trị, chuẩn mực tuyệt đối, có tính khách quan
gắn bó với nhau trong mối tương quan biện chứng, vừa mang tính phổ biến
nhưng cũng có tính đặc thù, tính lịch sử - xã hội được thể hiện trong các lĩnh vực
chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được ghi nhận và bảo vệ bởi luật
quốc gia và luật quốc tế. Bảo đảm quyền con người là trách nhiệm của các quốc
gia. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Bị cáo tham gia tố tụng hình sự (TTHS), kể từ khi có quyết định đưa vụ án
ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của tịa án có hiệu lực pháp luật và bản
án đó phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định, bị cáo không đồng

nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm mà mới chỉ bị tình nghi là người đã
thực hiện hành vi phạm tội. Với tư cách là cá nhân, công dân, quyền con người
của bị cáo bao gồm những giá trị, những lợi ích về vật chất và tinh thần được
pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện phù hợp với các chuẩn mực pháp lý
quốc tế và tiến bộ xã hội. Theo Điều 50 BLTTHS năm 2003, bị cáo là người đã
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định: “Bị
cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và
nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”.[36]. Giữa hai BLTTHS
2003 và BLTTHS 2015 về cơ bản khái niệm bị cáo cũng khơng có điểm khác


7
biệt về thời điểm xác định tư cách bị cáo. Chỉ có điểm khác biệt là BLTTHS
năm 2015 đã bổ sung một chủ thể mới bị cáo là pháp nhân. Việc bổ sung này là
dựa trên yêu cầu khách quan của thực tiễn, trong đó những tổ chức là pháp nhân
thường có những hành vi phạm tội về các vấn đề như mơi trường, thuế, chứng
khốn, bảo hiểm... mà BLTTHS năm 2003 khơng có chế tài xử lý đối với pháp
nhân này mà chỉ áp dụng hình thức xử lý hành chính nên dẫn tới việc bỏ lọt tội
phạm. Việc quy định thêm chủ thể là pháp nhân đã khắc phục được những hạn
chế này và chỉ có pháp nhân thương mại mới chịu trách nhiệm hình sự.
Quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong tố tụng hình sự là một vấn đề rất quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp quá trình tiến hành tố tụng. BLTTHS năm 2015 đã có
những sửa đổi so với BLTTHS năm 2003, không những quy định cụ thể, rõ ràng
hơn mà còn mở rộng quyền của bị cáo giúp đảm bảo tính cơng bằng,cơng khai
trong việc thực thi pháp luật hình sự. Do đó quyền của bị cáo là những giá trị,
nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của bị cáo, phù hợp với chuẩn mực quốc tế
và quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật
khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong giai đoạn xét xử.
1.1.2. Khái niệm bảo đảm quyền bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự

của tịa án nhân dân cấp huyện
Bảo đảm quyền con người, quyền cơng dân là việc tơn trọng, ghi nhận
các quyền đó bằng pháp luật; đồng thời, các chủ thể (cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội, cá nhân) phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm, tạo điều kiện
cho chủ thể của quyền sử dụng, thụ hưởng các quyền đó trên thực tế.
Bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình sự của TAND là
việc ghi nhận, tôn trọng bằng pháp luật các quyền của bị cáo; đồng thời, thông
qua thực tiễn hoạt động xét xử tại phiên tòa các chủ thể thực hiện nghĩa vụ,
trách nhiệm và bảo vệ các quyền của bị cáo cũng như tạo ra các điều kiện cần
thiết để bị cáo sử dụng các quyền của họ theo quy định của pháp luật. Trong


8
những năm qua, hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS nhìn chung đã có
những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân
theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn
những hạn chế, tồn tại, vi phạm trong việc bắt người, giam, giữ, khám xét...;
vẫn cịn tình trạng xét xử oan sai chưa đúng người, đúng tội. Tình trạng đó
trước hết sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là
những quyền lợi rất quan trọng và cơ bản.
Cho nên, bảo đảm quyền con người trong hoạt động TTHS cần được
quan tâm ở mọi góc độ. Việc ban hành các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi
phải đi đôi với việc bảo đảm thực hiện các quy định đó trong thực tế. Việc
thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các chủ thể tiến hành
tố tụng trong đó Tịa án đóng vai trị trọng tâm. Với hoạt động xét xử và bản
án được thơng qua tại phiên tịa, mọi nghi ngờ, mọi vấn đề sẽ được làm sáng
rõ từ nội dung vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo. Bảo đảm quyền của bị
cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp huyện là việc ghi

nhận, tôn trọng bằng pháp luật các quyền của bị cáo; đồng thời, thông qua
thực tiễn hoạt động xét xử tại phiên tòa các chủ thể thực hiện nghĩa vụ, trách
nhiệm và bảo vệ các quyền của bị cáo cũng như tạo ra các điều kiện cần thiết
để bị cáo sử dụng các quyền của họ theo quy định của pháp luật.
1.1.3. Đặc điểm bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình
sự của Tịa án nhân dân cấp huyện
Những bảo đảm để thực hiện các quyền của bị cáo là biểu hiện của mức
độ bảo vệ quyền con người của một quốc gia. Điều 61 BLTTHS 2015 quy định
cụ thể các quyền của bị cáo với mục tiêu đảm bảo các quyền của họ khi tham gia
tố tụng, tránh các nguy cơ bị hạn chế, bị xâm phạm trong hoạt động TTHS. Bảo


9
đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự bao
gồm các đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất chỉ những quyền của bị cáo được ghi nhận trong BLTTHS thì
mới được bảo đảm.
Như đã phân tích ở trên, bảo đảm quyền của bị cáo dù không được
BLTTHS quy định thành một nguyên tắc riêng nhưng thông qua các nguyên tắc
cơ bản của BLTTHS 2015 như: Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều
9), Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 9), nguyên tắc xác định
sự thật của vụ án (Điều 15), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16), ... có thể thấy pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam đã ghi nhận một số quyền cơ bản của bị cáo.
Ngoài việc bảo đảm quyền tự bào chữa của bị cáo thì còn cần bảo đảm quyền
được mời người bào chữa cho bị cáo. Đặc biệt, đối với những vụ án có bị cáo là
người chưa thành niên phạm tội thì theo chính sách hình sự của Nhà nước ta Tịa
án phải chỉ định luật sư tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho họ.
Do vậy, trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự chủ thể tiến hành tố

tụng phải căn cứ vào các quy định về quyền của bị cáo được ghi nhận trong
BLTTHS để tạo điều kiện bảo đảm bị cáo được thực hiện các quyền của họ.
Thứ hai quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chủ yếu
được bảo đảm tại phiên tòa
Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động tố tụng nói chung và trong
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng luôn được đặt ra như một yêu
cầu và nhiệm vụ cấp thiết. Trong nhà nước pháp quyền, Tòa án là hiện thân của
cơng lý, có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, thực hiện quyền tư pháp.
Ngoài việc được quyền nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử trước khi vụ
án được xét xử thì ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có nhiều hoạt động
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi hoạt động giải quyết một nhiệm vụ trong


10
tố tụng theo luật định nên đây là giai đoạn biểu hiện rõ nét nhất, tập trung nhất
quyền của bị cáo. Bị cáo được sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền con người của
mình một cách cơng khai, dân chủ trước sự chứng kiến của các bên buộc tội, bên
gỡ tội, những người tham gia tố tụng khác và cả xã hội trên cơ sở có đầy đủ các
chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án qua đó, các quyền con người, quyền công
dân của bị cáo được bảo đảm.
Thứ ba bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đặt
trọng tâm vào trách nhiệm của cơ quan xét xử
Theo tinh thần cải cách tư pháp mà Bộ Chính trị đã đề ra tại Nghị quyết
48/NQ-TW ngày 24 tháng 05 năm 2005 và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02
tháng 06 năm 2005, khi xét xử Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên,
người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn và những người có quyền, lợi
ích hợp pháp để đưa ra phán quyết của mình. Điều đó khẳng định rằng lời khai
của bị cáo tại phiên tịa có ý nghĩa quan trọng đối với việc phán quyết của Tòa
án. Hội đồng xét xử có trách nhiệm đánh giá, kiểm tra, xác minh và sử dụng các

lời khai của bị cáo với ý nghĩa là chứng cứ, xác định việc truy tố của VKS là có
căn cứ hay khơng, bị cáo có phạm tội hay khơng, phạm tội gì và trách nhiệm
pháp lý ra sao? Điều đó đặt ra yêu cầu Thẩm phán phải có trình độ chun mơn,
có kinh nghiệm thực tiễn, có kỹ năng nghề nghiệp, có bản lĩnh vững vàng
mới thực hiện được việc thu thập, xác minh, đánh giá, sử dụng chứng cứ chứng
minh tội phạm.
Để làm được điều đó, khi tiến hành tố tụng, Thẩm phán phải tuân thủ hệ
thống các quy định của pháp luật để các quyền của bị cáo được đảm bảo tại
phiên tòa. Trong các giai đoạn xét xử, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa
phiên tòa là người trực tiếp tiến hành tố tụng, trước hết, phải bảo đảm để bị cáo
được hưởng đầy đủ các quyền tố tụng theo luật định. Khi xét thấy cần thiết,
Thẩm phán kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra triển khai các biện pháp cần thiết


11
để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của bị cáo trong q trình khai báo tại tịa. Đó
khơng chỉ là trách nhiệm cá nhân của người tiến hành tố tụng mà còn là người
đại diện của Tòa án, nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ công lý,
bảo vệ công dân, trừng trị các hành vi phạm tội đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
1.1.4 Vai trò của bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án
hình sự của tịa án nhân dân cấp huyện
Thứ nhất, bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ án
hình sự của Tịa án thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc
cải cách tư pháp vì quyền con người. Mọi cơng dân đều có quyền bình đẳng
trước pháp luật. Một người chỉ bị xem là có tội khi có Bản án, quyết định của
Tịa án có hiệu lực pháp luật. Do đó, q trình diễn ra phiên tịa thì quyền con
người, quyền công dân của bị cáo vẫn phải được bảo đảm trừ một số quyền bị
pháp luật hạn chế.
Thứ hai, bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ

án hình sự của Tịa án nhằm hướng tới một nền tư pháp hiện đại, tôn trọng và
bảo vệ các quyền con người. Trong điều kiện tồn Đảng, tồn dân ta đặt quyết
tâm chính trị đẩy mạnh q trình xây dựng và hồn thiện Nhà nước pháp quyền
thì yêu cầu đối với quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm là phải hết sức
chú trọng đến mục tiêu đề cao công lý, không làm oan người vơ tội, bảo vệ đầy
đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân, phải xem đây là
yêu cầu tối quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án.
Thứ ba, bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự nhằm hạn chế sự vi phạm trong quá trình áp dụng các chế tài hình sự
đối với bị cáo. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất kỳ hành vi hoặc sự tắc
trách nào mà khơng cấu thành tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay
pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay sự tắc trách đó. Cũng
khơng ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm


12
hành vi phạm tội được thực hiện (Điều 11 Luật Nhân quyền quốc tế). Tư tưởng
này được thể hiện trong BLTTHS 2015 và trở thành phương châm định hướng
được áp dụng ở tất cả các giai đoạn của TTHS, đặc biệt ở giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Do đó, trong các giai đoạn xét xử tại phiên tòa, đòi hỏi Thẩm phán,
HĐXX phải tuân thủ đúng các quy định về quyền của bị cáo để tránh các sai sót,
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
Thứ tư, bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự của Tịa án có vai trị bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tịa án được
cơng khai, minh bạch, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật trao
chức năng xét xử. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ cơng lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tòa án nhân dân nhân

danh Nhà nước đưa ra các phán quyết để quyết định trực tiếp tới sinh mệnh,
chính trị, kinh tế của con người cụ thể do đó, việc bảo đảm quyền của bị cáo
trong quá trình xét xử đóng vai trị vơ cùng quan trọng.
1.2 Nội dung bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử các vụ án hình
sự của tồ án nhân dân cấp huyện
Các quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được qui
định trong LTTHS và những bảo đảm thực hiện các quyền đó là biểu hiện của
mức độ bảo vệ quyền con người của một quốc gia. BLTTHS 2015 qui định cụ
thể các quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác với mục tiêu bảo
đảm các quyền của họ khi tham gia tố tụng, tránh các nguy cơ bị hạn chế, bị
xâm phạm trong hoạt động TTHS. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành tố tụng
hình sự nói chung và hoạt động xét xử của tịa án nói riêng, quyền của bị cáo và
những người tham gia tố tụng còn bị vi phạm dẫn đến việc xét xử khơng khách
quan, thiếu cơng bằng, cịn để làm oan người vơ tội. Vì vậy, hồn thiện pháp luật


13
TTHS và thực thi nghiêm chỉnh các qui định đó cũng như phải có biện pháp bảo
đảm có hiệu quả là những yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền con người.
Trong suốt quá trình phát triển của luật TTHS Việt Nam trước đây, quyền của bị
cáo chưa được xác định rõ ràng nên họ thường bị coi là có tội. Do đó, họ mặc
nhiên bị tước đi phần lớn các quyền của cơng dân. Cịn trong luật TTHS hiện
nay, với các nguyên tắc tố tụng xác định bị cáo là người chưa bị coi là có tội nên
pháp luật TTHS đã dành cho họ nhiều quyền hơn trong suốt các giai đoạn tố
tụng.
Mặt khác, xuất phát từ yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2002 của Bộ Chính trị xác định rõ hơn quyền của
những người tham gia hỏi cung bị cáo, tranh luận dân chủ tại phiên tòa để đảm
bảo thực hiện đầy đủ hơn các quyền của họ trong TTHS, góp phần nâng cao
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung

đầy đủ và thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể các quyền của bị cáo và quyền của bị
cáo được quy định tại khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015 được đảm bảo thực
hiện bằng các quy định khác của Bộ luật này, cụ thể bị cáo có các quyền như
sau:
1.2.1. Quyền được nhận các quyết định tố tụng theo quy định của
pháp luật
Các quyền này của bị cáo được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 61
BLTTHS 2015 và được đảm bảo thực hiện tại một số điều luật khác, bao gồm:
Thứ nhất, quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo là
người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, xét về lơ gic thì quyết định
đầu tiên mà bị cáo được nhận chính là quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do đó,
thời điểm bị cáo nhận được quyết định này là trước phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ
án hình sự. Quyết định đưa vụ án ra xét xử có tính chất pháp lý quan trọng, kể từ
thời điểm có quyết định này thì tư cách bị can của người bị buộc tội sẽ chấm dứt
và chuyển sang tư cách bị cáo. Và đây cũng chính là căn cứ để các cơ quan tiến


14
hành tố tụng áp dụng các biện pháp tố tụng đúng với tư cách cùa bị cáo.
Thứ hai, quyền được nhận quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn. Trong q trình xét xử, khi có căn cứ pháp luật và xét thấy cần
thiết hoặc không cần thiết áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì cơ quan tiến
hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015
các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo
lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo. Việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn có ảnh hưởng lớn đến quá trình giải quyết vụ án hình sự và hiệu quả
cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc ảnh hưởng
đến quyền tự do cá nhân và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng mục đích cuối

cùng vẫn là đảm bảo việc xác định sự thật vụ án. Mỗi biện pháp ngăn chặn đều
có những cách thức thực hiện riêng, ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến
quyền lợi của bị cáo.
Thứ ba, quyền được nhận quyết định đình chỉ vụ án
Trong giai đoạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi mở
phiên tòa sơ thẩm nếu người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố đối với vụ án khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại hoặc VKS rút tồn bộ quyết định truy tố hoặc có
căn cứ khác theo quy định của pháp luật thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ
vụ án. Bản thân bị cáo cũng có quyền được nhận quyết định này để họ biết vụ án
đã được đình chỉ, họ được trả tự do nếu họ đang bị tạm giam và thực hiện quyền
được bồi thường hoặc khôi phục các quyền lợi khác.
Thứ tư, quyền được nhận Bản án, quyết định của Tòa án.
Sau khi kết thúc phiên tịa, bị cáo có quyền được nhận Bản án, quyết định
của Tòa án. Theo quy định tại Điều 262 BLTTHS năm 2015, trong thời hạn
mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án sơ thẩm phải “giao” Bản án cho bị cáo,
VKS, người bào chữa. Bản án thể hiện kết quả xét xử của Tòa án. Do đó, trong


15
Bản án cần phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm phiên tòa; họ tên của
các thành viên HĐXX và Thư ký Tòa án; họ tên của Kiểm sát viên; họ tên, ngày,
tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần
xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi,
nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên
người bào chữa; họ, tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,
người đại diện hợp pháp của họ.
Có thể thấy rằng, theo quy định tại Điều 262 BLTTHS năm 2015 về việc
giao Bản án, nhà làm luật dùng từ “giao” chứ không phải “gửi” Bản án như
những trường hợp khác. Bởi lẽ, đây là những chủ thể quan trọng của vụ án hình

sự nên nhà làm luật mới quy định việc nhận Bản án là quyền của bị cáo và việc
giao Bản án cho bị cáo là nghĩa vụ của Tòa án. Giao Bản án cho bị cáo, người
bào chữa và VKS là để họ nhận được Bản án một cách chắc chắn đúng thời hạn
luật quy định, để họ thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị (đối với VKS) của
mình. Quy định trên đây của nhà làm luật là muốn nâng cao trách nhiệm của
Tòa án để đảm bảo quyền của các chủ thể nêu trên đặc biệt là bị cáo, tránh
trường hợp việc “gửi” Bản án có thể bị thất lạc, hoặc bị chậm do quá trình gửi
Bản án đến cho họ. Như vậy, Bản án là căn cứ pháp lý xác định bị cáo có
phạm tội hay khơng, tội danh của bị cáo, các căn cứ pháp lý chứng minh bị
cáo phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp sẽ áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo phải được nhận Bản án càng sớm càng có lợi cho họ, để trong thời hạn
mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có điều kiện biết rõ hơn nội dung
của Bản án hoặc quyết định của Tòa án, giúp họ có thể kháng cáo bảo vệ
quyền lợi của mình.
Thứ năm, quyền được nhận các quyết định tố tụng khác.
Các quyết định tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng ban hành ít nhiều đều
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của bị cáo. Bên cạnh được giao Bản án và những


16
quyết định trên, bị cáo còn được nhận quyết định chuyển vụ án, quyết định về
việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo. Việc pháp luật TTHS quy định bị cáo có
quyền được nhận các văn bản, quyết định tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong
q trình giải quyết vụ án hình sự và đảm bảo tốt việc thực hiện quyền tố tụng
khác của bị cáo. Quy định bị cáo có quyền nhận các văn bản, quyết định trên
giúp bị cáo nắm được diễn biến quá trình giải quyết vụ án, những quyền lợi mà
bị cáo được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện.
1.2.2. Quyền tham gia phiên tòa
Quyền này được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015
và cụ thể hóa tại Điều 290 bộ luật này, là việc bị cáo có quyền có mặt tại phiên

tịa xét xử của Tịa án. Điều này thể hiện sự bình đẳng, khách quan trong tố tụng
hình sự. Tại phiên tịa, bị cáo sẽ bình đẳng với Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra tài liệu, đò vật, yêu cầu và tranh luận
dân chủ tại tòa. Việc bị cáo tham gia phiên tịa khơng chỉ là quyền mà cịn là
nghĩa vụ. Điều 290 BLTTHS năm 2015 có quy định về sự có mặt của bị cáo tại
phiên tịa như sau: “Bị cáo phải có mặt tại phiên tịa theo giấy triệu tập của Tòa
án trong suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt khơng vì lý do bất khả kháng
hoặc không do trở ngại khách quan thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt vì lý do
bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hỗn phiên tịa. Nếu bị cáo
bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ
án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Nếu bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình
chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo”[36] Theo quy định trên,
nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hỗn phiên tịa. Trong trường
hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tịa mà khơng có lý do chính đáng thì sẽ bị áp giải.
Trường hợp bị cáo trốn, HĐXX tạm đỉnh chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra
tiến hành truy nã bị cáo. Trong trường hợp bị cáo bị bệnh tâm thần, hoặc bị
bệnh hiểm nghèo khác thì HĐXX tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi
bệnh. Quy định này thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, khi bị cáo


17
trong tình trạng khơng thể dự phiên tịa, thì việc đình chỉ vụ án chờ đến khi họ
khơi phục lại tình trạng sức khỏe bình thường là hồn tồn hợp lý.
1.2.3. Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ
Trong quan hệ tố tụng, mỗi chủ thể khác nhau có quyền và nghĩa vụ khác
nhau. Do vậy, việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho những chủ thể khác nhau
khi tham gia tố tụng là điều rất cần thiết. Việc xét xử vụ án hình sự tại Tịa án có
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bị cáo, chính vì vậy, việc giải thích
quyền và nghĩa vụ cho bị cáo là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Khi
biết được quyền và nghĩa vụ của mình, bị cáo sẽ chủ động thực hiện tốt hơn, đặc

biệt là quyền tự bào chữa; quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và quyền kháng
cáo.Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giải thích quyền và nghĩa vụ
cho bị cáo thuộc trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa trong thủ tục bắt đầu phiên
tòa. Tức là chỉ khi mở phiên tịa xét xử sơ thẩm thì bị cáo mới biết được quyền
của mình từ phía Tịa án. Có ý kiến cho rằng, đến khi mở phiên tịa sơ thẩm mới
giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo là muộn và chỉ mang tính hình thức vì
quyền và nghĩa vụ của bị cáo đã xuất hiện từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử của Tòa án. Nếu chờ đến khi phiên tòa xét xử diễn ra bị cáo mới được giải
thích rõ quyền và nghĩa vụ của mình thì điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện
quyền cũng như nghĩa vụ của bị cáo. Bởi số bị cáo hiểu biết quy định của pháp
luật về quyền và nghĩa vụ của họ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hơn nữa họ cũng ít
có điều kiện tìm hiểu quyền và nghĩa vụ của mình trước khi phiên tịa diễn ra.
Do khơng biết trước nên bị cáo thường khơng có sự chuẩn bị cho mình để thực
hiện các quyền một cách tốt nhất. Đặc biệt là các quyền quan trọng như quyền
tham gia phiên tòa. Nhiều trường hợp, bị cáo khơng có sự chuẩn bị để đưa ra
những tài liệu, đồ vật hay yêu cầu có ý nghĩa đối với việc gỡ tội cho bị cáo hay
xác minh sự thật vụ án.
1.2.4. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám
định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự


18
Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch của bị cáo được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 61 và ghi nhận
việc thực hiện tại Điều 49 và tại Điều 50 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đây là quyền tố tụng của bị cáo thể hiện rõ ràng ngun tắc “Bảo đảm sự vơ tư
của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng” quy định
tại Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Thứ nhất, quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng. Nhiệm vụ của
chủ thể tiến hành tố tụng là tìm ra sự thật vụ án một cách khách quan, tồn diện

và đầy đủ, trong đó u cầu khách quan được đặt lên hàng đầu. Mỗi chủ thể
khi tiến hành tố tụng có những vai trị nhất định trong việc giải quyết vụ án
hình sự. Tại phiên tịa, KSV sẽ phải chứng minh hành vi phạm tội có phải do bị
cáo thực hiện hay khơng, nếu có thì phạm tội gì và cần áp dụng khung hình
phạt nào. Nếu KSV chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo không đúng quy
định của pháp luật dẫn đến áp dụng sai khung hình phạt sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến danh dự, uy tín và quyền lợi khác của bị cáo. Việc xét xử do HĐXX tiến
hành có ảnh hưởng rất lớn đến quyền của bị cáo. Xét xử không được tiến hành
công khai hoặc xét xử theo ý kiến chủ quan của HĐXX sẽ ảnh hưởng không
nhỏ đến quyền lợi của bị cáo. Thư ký Tịa án có trách nhiệm phổ biến nội quy
phiên tòa, báo cáo với HĐXX những người được triệu tập đến phiên tòa và ghi
biên bản phiên tòa.
Thứ hai, quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch, người giám định.
Người phiên dịch, người giám định là hai chủ thể có vai trị quan trọng trong
việc xác minh sự thật vụ án được quy định tại Điều 60 và Điều 61 của Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003. Cũng như những người tiến hành tố tụng khác, khi người
phiên dịch, người giám định thuộc trường hợp phải từ chối tham gia tố tụng mà
không từ chối thì bị cáo có quyền u cầu thay đổi người giám định, người
phiên dịch. Danh sách những người tiến hành tố tụng được phản ánh trong quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét


×