BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ MAI
NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI
CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ MAI
NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI
CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Thị Hồ Quang
NGHỆ AN – 2018
Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
KHXH
: Khoa học xã hội
KHXH &NV: Khoa học xã hội và Nhân văn
Nxb
: Nhà xuất bản
TP.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang
đứng sau. Ví dụ: [79, tr.126] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu
tham khảo là 79, nhận định trích dẫn nằm ở trang 126 của tài liệu này.
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...... 1
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………….... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát..................................... 7
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………….... 7
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………... 8
6. Những đóng góp của luận văn....................................................................... 8
7. Cấu trúc luận văn…………………………………………………………...9
Chương 1
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI MIỀN NAM VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1965 – 1975
1.1. Khái lược về bối cảnh lịch sử và sự phát triển của văn xuôi giai
đoạn 1965 – 1975 ở miền Nam Việt Nam …………………………..10
1.1.1. Đặc điểm lịch sử, văn hóa - xã hội miền Nam Việt Nam giai đoạn
1965 – 1975…………………………………………………………...10
1.1.2. Đặc điểm văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975…….12
1.1.3. Những tác giả nổi bật của văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn
1965 – 1975…………………………………………………………...16
1.2. Hành trình sáng tạo của Nguyễn Thị Thụy Vũ……………………19
1.2.1. Tiểu sử………………………………………………………………...19
1.2.2. Những tác phẩm chính………………………………………………...21
1.2.3. Những đề tài nổi bật trong văn xi Nguyễn Thị Thụy Vũ…………..21
1.3.
Nhìn chung về nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị
Thụy Vũ……..…………………...…………………………………...24
1.3.1. Nhân vật nữ - kiểu nhân vật nổi bật trong văn xuôi của Nguyễn
Thị Thụy Vũ…….…………………………………………………….24
1.3.2. Nguyên nhân dẫn đến cảm hứng khám phá hình tượng nhân vật
nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ…………………………...…27
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM VÀ KIỂU DẠNG NHÂN VẬT NỮ
TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
2.1. Những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong văn xuôi của
Nguyễn Thị Thụy Vũ………………………………………………..31
2.1.1. Hấp dẫn về ngoại hình………………………………………………...31
2.1.2. Có số phận trớ trêu……………………………………………………37
2.1.3. Đời sống tinh thần khơng đơn giản…………………………………...44
2.1.4. Bản năng tình dục mạnh mẽ…………………………………………..48
2.2.
Một số kiểu nhân vật nữ nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị
Thụy Vũ................................................................................................54
2.2.1. Người phụ nữ truyền thống đầy ý thức trách nhiệm, bổn phận….……54
2.2.2. Người phụ nữ tân thời với lối sống “Mỹ hóa”………………………..59
2.2.3. Những cơ gái điếm............................…………………………………64
2.2.4. Những nữ sinh tỉnh lẻ…………………………………………………70
2.3. Sự tương đồng và khác biệt ở nhân vật nữ của Nguyễn Thị
Thụy Vũ với một số tác giả nữ cùng thời…...…………………...…74
2.3.1. Sự tương đồng ………………………………………………………..74
2.3.2. Sự khác biệt…………………………………………………………...77
Chương 3
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ
TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
3.1. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật…………………………...80
3.1.1. Đặt nhân vật vào những tình huống tâm lý…………………………...80
3.1.2. Chú ý khai thác sự đối lập giữa vẻ ngoài và nội tâm nhân vật………..84
3.1.3. Đặt nhân vật nữ trong quan hệ đối sánh với nhân vật nam…………...90
3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ………………………………………...94
3.2.1. Ngôn từ mang màu sắc Nam Bộ………………………………………94
3.2.2. Sử dụng lời thoại linh hoạt, dí dỏm…………………………………...99
3.3.
Nghệ thuật sử dụng giọng điệu…………………………………....107
3.3.1. Sử dụng giọng châm biếm, giễu cợt…………………………………107
3.3.2. Sử dụng giọng tâm tình……………………………………………...112
KẾT LUẬN………………………………………………………………..117
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………...………………………...119
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hai mươi năm (1954 -1975) là một đoạn đường dài đối với lịch sử
đương đại cũng như với văn chương Việt Nam. Cùng với tiến trình phát triển
của lịch sử văn học dân tộc, trên một nửa đất nước tính từ vĩ tuyến 17 đến đất
mũi Cà Mau, một giai đoạn văn học với nhiều đặc điểm khác biệt so với văn
học miền Bắc đã tồn tại và phát triển. Và trong hơn hai thập niên này, diễn
trình văn xi miền Nam khơng thẳng một đường, hướng tới một đích mà
quanh co, biến hóa khác thường. Cùng với sự phân hóa đa dạng đó, bộ phận
văn học miền Nam thời kì này đánh dấu sự xuất hiện của nhiều cây bút mới
với sức sáng tạo độc đáo, đáng chú ý là sự xuất hiện của một số nhà văn nữ.
Sáng tác của các cây bút nữ này thực sự mới mẻ về giọng điệu, ngôn từ; đặc
biệt là việc khai thác và thể hiện các yếu tố tình dục, bản năng, lối sống hiện
sinh.
1.2. Nguyễn Thị Thụy Vũ là một hiện tượng khá đặc biệt trong số
những văn sĩ miền Nam lúc bấy giờ. Bên cạnh Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn
Thị Hoàng và Trùng Dương, Thụy Vũ cũng là một trong số những cây bút
phụ nữ gây biết bao xao động trong văn giới. Với Nguyễn Thị Thụy Vũ, có
thể thấy mảng đề tài xuyên suốt trong những sáng tác của nhà văn là cuộc
sống sinh hoạt nông thôn miền Nam với nhiều bối cảnh của thập niên 1940.
Bên cạnh đó, ngịi bút nữ này còn chạm đến đề tài thời thượng về giới “ăn
sương”, các cô gái snack bar... khi Mỹ đổ quân vào miền Nam. Chỉ trong
khoảng thời gian 10 năm, bà đã cho ra đời 10 tác phẩm, gồm ba tập truyện
ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung
rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp
khuya, Ngọn pháo bơng, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên,
Chiều xuống êm đềm. Sự xuất hiện những tác phẩm này đã tạo ra một làn gió
2
mới cho nền văn chương miền Nam Việt Nam trong bối cảnh ngập tràn khói
lửa máu xương.
1.3. Xung quanh hiện tượng văn học Nguyễn Thị Thụy Vũ đã có khá
nhiều bài viết và cơng trình nghiên cứu, tìm hiểu. Song chúng tơi vẫn mạnh
dạn tìm một hướng đi mới để có thể hiểu sâu hơn nữa về những đứa con tinh
thần được xem là tâm huyết suốt một đời văn của bà. Đề tài về nhân vật
không phải là mới nhưng ở các cơng trình nghiên cứu trước chủ yếu mới chỉ
đề cập đến ở dạng khái lược. Đây cũng chính là lý do tại sao chúng tơi chọn
Nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ để làm đề tài nghiên
cứu của luận văn.
2. Lịch sử vấn đề
Tính từ khi Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện trên văn đàn văn học cho
tới ngày nay, đã có khơng ít những cơng trình nghiên cứu về truyện của bà.
Đặc biệt, từ năm 1971, khi tác phẩm Khung rêu được giải thưởng Văn học
miền Nam, tên tuổi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ được rất nhiều nhà nghiên cứu
miền Nam đề cập đến, trong đó có ba cơng trình đáng kể là: cuốn Mười khuôn
mặt văn nghệ hôm nay (bao gồm: Trịnh Công Sơn, Tuý Hồng, Nguyễn Thị
Thuỵ Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Tồn, Nhật Tiến, Thế Un,
Thế Phong, Bùi Giáng và Võ Hồng) của Tạ Tỵ xuất bản tại Sài Gòn năm
1973; cuốn Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 – 1970 (Song An, Mộng Sơn,
Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng
Dương và Nguyễn Thị Thuỵ Vũ) của Uyên Thao xuất bản tại Sài Gòn năm
1973; cuốn Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta gồm 45 cây
bút từ 1964 – 1973 do Nguyễn Đông Ngạc chủ trương, nhà xuất bản Sóng,
thực hiện vào năm 1974 đã đưa tên tuổi Nguyễn Thị Thuỵ Vũ trở thành cái
tên sáng giá. Về cơ bản, những cơng trình nghiên cứu này đề cập đến những
đặc điểm cũng như sự phá cách trong văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ xét
3
về phương diện nội dung lẫn nghệ thuật. Bên cạnh đó, một số cơng trình cũng
dụng cơng tìm hiểu về thế giới nhân vật rất đa dạng, đặc biệt là các nhân vật
nữ trong các sáng tác của bà. Có thể điểm lược một số ý kiến và cơng trình
nghiên cứu bàn đến sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ có liên quan đến
hướng nghiên cứu của đề tài.
Nhà phê bình Nguyễn Đình Tuyến trong cuốn Nhà văn hơm nay, tập 1
(Nxb Hội Nhà văn Việt Nam, 1969) đã nhìn thấy ở văn chương Nguyễn Thị
Thụy Vũ những giá trị có tính thời đại: “Truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ
thật là táo bạo. Đọc xong truyện, tôi nghĩ đây mới thật là những truyện trình
bày những sự kiện sống thực nhất của thời đại chúng ta. Thời đại này rồi sẽ đi
qua. Những cái gì của thời này nếu khơng ghi kịp thì ngày mai sẽ mất” [72].
Một nhận xét về văn của Thụy Vũ mà như lật ra một mảng đời sống xã hội
của miền Nam lúc bấy giờ. Có thể thấy, với nhận xét này, nhà phê bình đã
nhấn mạnh sự táo bạo của Nguyễn Thị Thụy Vũ khi dám mạnh dạn đi sâu
khai thác những mảng đề tài hiện thực một cách tận cùng.
Nhà văn, họa sĩ Tạ Tỵ trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (xuất
bản tại Sài Gòn năm 1973) cũng viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái
nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù. Những ý nghĩ
bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt quá ý nghĩ
của nhiều người” [73]. Những nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ
Vũ hầu như đều mang những ám ảnh ẩn ức, những cuồng khát về dục tình xác
thịt. Dù là những cơ gái bán phấn buôn hương, hay là những người phụ nữ
sống đúng theo lễ nghi thơng thường thì những ý nghĩ ấy vẫn như con sóng
ngầm và nó hồn tồn có đủ sức cơng phá, làm lung lay thậm chí phá vỡ đi
những thứ mà họ cố tình che giấu. Và điều đó cũng được chính ơng nêu ra ở
một trang khác của tác phẩm: “Thuỵ Vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài,
mỗi thể tài được hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu,
4
cũng như nỗi nhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước
mơ táo bạo về dục tình” [73]. Uyên Thao trong Các nhà văn nữ Việt Nam
1900 – 1970 (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973) cũng phát hiện được đặc trưng
nổi bật này trong truyện Thuỵ Vũ qua những nhận xét như sau: “Theo quan
điểm của Freud, chúng ta có thể cho rằng Nguyễn Thị Thuỵ Vũ là một người
bị dồn nén trầm trọng về tình dục” [57]. Dễ thấy, ngọn bút của Nguyễn Thị
Thuỵ Vũ có tính cách táo bạo, sống động vì vậy đã gây sự phân chia xôn xao
trong dư luận, một mặt là quan điểm phê phán về “tính cách sống sượng”,
“khiêu dâm” trong văn bà và mặt kia, ngược lại, là quan điểm đồng tình vì
cho rằng sáng tác của Thuỵ Vũ thể hiện thực trạng, lối sống, tâm lí con người
trong cuộc sống đương thời.
Uyên Thao trong Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 – 1970 (xuất bản tại
Sài Gòn năm 1973) cũng viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ như sau: “Nguyễn Thị
Thụy Vũ là một cây bút khá sắc bén và tinh tế, nhưng vẫn có những sơ hở
nặng nề của một tinh thần tùy hứng” [57]. Có lẽ những tác phẩm của Nguyễn
Thị Thuỵ Vũ, như bà từng chia sẻ, chỉ là sự ghi chép một cách hồn tồn tự
nhiên những gì bà đã được chứng kiến cho nên nó có vẻ mang tính tuỳ hứng.
Nhưng theo chúng tôi, không phải bởi thế mà văn chương Thuỵ Vũ thiếu đi
cái tinh tế và sắc sảo.
Võ Phiến, trong Văn học miền Nam tổng quan (xuất bản tại Hoa Kỳ
năm 1999) nói về sách của Nguyễn Thị Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ
phụ nữ nước ta trước đó khơng mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết"
[48]. Hãy cùng đọc bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ trong quyển 2 của bộ
biên khảo Văn học miền Nam do Văn Nghệ xuất bản: “Đàn bà cầm bút, đa số
viết chuyện tình ái hoặc lâm ly hoặc éo le, chuyện vui chuyện buồn loanh
quanh trong gia đình, giữa các chàng với các nàng v. v... Bà Nguyễn xơng vào
cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ sững sờ, nhăn
5
mặt. Ở nước ta, từ trước tới nay chuyện bà Nguyễn làm là chuyện của đàn
ông. Nam phái vẫn xông xáo hơn nữ phái. Chuyện kéo xe, người ngựa ngựa
người, chuyện làm đĩ, chuyện lục-xì, móc túi, đánh cướp, bn lậu v.v...
thường do các ơng tìm hiểu và kể lại cho nhau nghe. Các bà các cơ khơng tiện
tìm, khơng tiện kể, mà cũng khơng mấy thích nghe. Bà là người đàn bà khác
thường. Tôi ngờ không hẳn do năng khiếu, chẳng qua do một trường hợp
ngẫu nhiên. Có một độ, hình như lúc từ dưới tỉnh về Sài Gịn, bà dạy Anh văn
cho những cơ gái có cơng việc làm ăn giao thiệp với Mỹ, hay có chồng Mỹ.
Nhiều người trong số ấy đem tâm sự tỉ tê với bà. Cuộc đời và tâm sự của họ
xúc động bà, thành đề tài sáng tác của bà. Người đọc nhận thấy trong các
truyện của bà Nguyễn thỉnh thoảng có một cơ giáo Anh văn xuất hiện. Tình
cờ, vì lý do sinh kế, mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân đầu tiên ở xứ ta, về
phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực trạng xã hội ta
vào một thời điểm đặc biệt. Bà có vị trí riêng trong thời kỳ văn học bấy giờ”
[48].
Năm 2008, luận văn thạc sĩ của Hồ Khánh Vân trường Đại học Khoa
học Xã hội Nhân văn TP. HCM với đề tài Từ lý thuyết phê bình nữ quyền
nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm
1990 đến nay là một cơng trình khoa học nghiêm túc, có giá trị cũng đã đặt
vấn đề về ý thức nữ quyền trong các sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Ngồi ra, trên các website cũng có khơng ít những bài viết nghiên cứu
cũng như trình bày quan điểm của các tác giả, các nhà phê bình về cuộc đời,
văn nghiệp cũng như nội dung những sáng tác của nhà văn Nguyễn Thị Thụy
Vũ. Trong đó, đáng chú ý nhất có thể kể đến những bài viết của các tác giả
sau:
- Đồn Dự trong bài viết “Đơi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ”
đăng trên website đã đưa ra những thông tin khá đầy đủ về
6
cuộc đời lẫn sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ. Viết dưới dạng là
những ghi chép nên phần nào, bài viết có thể giúp cho người đọc có cái nhìn
khá chân thực về cuộc đời cũng như sáng tác của nữ nhà văn.
- Lam Điền trên website , nhân sự kiện nhà văn Nguyễn
Thị Thụy Vũ tái ngộ với độc giả sau một khoảng thời gian dài vắng bóng đã
có bài viết “Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ sau gần 50 năm ẩn dật” nhằm
thống kê các tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ cũng như những ý kiến đa
chiều về những sáng tác của bà. Qua những ý kiến thống kê đó, người đọc có
thể hình dung rõ hơn về nội dung cũng như phương châm sáng tác của
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và lí giải được vì sao những tác phẩm của bà có thể tạo
được ấn tượng mạnh trong lịng cơng chúng đương thời đến vậy.
- Hồ Trường An trong bài “Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị
Thuỵ Vũ” trên trang www.namkyluctinh.com cũng đã có những trình bày
khái quát về văn chương của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ trong bối cảnh văn xuôi
miền Nam đương thời. Bằng những dẫn chứng và sự phân tích sắc sảo, tác giả
bài viết đã khẳng định sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ bên cạnh những
nhà văn nữ đương thời đã tạo ra một làn gió mới góp phần làm sôi động hơn
cho đời sống văn học miền Nam lúc bấy giờ.
- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân với bài viết “Nguyễn Thị Thuỵ Vũ
đã trở lại” đăng trên website cũng đã giúp
người đọc có một cái nhìn tồn diện về văn chương Nguyễn Thị Thuỵ Vũ khi
khái quát lại những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật trong tất cả các sáng
tác của bà.
Có thể thấy, đã có khá nhiều cơng trình cũng như đề tài nghiên cứu về
truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ. Song các cơng trình đó chỉ mới dừng lại ở mức
nghiên cứu chung chung mà chưa đi sâu vào khai thác khía cạnh nhân vật nữ hình tượng nhân vật được coi là trung tâm và xuyên suốt trong các sáng tác
7
của bà. Trước tình hình đó, luận văn của chúng tơi sẽ đi sâu nghiên cứu hình
tượng nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ, với mong muốn
góp thêm một cách tiếp cận, lý giải khoa học về tác phẩm của bà.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân vật nữ trong văn xuôi của
Nguyễn Thị Thụy Vũ.
3.2. Phạm vi văn bản khảo sát
Luận văn khảo sát văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ, cụ thể các tác
phẩm sau đây:
- Ba tập truyện ngắn: Lao vào lửa (xuất bản năm 2016) (gồm 3 truyện:
Chiếc giường, Lao vào lửa và Đêm nổi lửa); Mèo đêm (xuất bản năm 2017)
(gồm 5 truyện: Một buổi chiều, Đợi chuyến đi xa, Mãnh, Nắng chiều vàng,
Mèo đêm); Chiều mênh mông (xuất bản năm 2017) (gồm 7 truyện: Chiều
mênh mơng, Tiếng hát, Lìa sơng, Cây độc khơng trái, Trơi sơng, Đêm tối bao
la và Lịng trần)
- Bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971)
(xuất bản năm 2016), Thú hoang (xuất bản năm 2016), Nhang tàn thắp khuya
(xuất bản năm 2016), Ngọn pháo bông (xuất bản năm 2017), Như thiên đường
lạnh (xuất bản năm 2017), Cho trận gió kinh thiên (xuất bản năm 2017),
Chiều xuống êm đềm (xuất bản năm 2017).
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là khảo sát, nghiên cứu, đánh giá hình tượng nhân
vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Từ đó đem lại một sự đánh
giá khách quan và đầy đủ hơn về vị trí, giá trị của văn xi Nguyễn Thị Thuỵ
Vũ từ một góc nhìn cụ thể.
8
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối cảnh văn xuôi
miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975.
- Chỉ ra đặc điểm và kiểu dạng của nhân vật nữ trong văn xuôi của
Nguyễn Thị Thụy Vũ.
- Chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn
Thị Thụy Vũ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng
các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích, xem xét
từng phương diện của đề tài thể hiện qua mười tác phẩm, từ đó rút ra những
đánh giá và nhận định khái quát.
5.2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Thiết lập và sắp xếp các vấn đề
một cách logic, khoa học; xem xét, đánh giá trong cấu trúc tổng thể của
chúng.
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu giữa các tác
phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ để khái quát thành các luận điểm và so sánh
Nguyễn Thị Thụy Vũ với một số nhà văn khác để thấy được nét chung và nét
riêng.
5.4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu về các giai đoạn
lịch sử, văn hoá mà truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ phản ánh; nghiên cứu các
tài liệu về văn hóa làm cơ sở tìm hiểu tư tưởng Nguyễn Thị Thụy Vũ và lí giải
về những thành cơng của nhà văn.
6. Những đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy
Vũ một cách hệ thống.
9
- Là tài liệu tham khảo có ý nghĩa khi nghiên cứu về Nguyễn Thị Thụy
Vũ và văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính
của luận văn được triển khai qua ba chương:
Chương 1: Sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối cảnh văn xuôi
miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975
Chương 2: Đặc điểm và kiểu dạng nhân vật nữ trong văn xuôi của
Nguyễn Thị Thụy Vũ
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong văn xuôi của
Nguyễn Thị Thụy Vũ
10
Chương 1
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ TRONG BỐI CẢNH
VĂN XUÔI MIỀN NAM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1965 – 1975
1.1. Khái lược về bối cảnh lịch sử và sự phát triển của văn xuôi giai
đoạn 1965 – 1975 ở miền Nam Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm lịch sử, văn hóa - xã hội miền Nam Việt Nam giai
đoạn 1965 – 1975
Với chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, ngày 21/7/1954, hiệp định Giơne-vơ được kí kết đã đánh dấu sự thắng lợi hồn tồn cơng cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp của nhân dân ta kéo dài trong suốt mười năm. Sau khi
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đất nước tạm thời bị phân
đôi. Ở miền Bắc, Đảng ta chủ trương đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội, làm
hậu phương vững chắc cho việc tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ ở
miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà. Ở miền Nam, chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa do Mỹ dựng lên dần dần hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ, xã hội
miền Nam cũng chuyển từ ảnh hưởng của thực dân Pháp sang ảnh hưởng của
chủ nghĩa thực dân mới. Có thể khẳng định, xã hội miền Nam Việt Nam lúc
bấy giờ đang trải qua những biến cố lớn lao trên tất cả các phương diện, từ
chính trị, xã hội đến kinh tế, văn hóa…
Về chính trị, có thể nói, miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975,
đặc biệt là giai đoạn sau 1963 ở trong tình trạng vơ cùng rối ren và hỗn loạn.
Chính phủ Ngơ Đình Diệm đang ở thời kỳ suy vong càng ngày càng bộc lộ
những mặt trái của nó. Chính sự khủng hoảng sâu sắc và trầm trọng này đã
kéo theo sự bất mãn lớn lao trong lòng nhân dân cũng như làm nảy sinh
những mâu thuẫn ngấm ngầm trong nội bộ chính quyền. Những cuộc đấu
tranh vũ trang, đấu tranh chính trị nổ ra liên tiếp kèm theo sự chia rẽ mỗi lúc
11
mỗi trầm trọng trong hàng ngũ quốc gia khiến chính quyền lúc bấy giờ khơng
cịn đủ sức kháng cự.
Một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến nếp sống và văn hố của
miền Nam lúc bấy giờ đó chính là sự xuất hiện của người Mỹ. Cùng với sự đổ
quân ồ ạt của Mỹ vào miền Nam là những tư tưởng, văn hoá phương Tây, văn
hoá Mỹ và lối sống Mỹ cũng được du nhập một cách nhanh chóng, tác động
rõ rệt đến đời sống văn hoá, tư tưởng của nhân dân miền Nam giai đoạn này.
Bên cạnh đó, cùng với sự du nhập của văn hoá Mỹ, nhiều trường phái triết
học, mỹ học, lý luận phê bình văn học Âu Mỹ hiện đại cũng tràn vào miền
Nam tạo nên một diện mạo văn hố vơ cùng đa dạng. Tuy nhiên, cũng chính
sự tiếp thu một cách vồn vã và thái quá này đôi khi lại gây ra một hậu quả tiêu
cực đó là nó dẫn đến nếp sống quá tự do, phóng túng. Từ đó, những quan
niệm về đạo đức xã hội cũng bị đảo lộn.
Như vậy có thể thấy, cùng những biến cố về chính trị với những cuộc
đảo chính, lật đổ và chiến tranh liên miên, tình hình kinh tế, xã hội của miền
Nam Việt Nam giai đoạn 1954, đặc biệt là từ 1965 đến 1975 cũng vô cùng rối
ren, phức tạp. Võ Phiến trong cuốn Văn học miền Nam tổng quan từng đưa ra
nhận xét như sau: “Thời kì 1954 – 1975 mở đầu tưng bừng, kết thúc bi đát.
Trong hai mươi năm ấy, miền Nam trải qua nhiều diễn biến dồn dập, và toàn là
những diễn biến lớn lao, ảnh hưởng đến xã hội, đến đời sống mọi người một
cách sâu xa. Thật vậy, những cuộc di cư hàng triệu người từ Bắc vào Nam, rồi
hàng triệu người từ Việt Nam sang Tây phương là chuyện chưa từng xẩy ra
trong lịch sử dân tộc, cũng là chuyện hiếm thấy trong lịch sử nhân loại; cuộc
chiến tranh quốc cộng giữa Nam Bắc Việt Nam vừa rồi là một cuộc chiến tranh
cực kỳ ác liệt tàn nhẫn; sự có mặt của hàng triệu quân nhân Mỹ tại miền Nam,
cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Việt với nếp sống Mỹ là một kinh nghiệm
hoàn toàn mới mẻ đối với dân tộc ta... Một tình hình như thế nhất định phải đưa
12
đến những thay đổi sâu xa trong tâm hồn chúng ta [48, tr.82]. Có thể thấy, chỉ
thơng qua một lời nhận xét ngắn gọn, Võ Phiến đã khái quát về tình hình chính
trị - xã hội cũng như lịch sử, văn hố của miền Nam Việt Nam trong vịng hai
mươi năm, từ 1954 đến 1975 một cách khá trọn vẹn.
1.1.2. Đặc điểm văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975
Cùng với sự sôi động về lịch sử - văn hoá – xã hội, văn học miền Nam
Việt Nam lúc bấy giờ cũng ghi dấu ấn khá sâu sắc của một sự chuyển biến
toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, bước sang giai đoạn cuối những
năm 60, người ta có thể ghi nhận nhiều thay đổi quan trọng trong văn học
nghệ thuật miền Nam. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ điểm qua
những đặc điểm lớn trong thể loại văn xuôi trên một số phương diện cơ bản:
Thứ nhất, về lực lượng sáng tác.
Trong bài nghiên cứu: “Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn
1954 – 1975” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 5/2007), Nguyễn Thị
Thu Trang đã đưa ra một thống kê về sự phát triển của lực lượng các tác giả
văn xuôi miền Nam giai đoạn này như sau: “Năm 1973, trong cuốn Văn học
và tiểu thuyết của Dỗn Quốc Sỹ, có bản thống kê gọi là "Đồ biểu văn xuôi
Việt Nam”, tác giả ghi tên khoảng 50 tác giả văn xuôi ở miền Nam giai đoạn
từ 1954 đến 1973 cùng với các tác phẩm tiêu biểu của họ (bao gồm tác phẩm
thuộc thể "truyện" và cả các cơng trình khảo cứu văn hóa, lịch sử). Năm 1986,
trong cuốn Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần tổng quan)
của Võ Phiến, ở phần thống kê cuối sách, người đọc tính được 267 tác giả
trong đó hơn hai phần ba là tác giả văn xuôi. Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá
trong tác phẩm Nhìn lại một chặng đường văn học đã qua, riêng trong phần
tuyển chọn tác phẩm của các cây bút có xu hướng "tiến bộ, yêu nước" ở vùng
đô thị miền Nam, đã đưa ra đến 60 tác giả văn xuôi... So sánh với đội ngũ nhà
văn thời tiền chiến từ 1913 đến 1945 trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ
13
Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Cao Huy Khanh cũng cho rằng số lượng các tác
giả văn xuôi giai đoạn sau 1954 ở miền Nam rất lớn, lên tới 200 người” [67].
Như vậy, dù những con số đưa ra có thể chưa hồn tồn chính xác,
nhưng căn cứ vào bản thống kê trên, chúng ta có thể hình dung một cách rất
rõ ràng về sự thay đổi trong lực lượng sáng tác của bộ phận văn xi miền
Nam. Có thể khẳng định đội ngũ các nhà văn trong dòng văn học miền Nam
giai đoạn này phát triển hết sức mau lẹ. Chỉ tính theo số năm thống kê dựa
trên khảo sát của các nhà nghiên cứu nói trên, người đọc cũng dễ dàng nhận
thấy được sự tăng lên nhanh chống của các tác giả văn xi theo thời gian. Họ
có thể là những nhà văn đã thành danh trước đó và vẫn tiếp tục con đường
sáng tác của mình như Vi Huyền Đắc, Vũ Bằng, Nhất Linh, Thanh Tâm
Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh..., cũng có thể là những nhà văn
thuộc thế hệ trẻ xuất hiện sau 1964 như Hồ Minh Dũng, Nguyễn Mộng Giác,
Trần Hoài Thư, Lê Văn Thiện... Bên cạnh đó, một hiện tượng văn học cũng
được dư luận quan tâm lúc bấy giờ đó là sự xuất hiện của hàng loạt những nhà
văn nữ như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn
Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH... Những người phụ nữ hiện diện giữa bầu trời
văn học đã góp phần tạo ra một làn gió mới, một sức sống mới cho văn học.
Mỗi nhà văn chọn một hướng đi riêng và xác lập được cho mình một phong
cách riêng. Tất cả họ đã cùng nhau tạo ra một diện mạo vô cùng sôi động cho
bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954, đặc biệt là giai đoạn từ 1965 –
1975.
Thứ hai, về tác phẩm.
Có thể khẳng định một điều rằng, tác phẩm văn xuôi trong bộ phận văn
học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 phát triển rất nhanh kể cả về số lượng
lẫn chất lượng so với giai đoạn trước đó. Về số lượng, để chứng minh cho sự
tăng lên nhanh chóng của các tác phẩm, chúng ta cũng có thể dựa vào những
14
con số thống kê của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang được đưa ra trong bài
nghiên cứu nói trên. Cụ thể, tác giả viết: “Tạ Tỵ viết hai tập Mười khuôn mặt
văn nghệ hôm nay giới thiệu sự nghiệp văn nghệ và tác phẩm của 20 nghệ sĩ
mà ông cho là thành đạt nhất ở miền Nam, trong đó có tới 13 tác giả văn xuôi,
chiếm gần hai phần ba... Từ số đầu tiên ra ngày 15/01/1957 đến số cuối cùng
là số 426 ra ngày 19/4/1975, ước tính có hơn 600 truyện ngắn, truyện dài, tiểu
thuyết, tuỳ bút, tiểu luận... của nhiều tác giả, đã được in trên Bách Khoa. Trên
tập san Văn do ơng Nguyễn Đình Vượng chủ trương, con số trên cịn tăng gấp
đơi, gấp ba vì mục đích tập san này chỉ là in tuyển, giới thiệu tác phẩm văn,
thơ. Một tạp chí khác hoạt động ngắn ngủi, chỉ trong vòng hơn hai năm từ
1970 đến 1972 như tờ Trình Bày trong 42 số đã đăng khoảng gần 80 truyện
ngắn, trung bình gần hai truyện trên một số. Có thể dẫn chứng thêm, như nhà
văn Bình Ngun Lộc có khoảng 1000 truyện ngắn và nhiều tiểu thuyết,
truyện dài khác; như học giả Nguyễn Hiến Lê tính đến năm 1975 có đúng 100
đầu sách các loại đã được xuất bản” [67]. Như vậy, chính sự phát triển của
các tờ báo đã có vai trị cực kỳ quan trọng trong việc phổ biến các tác phẩm
văn xuôi đến với độc giả. Nhờ có mơi trường phát triển và truyền bá, chính
điều đó đã góp phần kích thích sự sáng tác của các nhà văn khiến các tác
phẩm văn xuôi giai đoạn này xuất hiện một cách vượt trội so với các giai đoạn
khác.
Về chất lượng, có thể thấy, các tác phẩm văn học giai đoạn này cũng
đạt đến tính nghệ thuật cao hơn. Đặc biệt các nhà văn luôn có ý thức trong
việc mở rộng đề tài cũng như thể loại sáng tác. Về thể loại, tác phẩm văn xuôi
giai đoạn này được sáng tác trên rất nhiều thể loại khác nhau. Có những nhà
văn trung thành với những thể loại cũ như tiểu thuyết dài tình cảm, những
chuyện gay cấn ly kỳ... Một số nhà văn lại chọn sáng tác theo thể tuỳ bút,
đoản văn, những bài nghị luận chính trị trên các tuần báo. Cũng có nhà văn lại
15
chủ yếu sáng tác theo các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết... Bên cạnh đó, các
tác giả cũng ln có ý thức mở rộng đề tài trong sáng tác. Họ khơng cịn tập
trung và những đề tài mang tính chất cổ điển như trước mà chủ yếu khai thác
các đề tài từ hiện thực, tái hiện trong tác phẩm những bức tranh cuộc sống
chân thực nhiều khi đến trần trụi. Chính điều đó phần nào đáp ứng được nhu
cầu, thị hiếu đang dần thay đổi của người đọc lúc bấy giờ.
Thứ ba, về các bộ phận và khuynh hướng phát triển.
Sự hình thành và phát triển của bất kì một nền văn học nào cũng phải
bao gồm hai nhân tố. Thứ nhất, đó là sự kế thừa và tiếp tục phát huy những
giá trị truyền thống đã hình thành trước đó. Thứ hai, bên cạnh những cái cũ,
mỗi nền văn học cũng luôn tuân theo quy luật tự vận động khi hình thành nên
những giá trị hay khuynh hướng phát triển mới phù hợp với yếu tố thời đại.
Bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng khơng nằm ngồi
quy luật đó. Cụ thể khi nghiên cứu văn xi giai đoạn này, chúng ta có thể
nhìn thấy hai dòng văn học cùng song song tồn tại và phân biệt nhau một cách
rõ rệt. Thứ nhất đó là những nhà văn thuộc dịng văn xi truyền thống. Đây
là những tác giả không khác trước là mấy về tư tưởng nghệ thuật lẫn quan
điểm xã hội, nghĩa là vẫn phản ánh các vấn đề đạo đức, tình cảm, tâm lý... con
người như các nhà văn của giai đoạn trước 1945. Tiêu biểu cho dịng văn xi
này có thể kể đến Sơn Nam, Bình Ngun Lộc, Nguyễn Mạnh Cơn, Nhất
Hạnh, Nguyễn Mộng Giác, Lê Tất Điều, Doãn Quốc Sỹ... Song bên cạnh đó,
ứng với hồn cảnh xã hội rối ren và nhiều biến động lúc bấy giờ, các giá trị
đạo đức, như đã nói ở trên, dường như bị đảo lộn, chính vì vậy, văn chương
với tư cách là tấm gương phản chiếu hiện thực đã tự vận động và nảy sinh ra
một dịng mới. Đó chính là các tác phẩm đi vào phản ánh bức tranh hiện thực
đương thời, phản ứng, chống đối lại cái truyền thống. Tiêu biểu cho dịng văn
xi này là các nhà văn như: Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu,
16
Nguyễn Thị Hoàng, Trần Thị NgH, Huỳnh Phan Anh, Lệ Hằng, Nguyễn
Đơng Ngạc, Chu Tử... Nói về khuynh hướng phát triển này, Võ Phiến trong
cuốn Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần Tổng quan) có đưa
ra nhận xét như sau: "Vượt ra ngoài phạm vi tiểu thuyết, phạm vi văn nghệ;
sự chống đối ấy bao trùm cả nếp sống trong xã hội, cả nếp tư tưởng, cả phong
cách con người, cả bút pháp các nhà văn như chúng ta đã thấy" [47, tr.267].
Chính những chiều hướng phát triển này đã tạo nên một đời sống văn học vô
cùng sơi động và góp phần hình thành nên diện mạo vô cùng phong phú cho
bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.
1.1.3. Những tác giả nổi bật của văn xuôi miền Nam Việt Nam giai
đoạn 1965 – 1975
Như đã trình bày ở trên, văn học miền Nam trong vòng 20 năm (1954 1975), mà đặc biệt là văn học giai đoạn 1965 -1975 không hướng một đường,
thẳng một đích mà có sự phân hố một cách đa dạng với nhiều khuynh hướng,
nhiều trào lưu khác nhau. Nằm chung trong bối cảnh đó, văn xi miền Nam
giai đoạn này cũng có sự phân hố đa dạng, kể cả về đề tài, chủ đề, khuynh
hướng, cảm hứng sáng tác... Trong đó, khơng thể khơng kể đến sự phân hố
vơ cùng rõ rệt của lực lượng sáng tác làm nên diện mạo nền văn xi miền
Nam giai đoạn này. Có thể thấy, sau 1954, ở miền Nam phân biệt hai lớp trí
thức văn nghệ sĩ:
Thứ nhất đó là những cây bút kì cựu đã từng hoạt động và nổi danh từ
trước. Tiêu biểu cho lớp nhà văn thuộc thế hệ “cũ” này có thể kể đến các cây
bút như: Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Tam Lang, Nguyễn Vỹ, Đỗ Đức Thu, Vi
Huyền Đắc, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Tạ Tỵ,
Lý Văn Sâm, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Lê Văn Siêu, Phi Vân, Phú
Đức, Lê Văn Trương, Nguyễn Đức Quỳnh ... Các nhà văn thuộc thế hệ này,
họ vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình. Tuy nhiên, do tính chất của thời
17
đại cũng như sự thay đổi về mặt thị hiếu của công chúng cho nên những tác
phẩm của họ không còn đủ sức để thu hút người đọc như trước. Lối viết cũng
như những vấn đề mà những nhà văn này tập trung khai thác dường như
khơng cịn phù hợp với thời đại khiến cho những hoạt động sáng tác của họ
cũng trở nên cầm chừng.
Bên cạnh thế hệ nhà văn đã trở nên quen thuộc này, nền văn xuôi miền
Nam còn ghi dấu sự xuất hiện của một loạt những cây bút trẻ, những người
vừa mới bắt đầu sự nghiệp sáng tác và nổi danh ở giai đoạn sau năm 1954,
chính xác hơn là những năm sau 1963. Và điều đáng nói ở đây là những cây
bút thuộc thế hệ sau này lại chính là những người làm nên một diện mạo hồn
tồn khác hẳn cho nền văn xi miền Nam giai đoạn này. Họ đã đưa đến một
lối viết mới cũng như hướng những tác phẩm của mình vào việc phản ánh
những vấn đề mang tính thời đại. Họ nắm bắt được quy luật vận động của nền
văn học, thị hiếu của công chúng cũng như phản ánh kịp thời những vấn đề
nóng hổi xã hội vào văn học. Tiêu biểu cho lớp nhà văn trẻ này là: Bình
Ngun Lộc, Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Dỗn Quốc Sỹ, Thanh
Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Mạnh Cơn, Sơn Nam,
Võ Hồng, Nguyễn Đình Tồn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật
Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều,
Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo
Trường, Nguyễn Xn Hồng, Nguyễn Mộng Giác, Ngơ Thế Vinh, Mặc Thu,
Mặc Đỗ, Phan Du, Duy Thanh, v.v... Đặc biệt, đó là sự xuất hiện của một loạt
những cây bút nữ như: Nguyễn Thị Vinh, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị
Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị Ngh, Linh Bảo,...
Về giới cầm bút thuộc thế hệ này, Nguyễn Văn Trung trong một bài
nghiên cứu của mình có viết: "Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi
1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng lớn lên ở
18
miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút
này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế,
Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại
học tư ở Sài Gòn như Vạn Hạnh, Minh Đức... Họ trưởng thành về tuổi đời và
nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị, xã hội chiến
tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngồi. (...) Do đó, họ
có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của
đàn anh họ viết từ trước 1963. (...) [70]. Sáng tác của những cây bút trẻ lúc
bấy giờ thực sự mới mẻ về giọng điệu, về đề tài. Các nhà văn này, một số
người tìm cách xây dựng tư tưởng trên nền triết học hiện đại, đưa con người
về hướng tìm hiểu chính mình, nhận thức chính mình, đi vào đào sâu thêm
nhiều vấn đề trọng yếu của con người, của đất nước, đặt lại vấn đề chiến tranh
như Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu...; một số khác chú tâm thể hiện
sự chán chường cũng như cuộc sống vật vờ trong say sưa, nơi vũ trường thành
thị khi xã hội đang phải tiếp nhận và chịu ảnh hưởng quá lớn của lối sống
phương Tây như Mai Thảo; một số lại đi vào miêu tả vùng bản năng sâu kín
của tính dục như Võ Phiến. Những tác giả nữ như Nguyễn Thị Hoàng, Túy
Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương, Nhã Ca, Trần Thị Ngh,... lại đánh dấu sự có
mặt của mình một cách đầy táo bạo khi đi vào xây dựng hình tượng những
nhân vật nữ mang trong mình những đặc điểm của người phụ nữ thời đại. Đó
là những người phụ nữ đang phải đứng giữa ranh giới của cái cũ và cái mới,
phải “chao đảo trước một thứ nữ quyền vừa thành hình qua sự nhận diện thân
xác, và bị dằn vặt trong một xã hội vẫn còn chưa hẳn thốt khỏi đạo lý Khổng
Mạnh” [27]. Nó tạo thành một dòng riêng biệt so với văn chương mà những
nhà văn thuộc thế hệ đi trước đã từng tạo dựng.
Như vậy có thể thấy, mỗi nhà văn, dù thuộc thế hệ nào đi chăng nữa, họ
cũng chọn cho mình một lối đi, một vùng khai phá riêng. Nhưng chính sự đa