Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Tư vấn và xét nghiệm di truyền cho người có nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng di truyền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (288.36 KB, 10 trang )

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2

TƯ VẤN VÀ XÉT NGHIỆM DI TRUYỀN CHO NGƯỜI CÓ NGUY CƠ
UNG THƯ VÚ VÀ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG DI TRUYỀN
PHAN THỊ HỒNG ĐỨC1
MỞ ĐẦU
Mặc dù hầu hết ung thư vú và buồng trứng là
đơn lẻ, khoảng 6% ca ung thư vú và 15% ung thư
buồng trứng gây ra do các thay đổi sinh bệnh (gây
hại) ở các gen nhạy cảm ung thư vú 1 (BRCA1)
hoặc (BRCA2). Các yếu tố di truyền khác chiếm tỉ lệ
thấp trong ung thư vú và ung thư buồng trứng.
Các cá thể nhất định với tiền căn gia đình bị
ung thư vú hoặc buồng trứng có thể có lợi ích từ
việc đánh giá di truyền để xác định nguy cơ của bản
thân họ hoặc các thành viên trong gia đình cho các
ung thư như thế hoặc có liên quan. Với các bệnh
nhân trải qua việc xét nghiệm di truyền, địi hỏi
chun mơn để đảm bảo xét nghiệm sẽ được diễn
dịch đầy đủ và các kết quả thích hợp để giúp đỡ
trong chẩn đoán hoặc ảnh hưởng điều trị cho bệnh
nhân hoặc các thành viên gia đình có nguy cơ ung
thư di truyền.
TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ XÉT NGHIỆM
DI TRUYỀN
Liên quan tiền căn cá nhân hoặc gia đình.
Trong khi những phụ nữ khơng bị ảnh hưởng
thường có các mối quan tâm về nguy cơ ung thư di
truyền, bất cứ khi nào có thể, điều lý tưởng để bắt
đầu xét nghiệm di truyền một thành viên gia đình có


khả năng dương tính với thay đổi sinh bệnh, mà
thường là một phụ nữ bị ảnh hưởng bởi ung thư vú
hoặc ung thư buồng trứng giai đoạn sớm (bất kỳ
tuổi). Khoảng ½ HBOC (Hereditary Breast and
Ovarian Cancer Syndrome), xuất hiện do các thay
đổi xuyên thấu cao của BRCA1 or BRCA2 (BRCA),
di truyền kiểu gen trội.
Các dữ liệu có sẵn gợi ý các cá thể với nhiều
loại ung thư có tiềm năng là các ứng cử viên tốt cho
xét nghiệm gen liên quan HBOC. Đó là ung thư vú
và ung thư tụy di căn, bất kể tiền căn gia đình. Xét
nghiệm di truyền ở những ca như vậy cũng có thể
ảnh hưởng các chọn lựa điều trị (như người BRCA
với ung thư vú tam âm, tiến xa có thể thích hợp cho

Địa chỉ liên hệ: Phan Thị Hồng Đức
Email:
1

điều trị ức chế polyadenosine diphosphate-ribose
polymerase [PARP]).
Các hướng dẫn từ NCCN, the American
College of Medical Genetics and Genomics, và the
National Society of Genetic Counselors cung cấp
tiêu chuẩn chi tiết để xác định các ứng cử viên để tư
vấn di truyền và xét nghiệm có thể cho HBOC.
Tiêu chuẩn chính cho đánh giá nguy cơ ung thư di
truyền và các xét nghiệm có thể gồm tiền căn cá
nhân sau đây:
 Ung thư vú nữ chẩn đoán lúc ≤ 50 tuổi.

 Ung thư vú tam âm (TNBC) chẩn đoán lúc ≤ 60
tuổi.
 ≥2 ung thư vú nguyên phát.
 Ung thư buồng trứng hoặc vòi trứng, hoặc ung
thư phúc mạc nguyên phát.
 Ung thư vú nam.
 Bất kỳ ung thư liên quan HBOC, bất kể tuổi lúc
chẩn đốn, và Ashkenazi (trung tâm hoặc Đơng
Âu) dịng họ Jewish.
 Ung thư vú và 1 họ hàng có ung thư vú hoặc
buồng trứng chẩn đoán ≤ 50 tuổi, hoặc 2 họ
hàng ung thư vú, tiền liệt tuyến, và/ hoặc ung
thư tụy, chẩn đoán ở bất kỳ tuổi.
 Ung thư tiền liệt tuyến di căn, tại vùng hoặc tại
chỗ nguy cơ cao đến rất cao
 Thay đổi sinh bệnh BRCA xác định từ phân tích
gen, bất kể loại bướu.
Bệnh nhân khơng có tiền căn gia đình bị ung
thư nhưng với bất kỳ tiêu chuẩn sau cũng là các ứng
cử viên thích hợp để xét nghiệm:
 Một thay đổi sinh bệnh học ở BRCA1 hoặc
BRCA2 ở họ hàng sinh học.

Ngày nhận bài: 08/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

TS.BS. Phó Trưởng Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
Phó Trưởng Bộ mơn Ung Bướu Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch


103


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
 Ít nhất 2 cá nhân có ung thư vú nguyên phát ở
cùng phía của gia đình, ít nhất 1 người chẩn
đốn ≤50 tuổi.
 Họ hàng hàng thứ nhất hoặc thứ 2 với bất kỳ
vấn đề sau: ung thư vú ≤45 tuổi, ung thư buồng
trứng, ung thư vú nam, ung thu tụy, ung thư tiền
liệt tuyến di căn hoặc ≥2 nguyên phát ung thư
vú ở một cá thể đơn độc hoặc ở cùng 1 phía
của gia đình với ít nhất một người chẩn đốn ≤
50 tuổi
 Tiền căn gia đình có ≥3 ung thư liên quan hội
chứng ung thư di truyền
Những tiêu chuẩn khác cho xét nghiệm di
truyền như, Hiệp hội các nhà phẫu thuật vú ở Hoa
Kỳ (American Society of Breast Surgeons) khuyến
cáo xét nghiệm di truyền nên làm cho người có tiền
căn cá nhân bị ung thư vú, thêm vào những tiêu
chuẩn đã có NCCN. The United States Preventive
Services Task Force (USPSTF) khuyến cáo phụ nữ
có tiền căn cá nhân hoặc gia đình bị ung thư vú,
buồng trứng, vịi trứng hoặc phúc mạc hoặc có một
dịng họ có liên quan các đột biến gene BRCA1/2
nên được đánh giá với phương tiện đánh giá nguy
cơ gia đình (như the Ontario Family History
Assessment Tool, The International Breast Cancer

Intervention Study [IBIS] instrument, hoặc phiên bản
chính của BRCAPRO, nhưng khơng phải Gail).
Những người có khả năng gia tăng nguy cơ di
truyền dựa trên các công cụ như thế nên được tư
vấn di truyền và, nếu thích hợp, xét nghiệm di
truyền, trong khi những người khơng có chỉ định như
trên khơng cần phải tư vấn hoặc xét nghiệm di
truyền thường quy. Mặc dù khơng có nghiên cứu
đánh giá tính hiệu quả của tư vấn và xét nghiệm di
truyền trong việc giảm tần xuất và tử suất của các
ung thư liên quan BRCA, phân tích hệ thống 14
nghiên cứu (với khoảng 44.000 bệnh nhân) thấy
rằng độ chính xác từ trung bình đến cao của 8 cơng
cụ đánh giá nguy cơ tiên đoán sự hiện diện các thay
đổi BRCA1/2.
Các cơng thức tốn học có thể nặng nề trong
hồn cảnh lâm sàng và do các hạn chế của việc
đánh giá tiền căn gia đình (như tiền căn gia đình
khơng rõ, cỡ gia đình nhỏ…). Hơn nữa, nhiều mẫu
đánh giá nguy cơ cho các đột biến gene nguy cơ
cao (như BRCA1 và BRCA2) và khơng đánh giá các
phenotypes ít xun thấm hơn, như những người có
liên quan với các gene nguy cơ trung bình (như
checkpoint kinase 2 [CHEK2], ataxia-telangiectasia
mutated [ATM]), hoặc các hội chứng khác ít gặp hơn
có liên quan với ung thư vú hoặc buồng trứng, như
hội chứng Lynch.

104


Với những người có các thay đổi sinh bệnh
bướu tự thân hoặc mất ổn định vi vệ tinh Xét nghiệm bướu thực hiện để hướng dẫn điều trị ở
bệnh nhân ung thư có thể xác định các thay đổi sinh
bệnh BRCA (và các gene khác) các thay đổi cũng có
thể hiện diện ở dòng tế bào mầm. Bằng chứng từ
nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa bướu bất ổn
vi vệ tinh hoặc khiếm khuyết sửa chữa ghép cặp sai
và hội chứng Lynch, bất kể loại bướu nguyên phát.
Do đó, xét nghiệm dòng tế bào mầm là quan trọng
cho các bệnh nhân nhận được các kết quả như thế,
bất kể loại ung thư. Thơng tin có thể ảnh hưởng các
quyết định điều trị, và cũng có thể có liên quan các
thành viên trong gia đình.
Nếu xét nghiệm di truyền mở rộng hơn với một
bảng đa gene được chỉ định dựa trên tiền căn cá
nhân hoặc gia đình của bệnh nhân nhưng khơng
phải tồn bộ các thay đổi dịng tế bào mầm cũng sẽ
được phát hiện ở bướu. Nói cách khác, các thay đổi
tự thân có khả năng hoạt động được xác định lần
đầu trong các bướu và sau đó được xác nhận có ở
các bệnh nhân khơng đủ tiêu chuẩn trong các hướng
dẫn xét nghiệm di truyền. Do đó, xét nghiệm bảng
gene là phù hợp cho các bệnh nhân này.
MẪU ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ
Các cơng thức này hầu hết hữu ích trong đánh
giá các cá thể ở nguy cơ cao có tiền căn gia đình
dương tính bao gồm BRCAPRO, Claus, và TyrerCuzick. Các công thức khác kết hợp một tiền căn gia
đình hàng thứ nhất bị ung thư vú và các yếu tố khác
bao gồm the National Cancer Institute's Breast
Cancer Risk Assessment Tool (BCRAT) và Breast

Cancer Surveillance Consortium. Nguy cơ ung thư
vú nguồn gốc từ BCRAT (Gail model 2) được sử
dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng, nhưng công
thức này khơng nắm bắt đủ thơng tin tiền căn
gia đình cho những phụ nữ có tiền căn gia đình
rộng hơn.
Bởi vì các cơng thức tốn học có thể ước lượng
dưới mức khả năng mà một cá thể sẽ có xét nghiệm
dương tính với một thay đổi sinh bệnh học trong
BRCA, cũng như các gene HBOC khác và hơi nặng
nề để hữu dụng trong một thiết lập lâm sàng truyền
thống, có thể sử dụng lần đầu tiêu chuẩn định lượng
của NCCN để xác định các ứng cử viên thích hợp
cho xét nghiệm di truyền.
Các cơng thức tốn học tuy nhiên có thể rất
hữu ích trong những tình huống sau đây để cung
cấp:
 Các nguy cơ ung thư vú (và có thể buồng
trứng) cho những phụ nữ có nguy cơ thấp và/
hoặc những người từ chối xét nghiệm di truyền.


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
 Các khả năng người mang đột biến BRCA
trước khi xét nghiệm, nếu địi hỏi cho các mục
đích chứng minh cho bảo hiểm và/ hoặc cung
cấp tái bảo hiểm cho những bệnh nhân nguy cơ
thấp.
 Nguy cơ ung thư vú nguyên phát hoặc đối bên,

và nguy cơ ung thư buồng trứng có thể, sau khi
âm tính (thiếu thơng tin) xét nghiệm gene BRCA
(với hoặc không với xét nghiệm đa gene.
Về vấn đề ước lượng nguy cơ của một phụ nữ
phát triển ung thư vú, hầu hết các công thức chiếm
phần lớn các HBOC có thể quy cho các đột biến
BRCA, và khơng cái nào cung cấp khả năng về cơ
hội xét nghiệm dương tính cho một thay đổi gene
sinh bệnh học có nguy cơ trung bình hoặc cao khác.
TƯ VẤN DI TRUYỀN TRƯỚC XÉT NGHIỆM
Nếu có thể, tất cả các bệnh nhân là ứng cử viên
cho xét nghiệm di truyền nên được chuyển đến một
nhà cung cấp di truyền có chứng chỉ, chẳng hạn như
một nhà tư vấn di truyền được hội đồng chứng nhận.
Mục đích của tư vấn trước xét nghiệm là để cung
cấp cho một cá nhân với một sự đánh giá nguy cơ di
truyền dựa trên tiền căn cá nhân và gia đình của họ,
và để thảo luận về các chọn lựa cho và các liên
quan về xét nghiệm di truyền.
Tiền căn y khoa và đánh giá phả hệ
Một thành phần quan trọng của tư vấn trước xét
nghiệm là xem lại chi tiết tiền căn y khoa trong quá
khứ của bệnh nhân và tiền căn gia đình, mà sẽ bao
gồm thông tin về các họ hàng nội và ngoại, tốt nhất
là ít nhất 3 thế hệ. Q trình này là chính để xác định
khơng chỉ cá nhân nào nên được tư vấn di truyền,
mà cịn là cơng cụ để u cầu xét nghiệm và tư vấn
chính xác cho bệnh nhân về cơ sở hợp lý cho xét
nghiệm và khả năng có kết quả xét nghiệm dương
tính. Trong các trường hợp hiếm gặp, phả hệ phát

hiện ra sự hiện diện của hội chứng ung thư di truyền
hiếm gặp trong những trường hợp đó xét nghiệm di
truyền chuyên biệt có thể được chỉ định.
Mẫu đánh giá nguy cơ toán học
Mẫu đánh giá nguy cơ tốn học có thể được sử
dụng để cung cấp cho bệnh nhân với các ước lượng
nguy cơ ung thư và khả năng xét nghiệm dương tính
cho một đột biến gene.
Thảo luận về các khuyến cáo xét nghiệm di truyền
Khuyến cáo cho xét nghiệm bảng đa gene bao
gồm các gene nguy cơ trung bình/ cao. Ngồi ra,
thảo luận chọn lựa để yêu cầu một bảng lớn bao
gồm các gene mới hơn, trong đó ít bằng chứng hơn
về nguy cơ và điều trị. Thảo luận khả năng kết quả

xét nghiệm dương tính, bao gồm tỉ lệ cao của các
thay đổi có ý nghĩa khơng chắc chắn với các bảng
gene lớn hơn.
Các liên quan với xét nghiệm di truyền
Các lợi ích có thể, các hạn chế, và những nguy
cơ của xét nghiệm, các khuyến cáo điều trị y khoa
cũng như các liên hệ với họ hàng.
Thảo luận vầ các cân nhắc tài chính
Với những bệnh nhân cân nhắc xét nghiệm
di truyền, điều quan trọng xác định các cân nhắc về
tài chính.
Tại Hoa Kỳ, hầu hết các công ty bảo hiểm chi
trả ≥90% chi phí thương mại của BRCA1/BRCA2
(BRCA) hoặc xét nghiệm bảng đa gene ở các ứng
cử viên thích hợp. Hơn nữa, nhiều phòng xét

nghiệm thương mại làm cho bệnh nhân khơng đủ chi
phí (tối thiểu mức miễn bảo hiểm) nếu xét nghiệm
được bảo hiểm chi trả. Một thư y khoa cần thiết để
làm hồ sơ về khả năng tác động của một kết quả
dương tính khi tầm sốt hoặc các khuyến cáo phẫu
thuật cho một cá nhân. Nhiều công ty cung cấp các
chọn lựa tự chi trả cho xét nghiệm đa gene với
≤ $250. Trong một số trường hợp khi bệnh nhân
không thể kham nổi xét nghiệm, xét nghiệm của các
thành viên gia đình hàng thứ nhất có thể cung cấp
bằng chứng hữu ích. Nếu một thay đổi sinh bệnh
được xác định, xét nghiệm những họ hàng cho thay
đổi đơn độc (hoặc gene đơn độc) có thể thực hiện
khơng tốn kém.
Thảo luận sự bảo vệ hợp pháp chống lại sự phân
biệt đối xử về di truyền
Mối lo ngại về khả năng gây hại cho bệnh nhân
trải qua xét nghiệm di truyền từ nỗi lo sợ của họ về
sự phân biệt đối xử về di truyền, mà có thể là một lý
do thông thường cho việc từ chối xét nghiệm di
truyền. May mắn rằng tại Hoa Kỳ, các luật liên bang
và các tiểu bang cung cấp nhiều sự bảo vệ chống lại
sự phân biệt đối xử về di truyền.
Tư vấn trước xét nghiệm thường diễn ra trực
tiếp, tuy nhiên tư vấn qua điện thoại ngày nay cũng
tăng lên. Hai nghiên cứu lớn ngẫu nhiên về tư vấn
qua điện thoại so với nói chuyện trực tiếp trước và
sau xét nghiệm di truyền BRCA cho thấy 2 phương
pháp của phân phối dịch vụ có tính an tồn và hiệu
quả tương đương. Mặc dù tư vấn di truyền qua điện

thoại mở rộng tiếp cận với dịch vụ này, có hơi chút
thấp hơn ở những phụ nữ được tư vấn qua điện
thoại, tuy nhiên, điều quan trọng để đánh giá các cá
nhân về sự đau đớn, hoặc lo lắng, như các các nhân
nhất định có thể tốt hơn khi tư vấn tiếp xúc trực tiếp
trước và sau xét nghiệm bất cứ khi nào có thể.

105


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
Mặc dù các vấn đề về tâm lý có thể cản trở một
số cá nhân có nguy cơ cao làm xét nghiệm di truyền,
các nghiên cứu đã chứng minh khơng có bằng
chứng của các nguy cơ chính của rối loạn chức
năng tâm lý ở những người làm xét nghiệm, bao
gồm những người xét nghiệm dương tính với một
đột biến BRCA. Do đó, những bệnh nhân nguy cơ
cao nên được khuyến khích tiếp tục xét nghiệm, đặc
biệt nếu việc quản lý y khoa của họ hoặc họ hàng
của họ có khả năng thay đổi do xét nghiệm dương
tính. Các cá nhân có nguy cơ cao từ chối xét nghiệm
di truyền nên được giới thiệu đến tư vấn di truyền,
tiếp cận với thông tin liên quan xét nghiệm di truyền,
và trợ giúp tâm lý nếu họ lo lắng hoặc đau buồn.
Ngay cả nếu cuối cùng họ không tiếp tục xét nghiệm,
những cá nhân này nên nhận được các hướng dẫn
cá thể hóa cho việc tầm soát ung thư và giảm nguy
cơ dựa trên tiền căn cá nhân và gia đình.

CHỌN LỰA PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM DI
TRUYỀN BAN ĐẦU
Tiếp cận gợi ý
Với hầu hết những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn
của NCCN cho việc xét nghiệm HBOC, xét nghiệm
bảng đa gene thế hệ mới, bao gồm những người
trước đó xét nghiệm khơng có bảng đa gene thế hệ
mới (điển hình những người xét nghiệm trước năm
2013). Xét nghiệm này có thể được thực hiện sử
dụng máu, nước bọt hoặc niêm mạc má. Mặc dù
chọn lựa cho bệnh nhân đủ tiêu chuẩn cho một
hội chứng ung thư di truyền chuyên biệt (như LiFraumeni hoặc Cowden) là xét nghiệm chỉ với gene
đơn độc có liên quan, điển hình cũng cung cấp một
bảng đa gene cho những bệnh nhân này, nhằm để
bao trùm các khả năng có các khác biệt khác,
đặc biệt khi có sự khác biệt chi phí có thể là khơng
đáng kể.
Một số xét nghiệm giới hạn có thể là một chọn
lựa thích hợp trong nhiều bối cảnh nhất định, nếu có
sẵn; ví dụ:
 Với những bệnh nhân là ứng cử viên cho xét
nghiệm bảng đa gene nhưng ưa thích hơn việc
tối thiểu hóa khả năng các thay đổi có ý nghĩa
khơng rõ. Các bảng đa gene có thể phát sinh
dữ liệu cho việc quản lý lâm sàng tối ưu chưa
được xác định ngay, và do đó, nhiều bệnh nhân
có thể chọn lựa xét nghiệm thực hiện với bảng
gene nhỏ hơn của các gene mà nguy cơ của nó
đặc trưng hơn.
 Với dịng họ Ashkenazi Jewish khơng có tiền

căn ung thư cá nhân hoặc gia đình. Ở những
bệnh nhân như thế, thường cung cấp xét
nghiệm chỉ cho 3 thay đổi sinh bệnh đã biết
trong BRCA1 và BRCA2 (BRCA), cung cấp cơ
106

hội của một kết quả dương tính là gần 1 trong
40 và 90% những người có một thay đổi sinh
bệnh trong BRCA có 1 trong 3 đột biến đã biết.
Tùy thuộc vào phòng xét nghiệm sử dụng, xét
nghiệm có thể bao gồm phân tích giải trình tự
đầy đủ của gene BRCA genes.
 Tuy nhiên, với bệnh nhân Ashkenazi Jewish với
tiền căn cá nhân hoặc gia đình gợi ý HBOC,
cung cấp xét nghiệm bảng đa gene tương tự
những bệnh nhân không phải Jewish, cung cấp
các đột biến không phải đã biết trong BRCA và
thay đổi sinh bệnh trong các gene nhạy cảm
khác quan sát được trong 4 - 5% bệnh nhân
Jewish có ung thư vú.
 Với bệnh nhân thuộc về gia đình có một thay
đổi sinh bệnh đã biết, cung cấp xét nghiệm cho
thay đổi đơn độc (hoặc dựa trên phịng xét
nghiệm, giải trình tự của tồn bộ gene trong đó
thay đổi được xác định). Ở cá nhân Ashkenazi
Jewish, xét nghiệm 3 đột biến đã biết BRCA bất
kể thay đổi sinh bệnh nào được xác định trong
gia đình.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng xét nghiệm bảng đa
gene có thể là xét nghiệm thiếu hụt ở một số phòng

xét nghiệm (như khơng cung cấp xét nghiệm vị trí/
gene đơn độc) và có thể có chi phí tương tự hoặc
thấp hơn xét nghiệm cho thay đổi/ gene gia đình đơn
độc. Hơn nữa, mặc dù khả năng của việc tìm thấy
một thay đổi sinh bệnh học trong một gene khác hơn
gene này là thấp, ước lượng các nguy cơ có thể khó
khăn trong một số ca, đặc biệt khi có cỡ gia đình
nhỏ, thơng tin tiền căn gia đình hạn chế, hoặc ít
phụ nữ trong gia đình. Khi có những cân nhắc này,
một số bệnh nhân có thể yêu cầu xét nghiệm bảng
đa gene.
Cung cấp cho họ hàng sự chọn lựa xét nghiệm
bảng đa gene không được khuyến cáo bởi các
hướng dẫn; tuy nhiên, cung cấp nó trong những tình
huống nhất định. Chẳng hạn như, người đầu tiên
được khảo sát không nhận được xét nghiệm bảng
gene, hoặc phía khác của gia đình có gợi ý ung thư
di truyền, khuyến cáo rằng họ hàng có nguy cơ cần
xét nghiệm đa gene.
Các cân nhắc đặc biệt
Với những người trải qua xét nghiệm bảng gene
thế hệ mới
Cung cấp cho những bệnh nhân tiền căn đồng
nhất với HBOC chọn lựa xét nghiệm bảng gene
bước một, mặc dù những thay đổi sinh bệnh BRCA
hầu hết thường liên quan những phụ nữ có HBOC,
gần 4 - 7% có một thay đổi sinh bệnh với khả năng
liên quan ung thư vú và buồng trứng. Các đột biến



Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
thường gặp nhất như vậy có trong các gene nguy cơ
trung bình, bao gồm checkpoint kinase 2 (CHEK2),
đồng hành và định vị của BRCA2 (PALB2), và
ataxia-telangiectasia mutated (ATM). Hơn nữa, xét
nghiệm bảng đa gene đang xác định các cá nhân
không phù hợp chặt chẽ với các tiêu chuẩn xét
nghiệm cho một hội chứng đã cho nhưng mang các
thay đổi sinh bệnh học trong các gene liên quan.
Mặc dù một số các thay đổi sinh bệnh học đánh
giá bằng các bảng đa gene là không thường gặp và
ngay cả hiếm, những cá nhân phải được chuẩn bị
cho khả năng mà một thay đổi xuyên thấu cao có thể
được xác định ngay cả khi khơng có biểu hiện cổ
điển của hội chứng liên quan. Vì thế, các can thiệp
mức độ tích cực cao có thể được khuyến cao, như
cân nhắc tầm soát nội soi tiêu hóa trên và cắt dạ dày
dự phịng trong thiết lập của cadherin 1 (CDH1),
ngay cả nếu khơng có ung thư dạ dày trong gia đình.
Thêm vào đó, bởi vì một số rất lớn các gene mà xét
nghiệm có thể được thực hiện (khoảng từ 5 -≥ 80),
số thay đổi của ý nghĩa khơng chắc chắn (variants of
uncertain significance (VUSs) có thể được xác định
là một vấn đề. Tỉ lệ của sự phát hiện VUS cũng thay
đổi dựa trên quần thể và trong số các phòng xét
nghiệm thực hiện.
Cuối cùng, trong các bảng gene lớn, nhiều gene
đánh giá là tương đối xác định mới. Các thay đổi
sinh bệnh học trong các gene này là hiếm, nguy cơ

ung thư là không đặc trưng rõ, khơng có hướng dẫn
cho việc quản lý y khoa, và vai trị của xét nghiệm
tiên đốm cho các thành viên gia đình thì khơng
chắc chắn.
Với những người xét nghiệm trước đó khơng có
bảng gene thế hệ mới
Với những bệnh nhân trước đó đã đánh giá các
đột biến BRCA, cung cấp việc đánh giá lại sử dụng
xét nghiệm bảng gene thế hệ mới. Điều này đặc biệt
thích đáng cho những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn của
NCCN cho xét nghiệm HBOC. Thêm vào đó, những
bệnh nhân nào xét nghiệm BRCA trước năm 2006 là
khơng thích hợp cho việc có phân tích hồn chỉnh
của các gene này.
Với những người thuộc chủng tộc
Những cá nhân Ashkenazi Jewish khơng có tiền
căn cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh ung thư, đánh
giá nguy cơ ung thư cung cấp chọn lựa để theo đuổi
xét nghiệm di truyền, hơn là chỉ quan sát. Trong
những ca như vậy, đánh giá 3 thay đổi sinh bệnh
học đã biết trong BRCA, 185delAG (cũng được biết
như 187delAG hoặc c.68 - 69delAG) trong BRCA1,
5382insC (cũng được biết như 5385insc hoặc
c.5266dupC) trong BRCA1, hoặc 6174delT
(c.5946delT) trong BRCA2. Nhiều xét nghiệm BRCA

rộng rãi hơn và xét nghiệm cho các đột biến trong
các gene khác (như xét nghiệm bảng gene) nên
được cân nhắc trên từng ca cho những người có
tiền căn cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh ung thư,

nhưng khơng nên chỉ định thường quy cho những
người thiếu tiền căn.
Với tần suất các đột biến đã biết của BRCA
trong quần thể Ashkenazi Jewish, có sự bàn cãi về
việc có hay khơng những cá nhân như thế nên được
thường quy cung cấp xét nghiệm BRCA bất kể tiền
căn cá nhân hoặc gia đình bị ung thư.
Một nghiên cứu dựa trên quần thể phát hiện
rằng xét nghiệm di truyền dựa trên chỉ tiêu chuẩn
tiền căn gia đình có thể bỏ lỡ nhiều người mang đột
biến trong số những người có chủng tộc Ashkenazi
Jewish. Trong nghiên cứu này, 8195 người nam
Ashkenazi Jewish không chọn lọc được xét nghiệm,
trong đó có 175 người mang đột biến BRCA đã biết
được xác định. Một nửa những người mang đột biến
khơng có tiền căn gia đình bị ung thư vú hoặc buồng
trứng có ý nghĩa. Những họ hàng nữ của họ sau đó
được cung cấp xét nghiệm, phát hiện 211 người
mang đột biến. Kết quả nguy cơ ung thư vú và
buồng trứng là so sánh được với những người mang
đột biến được trích dẫn điển hình trong y văn.
Một nghiên cứu ngẫu nhiên tầm soát quần thể
trong số những người Ashkenazi Jews ở vương
quốc Anh phát hiện 56% nhiều hơn người mang đột
biến BRCA trong chỉ tầm soát tiền căn gia đình, và
khơng đưa đến các kết quả ngoại ý về tâm lý hoặc
chất lượng cuộc sống. Thêm vào đó, tầm soát quần
thể trong những phụ nữ Ashkenazi Jewish ≥30 tuổi
được tìm thấy có chi phí - hiệu quả hơn tầm sốt
tiền căn gia đình.

Do đó, xét nghiệm dựa trên quần thể ở người
Ashkenazi Jewish sẽ xác định một số đáng kể
những người mang đột biến mà sẽ không phát hiện
được, và những cá thể này có thể có lợi ích từ việc
tầm soát ung thư và các can thiệp giảm nguy cơ.
TƯ VẤN SAU XÉT NGHIỆM
Tư vấn sau xét nghiệm cung cấp một cơ hội để
xem lại thông tin về các hội chứng HBOC và cho các
bệnh nhân để hiểu và nắm được các kết quả xét
nghiệm của họ, và để cân nhắc các bước tiếp theo
nếu cần.
Một thành phần quan trọng của tư vấn sau xét
nghiệm là thông báo cho bệnh nhân và các thành
viên gia đình của họ về các mối liên quan của kết
quả xét nghiệm, xác định các cá nhân có nguy cơ
dựa trên cấu trúc phả hệ, và khuyến khích chia sẻ
thơng tin này với người thân (như các bản sao của
kết quả xét nghiệm và thơng tin về cách tìm một nhà
107


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
tư vấn di truyền). Cuối cùng, họ nên quy định khi
nào, nếu có thể, họ sẽ tiết lộ kết quả mà khơng có
bảng đồng thuận của bệnh nhân. Các bác sĩ nên
dẫn chứng bằng tài liệu rằng các bệnh nhân đã
được thông báo về ai trong gia đình học có nguy cơ
cao bị ung thư di truyền và các khả năng liên quan.
TIẾP CẬN VỚI CÁC KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH

Một kết quả dương tính có nghĩa là một thay đổi
sinh bệnh học (như gây hại) được xác định trong
một gene như BRCA1 hoặc BRCA2. Hầu hết các
thay đổi này là cắt cụt protein, trong khi những cái
khác có thể từ một bất thường về số lượng hoặc
hình dạng của sản phẩm của gene (protein). Một số
thay đổi sinh bệnh học là duy nhất với các gia đình
cá thể, trong khi những cái khác được báo cáo trong
nhiều gia đình khác nhau.
TIẾP CẬN VỚI CÁC KẾT QUẢ ÂM TÍNH HOẶC
THIẾU THƠNG TIN
Định nghĩa
Các kết quả âm tính
Một kết quả âm tính có nghĩa là một thay đổi
sinh bệnh được xác định trong một thành viên của
gia đình bệnh nhân (thường là họ hàng hàng thứ
nhất hoặc thứ hai như một cha, mẹ, anh chị em,
cô hoặc chú) được loại trừ trong xét nghiệm cá
nhân. Một ví dụ của loại kết quả này sẽ là khi một
đứa trẻ của một cha mẹ với xét nghiệm đột biến có
hại BRCA1/BRCA2 (BRCA) âm tính cho đột biến đó.
Những phụ nữ với các kết quả xét nghiệm âm
tính thật BRCA thường được tư vấn rằng nguy cơ
ung thư vú và buồng trứng của họ là tương tự với
quần thể chung; nguy cơ ước lượng, tuy nhiên, có
thể được biến đổi dựa trên tiền căn gia đình gợi ý về
cha mẹ không mang đột biến và các yếu tố nguy cơ
sinh sản truyền thống.
Điều ít rõ ràng hơn là làm thế nào để diễn dịch
các kết quả âm tính trong các gia đình có một thay

đổi sinh bệnh trong một gene nguy cơ trung bình
như checkpoint kinase 2 (CHEK2) hoặc trong các
gene hiếm như RAD50. Trong những gia đình này,
thường khơng thể biết có hay khơng các thay đổi xác
định hướng tới ung thư trong gia đình, hoặc có hay
khơng các thay đổi gene khác hoặc đa hình đơn
nucleotide (SNPs) có thể được phân phối đến các
nguy cơ ung thư gia tăng. Do đó trong những gia
đình có các loại thay đổi gene nguy cơ trung bình
này, xét nghiệm gene ở những cá nhân có nguy cơ
có thể khơng cung cấp một câu hỏi xác định về nguy
cơ ung thư hoặc điều trị. Có hay khơng các xét
nghiệm hơn nữa được chỉ định tùy thuộc vào tình
huống và nguy cơ của cá nhân, cũng như xét
nghiệm nào được thực hiện.
108

Kết quả khơng đủ thơng tin (âm tính)
Có hai loại kết quả khơng đủ thơng tin. Loại thứ
nhất có khi các kết quả xét nghiệm di truyền không
chỉ ra sự hiện diện của một thay đổi sinh bệnh, và
khơng có thay đổi sinh bệnh nhạy cảm ung thư được
biết trong gia đình. Loại thứ hai được biết là một
thay đổi có ý nghĩa khơng chắc chắn (variant of
uncertain significance (VUS)).
Loại thứ nhất của kết quả âm tính thiếu thơng
tin có thể là do một số khả năng mà tùy thuộc, một
phần về xét nghiệm cái gì được thực hiện. Các khả
năng bao gồm:
 Một thay đổi sinh bệnh có thể hiện diện trong

một trong các gene được xét nghiệm, nhưng
chúng khơng thể phát hiện được bởi các
phương pháp sẵn có. Với sự tiến bộ về kỹ
thuật, các loại thay đổi này được nghĩ rằng là
hiếm.
 Một thay đổi sinh bệnh có thể hiện diện trong
một gene mà xét nghiệm khơng thực hiện. Nếu
có sự nghi ngờ mạnh trên lâm sàng về hội
chứng di truyền, xét nghiệm bảng đa gene nên
được chỉ định.
 Nếu một cá nhân không bị ảnh hưởng là người
đầu tiên làm xét nghiệm trong gia đình, một kết
quả âm tính có thể có nghĩa là anh hoặc cơ ấy
khơng thừa hưởng một thay đổi sinh bệnh mà
có thể có hiện diện trong những họ hàng khác.
 Có khả năng cho ung thư đơn lẻ, như ung thư
vú, có trong các gia đình HBOC. Do đó, nếu
một cá nhân bị ảnh hưởng có xét nghiệm âm
tính, hãy cịn có thể là hợp lý để cung cấp xét
nghiệm cho những cá thể khác trong gia đình,
tốt nhất là với một ung thư liên quan HBOC. Khi
sự cố này có thể được ghi nhận lại, cá nhân bị
ảnh hưởng được nói rằng là một "phenocopy,"
quy cho một người khơng mang đột biến với
một ung thư HBOC (thường là vú) trong một gia
đình được biết có chứa một thay đổi sinh bệnh
trong các gene như BRCA. Trong các gia đình
BRCA dương tính, những phụ nữ khơng mang
đột biến gia đình phát triển ung thư vú tại tỉ lệ
hơi cao hơn hoặc tương tự với quần thể chung.

Tỉ lệ cao hơn của ung thư vú ở người khơng
mang đột biến có thể liên quan với các biến đổi
di truyền.
Các thay đổi có ý nghĩa không chắc chắn
Khi một thay đổi gene được xác định nhưng ý
nghĩa lâm sàng của nó khơng rõ, đây là một VUS.
Trong trường hợp này, điều không rõ là nếu thay đổi
là một thay đổi sinh bệnh học khơng xác định, một
tính đa hình lành tính (như thay đổi bình thường


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
trong gene), hoặc một thay đổi với nguy cơ ung thư
trung bình. Một số cá nhân có thể xét nghiệm dương
tính và hãy cịn có một hoặc nhiều kết quả VUS. Với
những cá nhân thiếu một thay đổi sinh bệnh, mà một
hoặc nhiều hơn VUS được xác định, kết quả được
cân nhắc thiếu thông tin. Các cá nhân như thế nên
được quản lý dựa trên tiền căn cá nhân và gia đình,
và khơng nên được tư vấn như thể thay đổi là sinh
bệnh học.
Cho tỉ lệ cao của VUS đạt được từ bảng đa
gene, những bệnh nhân phải được thông báo rằng
các dấu hiệu như thế được mong đợi, và ngồi giờ
đó, nhiều VUS sẽ được tái phân loại. Tiêu chuẩn
chuẩn, xác định bởi các hiệp hội chuyên nghiệp
cũng như các thước đo chức năng, dịch tễ học và
lâm sàng được sử dụng để xác định nếu một VUS
có thể được tái phân loại như một thay đổi bình

thường hoặc có hại trong gene. VUSs thường được
xuống bậc grade đến các thay đổi lành tính hoặc có
khả năng lành tính. Tuy nhiên, một số lượng nhỏ
VUSs được tái xếp loại theo cách như thế mà quản
lý lâm sàng bị thay đổi. Do đó, các nhà cung cấp
phải xem lại các tái phân loại VUS khi đạt được từ
phòng xét nghiệm (hoặc dò hỏi về tái xếp loại khi
thích hợp), và thơng báo bệnh nhân.
Dựa trên 20 năm kinh nghiệm và hơn một tỉ
mẫu xét nghiệm đột biến gây hại BRCA, tỉ lệ của
việc xác định một VUS trong một phịng xét nghiệm
chính ở Hoa Kỳ là 2,1%, giảm 84% trong suốt thập
kỷ vừa qua. Tỉ lệ VUS trong BRCA là cao hơn trong
những nhóm chủng tộc xác định như các cá nhân là
chủng tộc châu Phi, châu Á hoặc Trung Đông.
Các loạt sau đây phác họa sự thay đổi trong phát
hiện VUS
Trong số 1100 bệnh nhân có xét nghiệm bảng
gene
ung
thư

hoặc
buồng
trứng
14 - 19 gene (khơng có BRCA), khoảng phát hiện
VUS giữa 19,8 - 25,6%.
Trong số gần 5600 bệnh nhân ung thư vú xét
nghiệm BRCA âm tính cho 8 gene có khuynh hướng
di truyền (ataxia-telangiectasia mutated [ATM],

cadherin 1 [CHD1], CHEK2, nibrin [NBN], đồng hành
và định vị của BRCA2 [PALB2], RAD51C, RAD51D,
và protein bướu p53 [TP53]), qua the German
Consortium for Hereditary Breast and Ovarian
cancer, 15% có VUSs, với hầu hết những phụ nữ
này chỉ có một VUS.
Trong số 10.000 bệnh nhân tiếp nối được xét
nghiệm, gần một nửa có ung thư vú, tỉ lệ VUS là
35% trong số những người nào xét nghiệm 29
genes, và 7,4% trong số những người nào xét
nghiệm 6 gene nguy cơ cao ung thư vú. Tỉ lệ VUS

cho toàn bộ mẫu và tất cả bảng bảng gene (bao gồm
gene ung thư đại trực tràng, tụy và nội mạc tử cung)
là 24%.
Bệnh nhân có kết quả VUS (hoặc dương tính)
từ xét nghiệm đa gene có thể tham gia vào một ghi
nhận ung thư online gọi là Prospective Registry of
Multiplex Testing (PROMPT), một nỗ lực hợp tác
giữa các viện hàn lâm và các phòng xét nghiệm
thương mại tại Hoa Kỳ để nghiên cứu và tái xếp loại
những loại kết quả này.
Trong một số thiết lập lâm sàng, những họ hàng
của bệnh nhân có VUS có thể được xét nghiệm cho
nghiên cứu lâm sàng để theo dấu vết sự thay đổi
trong gia đình, dữ liệu từ đây có thể hữu ích trong
việc tổng hợp để tái xếp loại thay đổi.
Quản lý nguy cơ ung thư vú
Như đã thảo luận, xét nghiệm di truyền thêm có
thể được cho phép cho một số bệnh nhân có kết quả

âm tính khơng đủ thơng tin hoặc VUS trong bảng đa
gene HBOC mở rộng.
Tuy nhiên, với những người không theo đuổi
xét nghiệm thêm hoặc những người có xét nghiệm
thêm cũng không đủ thông tin, xác định một nguy cơ
của cá nhân phát triển ung thư có thể là thử thách,
và nó phụ thuộc nhiều vào tiền căn gia đình, hoặc
tiền căn ung thư của cá nhân và các yếu tố nguy cơ,
và loại xét nghiệm được thực hiện.
Khơng có tiền căn cá nhân bị ung thư vú
Với những phụ nữ khơng có bệnh ung thư, các
phương tiện tốn học có thể sử dụng để đánh giá
nguy cơ ung thư vú của họ, và những người này có
thể được chọn lựa dựa trên tính thích hợp của họ
trong các tình huống cụ thể. Trong thực hành,
thường sử dụng cả hai công thức BRCAPRO và
Tyrer-Cuzick để cung cấp một khoảng các nguy cơ
ung thư vú. Cơng thức BRCAPRO thường tiên đốn
các nguy cơ ung thư vú trung bình đến hơi cao so
với quần thể chung, với những người có xét nghiệm
BRCA khơng đủ thơng tin. Nói cách khác, các nguy
cơ tiên đoán thường cao hơn nhiều so với các mẫu
định lượng.
Tiếp cận với việc quản lý nguy cơ ung thư vú
tùy thuộc vào nguy cơ cao hoặc thấp.
Phụ nữ có nguy cơ cao
Phụ nữ có nguy cơ cao ung thư vú trong suốt
cuộc đời (định nghĩa là nguy cơ ít nhất 20%) nên
tiến hành tầm soát nhũ ảnh hàng năm, chụp MRI
hàng năm, và khám lâm sàng mỗi 6 - 12 tháng bắt

đầu trước 10 năm so với thành viên trong gia đình
trẻ nhất bị ảnh hưởng và khơng trước 25 tuổi đối với
MRI. Chẳng hạn như, nếu phụ nữ có một chị em gái

109


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
bị ung thư vú chẩn đốn lúc 30 tuổi, thêm vào đó có
tiền căn gia đình ung thư vú khác, khuyến cáo chụp
MRI bắt đầu ở tuổi 25. Phụ nữ có nguy cơ suốt đời
15 - 20% có thể cũng cân nhắc MRI.
Những phụ nữ có kỳ vọng sống thêm ít nhất
10 năm cũng có thể cân nhắc các lựa chọn giảm
nguy cơ. Chẳng hạn như phụ nữ có nguy cơ ung thư
vú 5 năm ít nhất 1,7% hoặc nguy cơ ung thư suốt
đời là 20% có thể cân nhắc hóa phịng ngừa với các
tác nhân như tamoxifen, raloxifene, hoặc một thuốc
ức chế aromatase, làm giảm nguy cơ ung thư vú
khoảng 50%.
Những phụ nữ có nguy cơ rất cao bị ung thư vú
và các kết quả xét nghiệm âm tính khơng đủ thơng
tin có thể muốn thảo luận về chọn lựa đoạn nhũ
giảm nguy cơ.
Các phụ nữ khơng có nguy cơ cao
Phụ nữ có nguy cơ ung thư vú suốt đời dưới
15% có thể được tầm sốt như quần thể chung,
hoặc có phần hơi tích cực hơn tùy thuộc vào nguy
cơ chuyên biệt của họ. Do những hạn chế về đánh

giá nguy cơ định lượng, tầm sốt ban đầu sớm có
thể được khuyến cáo dựa trên tiền căn gia đình.
Tiền căn cá nhân bị ung thư vú
Những phụ nữ có một tiền căn cá nhân bị ung
thư vú có nguy cơ ung thư vú đối bên (contralateral
breast cancer (CBC)) khoảng 4 - 7% trong 5 - 10
năm đầu tiên sau chẩn đoán. Những người này với
một tiền căn gia đình có một nguy cơ cao hơn, ngay
cả với kết quả BRCA không đủ thơng tin (âm tính).
Các nguy cơ này ngay cả quan trọng hơn so với
người trẻ tuổi hơn.
Trong khi các công thức như BRCAPRO có thể
là ước lượng chung về nguy cơ ung thư vú ở những
phụ nữ có BRCA âm tính, những cơng cụ này khơng
có giá trị cho việc đánh giá nguy cơ CBC.
BRCAPRO nhằm cho bệnh nhân có ý thức về mức
độ nguy cơ CBC. Lưu ý là, BRCAPRO hiệu chuẩn lại
yếu tố trong tiền căn của CBC trong việc tiên đoán
khả năng người mang đột biến BRCA.
Với nhiều người ung thư vú sống sót có tiền
căn gia đình bị ung thư vú, nguy cơ suốt đời phát
triển một CBC có thể được tầm sốt tăng cường với
MRI vú thêm vào nhũ ảnh. Mặc dù một hội chuyên
gia của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ kết luận rằng
không đủ bằng chứng để khuyến cáo hoặc chống lại
việc chụp MRI vú ở những người sống sót, MRI có
thể thích hợp cho việc tầm sốt những người sống
sót có các yếu tố nguy cơ khác, như những người
có liên quan với điều trị hoặc sinh sản hoặc tiền căn
gia đình. Các nghiên cứu là cần thiết để xác định có


110

hay khơng tầm sốt MRI ở những người ung thư vú
sống sót có liên quan với việc giảm tử vong.
Như một lựa chọn theo dõi, những phụ nữ có
nguy cơ gia tăng bị CBC có thể cân nhắc đoạn nhũ
2 bên, với việc đoạn nhũ đối bên thực hiện ở thời
điểm chẩn đốn hoặc sau đó. Trong khi một số
nghiên cứu gợi ý có lợi ích sống cịn từ tiến trình
này, có khả năng có sai số chọn lựa, và các nghiên
cứu sau đó khơng chứng minh được lợi ích sống
cịn cho việc đoạn nhũ đối bên dự phòng. Một lưu ý
cũng quan trọng là, nếu những phụ nữ này nhận liệu
pháp nội tiết hỗ trợ cho bệnh lý có thụ thể nội tiết
dương, họ sẽ có khoảng 50% giảm nguy cơ trong
việc phát triển một ung thư vú mới.
Quản lý tiền căn ung thư buồng trứng
Khơng có tiền căn gia đình bị ung thư buồng trứng
Những phụ nữ khơng có tiền căn gia đình bị
ung thư buồng trứng và các kết quả xét nghiệm di
truyền âm tính thường được cân nhắc ở nguy cơ
trung bình bị ung thư buồng trứng và khơng là ứng
cử viện cho tầm sốt ung thư buồng trứng.
Với những người có kết quả BRCA âm tính
(đặc biệt từ một kết quả bảng đa gene âm tính bao
gồm các gene ung thư buồng trứng) và khơng có
tiền căn gia đình bị ung thư buồng trứng, khơng
cung cấp việc cắt buồng trứng - vòi trứng 2 bên giảm
nguy


(risk-reducing
bilateral
salpingooophorectomy (rrBSO)) ngay cả nếu có tiền căn gia
đình mạnh về ung thư vú có hiện diện). Tuy nhiên,
những phụ nữ hậu mãn kinh có cắt tử cung vì lý do
lành tính có thể cân nhắc quyền rrBSO.
Mặc dù những phụ nữ khơng chọn lọc với một
tiền căn trước đó có ung thư vú được báo cáo về
phương diện lịch sử có nguy cơ tăng nhẹ ung thư
buồng trứng, có khả năng phần lớn nguy cơ này
được phân phối cho các thay đổi sinh bệnh trong
các gene nhạy cảm như BRCA. Trong những gia
đình có ung thư vú nhưng khơng có ung thư buồng
trứng hoặc hội chứng di truyền HBOC khác, dường
như khơng có vẻ tăng nguy cơ ung thư buồng trứng.
Việc đánh giá nguy cơ cho tất cả các phụ nữ
nên xem xét đến những yếu tố nguy cơ khác liên
quan với ung thư buồng trứng như vô sinh, các yếu
tố sinh sản và sử dụng nội tiết.
Tiền căn gia đình có ung thư buồng trứng
Khi một phụ nữ có tiền căn gia đình có tiền căn
gia đình bị ung thư buồng trứng xét nghiệm âm tính
cho một bảng gene bao gồm các gene có liên quan
ung thư buồng trứng, nguy cơ bị ung thư buồng
trứng của cơ ta có thể hãy cịn tăng so với quần thể
chung. Do đó, tiếp cận những phụ nữ với xét nghiệm


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2

Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
di truyền âm tính và có một tiền căn gia đình bị ung
thư buồng trứng được tóm tắt dưới đây:
 Thảo luận việc sử dụng thuốc ngừa thai uống ở
phụ nữ tiền mãn kinh có thể giảm có ý nghĩa
nguy cơ ung thư buồng trứng, đặc biệt với việc
sử dụng trong thời gian dài và bất kể tiền căn
gia đình và/ hoặc khả năng di truyền dễ mắc
bệnh được nhận biết.
 Những phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư
buồng trứng, đặc biệt nếu họ hậu mãn kinh và
đã cắt tử cung vì các lý do lành tính, cũng có
thể được cung cấp một rrBSO.
 Hiệu quả hạn chế của việc tầm sốt sẵn có của
ung thư buồng trứng, bao gồm xét nghiệm máu
CA 125 và siêu âm qua ngã âm đạo, và do đó
tiếp cận này khơng được khuyến cáo.
Tiếp cận này dựa trên các dữ liệu dịch tễ gợi ý
nguy cơ gia tăng về ung thư buồng trứng trong số
những phụ nữ có tiền căn gia đình bị ung thư buồng
trứng. Chẳng hạn như, các nghiên cứu gợi ý rằng
những phụ nữ có họ hàng hàng thứ nhất có ung thư
buồng trứng có khoảng 5% nguy cơ ung thư buồng
trứng, và 3,5% nguy cơ nếu cơ ta có một họ hàng
hàng thứ hai và 7% nguy cơ ung thư buồng trứng
nếu cơ ta có 2 họ hàng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên,
một số trong nguy cơ này có thể do các thay đổi sinh
bệnh trong BRCA, và với một độ rộng ít hơn, trong
các gene khác có liên quan ung thư buồng trứng
(như RAD51C, RAD51D, BRCA1-interacting protein

1 [BRIP1]). Trong một nghiên cứu, họ hàng hàng thứ
nhất của những bệnh nhân với ung thư buồng trứng
và khơng có một thay đổi sinh bệnh trong BRCA có
một nguy cơ gia tăng ung thư buồng trứng so với
quần thể chung (relative risk [RR] 2.24, 95% CI 1.712.94). Khuyến cáo những phụ nữ có xét nghiệm di
truyền âm tính và tiền căn gia đình bị ung thư buồng
trứng rằng nguy cơ ung thư buồng trứng của họ có
thể gia tăng so với quần thể chung, nhưng kết hợp
tiền căn gia đình khi đưa ra các khuyến cáo quản lý.
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO
Mặc dù đa số các ung thư vú và buồng trứng là
đơn lẻ, một số nhỏ ung thư vú và buồng trứng gây ra
do các đột biến dòng tế bào mầm trong breast
cancer susceptibility gene 1 (BRCA1) hoặc breast
cancer susceptibility gene (BRCA2) (BRCA). Các
thay đổi sinh bệnh di truyền giải thích có số lượng ít
hơn của ung thư vú và ung thư buồng trứng.
Tiêu chuẩn chính của đánh giá nguy cơ di
truyền bao gồm, tiền căn cá nhân ung thư vú nữ
được chẩn đoán ≤50 tuổi, ung thư vú tam âm
(TNBC) chẩn đốn ≤60 tuổi, hoặc tiền căn cá nhân
hoặc gia đình bị ung thư buồng trứng hoặc ung thư

vú nam. Bất cứ khi nào có thể, những bệnh nhân là
các ứng cử viên cho xét nghiệm di truyền nên được
giới thiệu đến một nhà cung cấp di truyền có chứng
chỉ hành nghề.
Cung cấp cho đa số các bệnh nhân có tiền căn
đồng nhất với ung thư vú/ buồng trứng di truyền
(hereditary breast/ ovarian cancer (HBOC)) chọn lựa

thực hiện xét nghiệm bảng đa gene như xét nghiệm
bước một.
Những bệnh nhân có nguy cơ cao trước đó đã
thực hiện xét nghiệm BRCA và ai muốn thêm xét
nghiêm di truyền HBOC nên được tư vấn liên quan
cơ hội họ có thể chứa một thay đổi sinh bệnh trong
BRCA hiếm gặp không phát hiện được, thay đổi sinh
bệnh (nếu xét nghiệm trước 2006) hoặc một thay đổi
sinh bệnh trong gene khác, và nên được cung cấp
xét nghiệm bảng gene thế hệ mới.
Với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm âm
tính hoặc thiếu thơng tin, các cơng thức định lượng
có thể giúp xác định những phụ nữ với nguy cơ cao
mắc ung thư buồng trứng trong suốt đời ít nhất 20%.
Các phụ nữ này là ứng cử viên thích hợp cho tầm
sốt ung thư vú bằng MRI thêm vào nhũ ảnh.
Những phụ nữ với các kết quả xét nghiệm
di truyền âm tính khơng đủ thơng tin mà khơng có
tiền căn gia đình bị ung thư buồng trứng có vẻ khơng
có nguy cơ gia tăng phát triển ung thư buồng trứng.
Do đó, cắt buồng trứng - vịi trứng 2 bên khơng
được chỉ định cho việc giảm nguy cơ ung thư buồng
trứng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Risch HA, McLaughlin JR, Cole DE, et al.
Prevalence and penetrance of germline BRCA1
and BRCA2 mutations in a population series of
649 women with ovarian cancer. Am J Hum
Genet 2001; 68:700.
2. Couch FJ, Shimelis H, Hu C, et al. Associations

Between Cancer Predisposition Testing Panel
Genes and Breast Cancer. JAMA Oncol 2017;
3:1190.
3. Tung N, Lin NU, Kidd J, et al. Frequency of
Germline Mutations in 25 Cancer Susceptibility
Genes in a Sequential Series of Patients With
Breast Cancer. J Clin Oncol 2016; 34:1460.
4. Chong HK, Wang T, Lu HM, et al. The validation
and clinical implementation of BRCAplus: a
comprehensive
high-risk
breast
cancer
diagnostic assay. PLoS One 2014; 9:e97408.
5. LaDuca H, Stuenkel AJ, Dolinsky JS, et al.
Utilization of multigene panels in hereditary

111


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
cancer predisposition testing: analysis of more
than 2,000 patients. Genet Med 2014; 16:830.
6. Tung N, Battelli C, Allen B, et al. Frequency of
mutations in individuals with breast cancer
referred for BRCA1 and BRCA2 testing using
next-generation sequencing with a 25-gene
panel. Cancer 2015; 121:25.
7. Kurian AW, Ward KC, Howlader N, et al. Genetic

Testing and Results in a Population-Based
Cohort of Breast Cancer Patients and Ovarian
Cancer Patients. J Clin Oncol 2019; 37:1305.
8. Robson ME, Bradbury AR, Arun B, et al.
American Society of Clinical Oncology Policy
Statement Update: Genetic and Genomic
Testing for Cancer Susceptibility. J Clin Oncol
2015; 33: 3660.
9. Ford D, Easton DF, Stratton M, et al. Genetic
heterogeneity and penetrance analysis of the
BRCA1 and BRCA2 genes in breast cancer
families.
The
Breast
Cancer
Linkage
Consortium. Am J Hum Genet 1998; 62: 676.
10. Hu C, Hart SN, Polley EC, et al. Association
Between Inherited Germline Mutations in Cancer
Predisposition Genes and Risk of Pancreatic
Cancer. JAMA 2018; 319: 2401.
11. Syngal S, Furniss CS. Germline Genetic Testing
for Pancreatic Ductal Adenocarcinoma at Time
of Diagnosis. JAMA 2018; 319: 2383.
12. National Comprehensive Cancer Network.
NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology.
Genetic/Familial High-Risk Assessment: Breast
and
Ovarian.
Version

2.2019.
/>/pdf/genetics_screening.pdf
(Accessed
on
October 23, 2019).
13. Hampel H, Bennett RL, Buchanan A, et al. A
practice guideline from the American College of
Medical Genetics and Genomics and the
National Society of Genetic Counselors: referral
indications
for
cancer
predisposition
assessment. Genet Med 2015; 17:70.

112

14. Alsop K, Fereday S, Meldrum C, et al. BRCA
mutation frequency and patterns of treatment
response in BRCA mutation-positive women with
ovarian cancer: a report from the Australian
Ovarian Cancer Study Group. J Clin Oncol 2012;
30:2654.
15. NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology
(NCCN Guidelines). Genetic/Familial High-risk
Assessment:
Prostate.
Version
1.2018.
/>/pdf/prostate.pdf (Accessed on August 13, 2018).

16. American
Society
of
Breast
Surgeons
Consensus Guideline on Genetic Testing for
Hereditary
Breast
Cancer.
/>Consensus-Guideline-on-Genetic-Testing-forHereditary-Breast-Cancer.pdf (Accessed on
August 27, 2019).
17. US Preventive Services Task Force, Owens DK,
Davidson KW, et al. Risk Assessment, Genetic
Counseling, and Genetic Testing for BRCARelated Cancer: US Preventive Services Task
Force Recommendation Statement. JAMA 2019;
322:652.
18. Nelson HD, Pappas M, Cantor A, et al. Risk
Assessment, Genetic Counseling, and Genetic
Testing for BRCA-Related Cancer in Women:
Updated Evidence Report and Systematic
Review for the US Preventive Services Task
Force. JAMA 2019; 322:666.
19. Beitsch PD, Whitworth PW, Hughes K, et al.
Underdiagnosis of Hereditary Breast Cancer: Are
Genetic Testing Guidelines a Tool or an
Obstacle? J Clin Oncol 2019; 37:453.
20. Latham A, Srinivasan P, Kemel Y, et al.
Microsatellite Instability Is Associated With the
Presence of Lynch Syndrome Pan-Cancer. J
Clin Oncol 2019; 37:286.




×