Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Phẫu thuật trong thời đại dịch COVID-19

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (476.82 KB, 8 trang )

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2

PHẪU THUẬT TRONG THỜI ĐẠI DỊCH COVID-19
LÊ QUANG NGHĨA1
TÓM LƯỢC
COVID-19 là bệnh đại truyền nhiễm gây bởi virus đơn RNA thuộc nhóm corona virus gọi là 2019 nCoV
(SARS-CoV-2). Bệnh lây rất nhiều, phần lớn bởi các giọt bắn hay do tiếp xúc trực tiếp. Tần suất bệnh tăng
rất khủng khiếp, nhân viên y tế phải tiếp xúc chăm sóc bệnh nhân rất nặng, tiếp xúc với thân nhân bệnh
nhân và các đồng nghiệp khác nên việc lây nhiễm chéo rất dễ xảy ra. Bài này nhắc lại phần tổng quan về
COVID-19 cũng như nhắc lại các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm căn bản cho nhân viên y tế và phẫu
thuật viên trong thời đại dịch COVID-19.

ĐẠI CƯƠNG
Cuối tháng 12 năm 2019, dịch viêm phổi cấp
không rõ nguyên nhân xảy ra ở Vũ Hán, tỉnh Hà Bắc
(Trung Quốc). Nguyên nhân được cho là do dòng
Coronavirus chủng mới. Lúc đầu được gọi là
coronavirus 2 (SARS-CoV-2) gây hội chứng suy hô
hấp cấp và WHO định danh là bệnh coronavirus
2019 (COVID-19). Về sau WHO xác định virus là
2019-nCoV.
Virus gây bệnh là một trong nhóm các virus gọi
chung là họ coronavirus. Về di truyền virus này gồm
một chuỗi RNA. Ngày 11/3/2020 WHO tuyên bố
bệnh này là đại dịch và vào ngày 9/5/2020 bệnh đã
lan truyền trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ với
hơn 3.887.914 người nhiễm và trên 270.537 người
tử vong. Đến ngày 24/7/2020 toàn cầu có
15.265.081 bệnh nhân, tử vong 624.370, số người
hồi phục là 8.708.362. Ngày 28/8/2020 tồn cầu có


24.215.678 bệnh nhân. Tại Việt Nam đến ngày
24/7/2020 có 412 bệnh nhân và khơng có tử vong.
Ngày 28/8/2020 Việt Nam có 1.036 bệnh nhân, tử
vong 30 người.
Như vậy 2019- nCoV là nhân tố thứ 7 lây truyền
trên người. Trong 2 thập niên qua 2 đại dịch trầm
trọng xảy ra do 2 chủng virus mới, đó là hội chứng
suy hô hấp cấp SAR-CoV và hội chứng suy hô hấp
Trung Đông MERS-CoV. Hai loại virus này này
nhiễm hơn 8000 với tỷ lệ tử vong là 10 - 35%[1].
TRUYỀN BỆNH
Các báo cáo sớm cho rằng virus 2019-nCoV có
trong lồi dơi nhưng ký chủ trung gian thì chưa rõ.
Địa chỉ liên hệ: Lê Quang Nghĩa
Email:
1
GS. Cố vấn chuyên mơn Bệnh viện Bình Dân

Người truyền bệnh qua người qua các giọt nhỏ và
tiếp xúc trực tiếp giữa người bệnh và người lành. Dù
virus được tìm thấy trong nước mắt và phân của
bệnh nhân nhưng bệnh có truyền qua ngả miệng.
phân và kết mạc mắt hay khơng thì khơng rõ[1].
Bệnh rất hay lây. Vài báo cáo cho thấy hệ số
lây R0 là 2.20 đến 3.58 nghĩa là 1 người bệnh có thể
lây qua 2 hay 3 người khác[1].
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Thời kỳ ủ bệnh của virus là 14 ngày, trung bình
là 5,2 ngày. Một trường hợp khơng có triệu chứng có
một trong các triệu chứng sau 12,5 ngày sau tiếp

xúc.
Bệnh nhân bị COV-19 có thể khơng có triệu
chứng hoặc có triệu chứng xếp từ nhẹ đến suy hô
hấp hay suy đa tạng. Chủ yếu là bệnh nhân có sốt,
ho khan, đau cơ, mệt và khó thở. Các triệu chứng
khác ít gặp hơn gồm tiêu chảy, đau bụng, chóng
mặt, ho có đàm, đau ngực và ho ra máu[4].
Các tác giả Trung Quốc chia bệnh nhân ra làm
4 loại: nhẹ, trung bình, nặng và rất nặng. Thể nhẹ có
triệu chứng nhẹ và trên X quang khơng có tổn
thương phổi. Thể trung bình có sốt và triệu chứng hơ
hấp và trên X quang có dấu viêm phổi.
Thể nặng có triệu chứng khó thở, thở nhanh
(nhịp thở > 30/phút), nồng độ Oxy/máu < 93% và tổn
thương phổi thâm nhiễm trên 50% trong 24 - 48 giờ.
Thể rất nặng có sốc nhiễm trùng, suy hơ hấp và
suy đa tạng. Đánh giá bước đầu thì tỷ lệ tử vong là
4,49%[1][5].
Ngày nhận bài: 01/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

113


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
Ngày 29/4/2020 Trung tâm CDC (Mỹ) chính
thức bổ sung 6 triệu chứng mới của bệnh COVIDGS. Cố vấn chun mơn Bệnh viện Bình Dân


19: ớn lạnh, run rẩy, đau cơ, đau đầu, đau họng
và mất vị giác hoặc khứu giác.
ĐỊNH BỆNH LÂM SÀNG
Trong giai đoạn rất sớm của bệnh thì cơng thức
bạch cầu bình thường. Triệu chứng thường gặp của
COVID-19 là leucopenia, lymphopenia. Một số bệnh
nhân có tăng lactate dehydrogenase, creatinine
kinase, alanine aminotransferase và aspartate
aminotransferase[1][2][3].

114

Lymphopenia được xem là triệu chứng chính
của bệnh này. Khoảng 30% bệnh nhân có gia tăng
bất thường lượng D-Dimer. Trong đa số các trường
hợp thì procalcitonin bình thường, C-reactive protein
tăng.
Hình ảnh CT[6] liên hệ với 4 thể lâm sàng: nhẹ,
trung bình, nặng và rất nặng. Ở thể nhẹ thì CT bình
thường. Ở thể trung bình thì có solid plaque shadow
và halo sign (ground glass opacity bao quanh một
nhân hay một khối nhu mô phổi). Các tổn thương
này hiện diện trong 91% các trường hợp. Trường
hợp nặng có fibrous strip shadow với thay đổi
ground glass, tổn thương đa dạng thấy trong 95%
các trường hợp. Đông đặc phổi là tổn thương chính
trong thể nặng[1].

Hình 1. X quang phổi cho thấy
viêm phổi hai bên và ở ngoại biên


Hình 2. X quang phổi cho thấy diễn tiến sau
5 ngày

Hình 3. X quang chụp nghiêng.
Diễn tiến sau 5 ngày

Hình 4. CT ngực cho thấy bilateral
peripheric ground glass opacities (kính mờ)


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2

Hình 5. Các tổn thương (mũi tên đỏ)

Hình 6. Các tổn thương (mũi tên đỏ)

a. Ground glass opacity[6]

b. Đơng đặc (consolidation)

Hình 7. Các tổn thương (mũi tên đỏ).

Hình 8. Các tổn thương (mũi tên đỏ).

c. Đơng đặc và Ground glass opacities

d. Nhân đặc


Hình 9. CT: Hình ảnh đơng đặc và ground glass
opacities

Hình 10. CT 2 ngày sau, đậm độ tổn thương
bớt nhiều

Hình 11. CT của bệnh nhân sốt 8 ngày

Hình 12. CT của bệnh nhân 4 ngày sau

115


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2

a. Hình ảnh ground glass và đơng đặc

b. Hình ảnh khơng bớt

Hình 13. Bệnh nhân sốt 1 ngày

Hình 14. Bệnh nhân 3 ngày sau.

a. Tổn thương ground glass

b. Kích thước tổn thương và đậm độ lớn hơn

Hình 15. CT của bệnh nhân sốt và ho 3 ngày.


Hình 16. CT của bệnh nhân 4 ngày sau.

a. Khơng có tổn thương

b. Xuất hiện nhiều tổn thương ground glass

Tóm lại, CT cho thấy tổn thương thường gặp là
ground glass (kính mờ) ở ngoại vi 2 bên phổi và thay
đổi rất nhanh nhất là khi có tiền sử dịch tễ và có
giảm tế bào lympho[1][6]. Có một số bệnh nhân hình
phổi bình thường nhưng NAT (Nucleic Acid Testing)
dương tính[1][6].
Tìm ra RNA của virus qua xét nghiệm real-time
reverse transcriptase-polymerase chain reaction
(rRT-PCR) là xác nhận định bệnh lâm sàng. Nhạy
nhất để xác định COVID-19 là lấy cả 2 mu dịch hơ
hấp trên và dưới.
Dịch rửa khí quản cho kết quả dương tính cao
nhất 93% các trường hợp, kế đến đàm 72%, phết
mũi 63%, chải khí quản 46% và phết hầu 32%. Thử
phân chỉ dương tính 29% và thử máu 1%. Dù dịch
rửa khí quản dương tính cao nhất nhưng CDC Mỹ
khuyến cáo chỉ lấy mẫu phết hầu - họng vì an tồn
cho nhân viên y tế ít nguy cơ bị các giọt bắn[1].
Một xét nghiệm bổ sung là serology thử kháng
thể IgM và IgG.
Xét nghiệm rRT-PCR, thử IgM, IgG cộng với CT
ngực là bộ 3 xét nghiệm cần thiết để xác định bệnh
COVID-19.


116

TRƯỚC NHẬP VÀ KHI NHẬP VIỆN[1][3][5][7][8][9]
Tất cả mọi bệnh nhân trước khi mổ đều được
phân ra 3 loại xem có nguy cơ nhiễm nCoV-2019
khơng:
- Khơng nhiễm
- Có nhiễm nhưng không triệu chứng
- Bị nhiễm
Cần làm rõ thể trạng chung của bệnh nhân, có
bệnh hơ hấp hay tiêu hóa đang diễn tiến hay gần
đây khơng, thay đổi khứu giác (anosmia), có tiền sử
đi vào vùng dịch trong vịng 14 ngày hay có tiếp xúc
với bệnh nhân bị nCoV-19.
Mọi bệnh nhân đi mổ cần thử nghiệm dù rằng
khơng có triệu chứng. Dù tình trạng nhiễm bệnh như
thế nào thì mọi cuộc mổ chương trình đều được
hỗn lại.
Mọi bệnh nhân nghi ngờ hay có bệnh đều phải
đánh giá rõ xác định có bệnh. Nếu định bệnh rõ rồi
thì cho cách ly. Mặt khác bệnh nhân không nghi ngờ
hoặc đã khỏi bệnh cần cho nằm phòng riêng để
ngừa nhiễm chéo với bệnh nhân trong thời ủ bệnh


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
hay bệnh nhân khơng có triệu chứng (25 - 50% các
trường hợp).
Trong trường hợp cấp cứu đe dọa mạng sống

mà không thử được PCR thì đều phải xem như có
bệnh CoVID và xử trí y như người bị bệnh. Mọi biện
pháp trước trong và sau mổ đều được thực hiện cho
đến khi định ra bệnh hay khi bệnh nhân được xuất
viện[3][4][7][8][9].
Bảng 1. Các loại phẫu thuật[5].
Chỉ định

Độ khẩn
cấp

Loại phẫu thuật
- Đe dọa tính mạng
- Sốc mất máu
- Chấn thương nặng

Tối khẩn
(emergent)

< 1 giờ

- Vết thương/tắc mạch máu
- Bóc tách động mạch chủ
- Viêm hoại tử cân
- Viêm phúc mạc
- Tắc ruột/thủng ruột
- Viêm ruột dư/viêm túi mật
- Viêm khớp nhiễm trùng
- Gãy xương hở


Khẩn
(urgent)

< 24 giờ

- Gãy xương chậu xuất huyết
- Gãy thân xương đùi/gãy
khớp háng
- Chấn thương thần kinh cấp/
chấn thương cột sống
- Nhiễm trùng ngoại khoa
- Mổ cardiothoracic/
cardiovascular
- Mổ phình mạch máu não

Khẩn chọn lọc
(Urgent
elective)

< 2 tuần

- Đặt lỗ dò mạch máu
- Ghép da, khâu vết mổ
- Gãy xương kín
- Gãy cột sống/ gãy khớp
háng
- Mổ ung thư/ sinh thiết

Elective
(essential)


- Sửa van tim bán cấp
1 - 3 tháng

- Mổ thoát vị
- Cắt tử cung
- Mổ tạo hình
- Mổ thẩm mỹ

Elective
(discretionary)

>3 tháng

- Mổ điều trị béo phì
- Thay khớp
- Mổ thể thao

- Cột thừng tinh/ cột vịi trứng
- Mổ vơ sinh

BIỆN PHÁP CHU PHẪU Ở BỆNH NHÂN BỊ COVID19[1][7][8][9]
Biện pháp tiền phẫu
Mọi nhân viên y tế đều phải mang găng, đội mũ
và mang khẩu trang đúng đắn. Đối với bệnh nhân
nghi ngờ hoặc đã có bệnh thì phải áp dụng biện
pháp phịng ngừa thật nghiêm ngặt đến mức cao
nhất. Mọi nhân viên đều phải dùng personel
protective equipment (PPE) gồm có khẩu trang N95,
face shield, áo quần cách ly, ủng, 2 lớp găng, bọc

ủng để tránh tiếp xúc tối đa với giọt bắn. Mọi nhân
viên y tế phải rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với
bệnh nhân và sau khi tháo găng.
Vì nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân, với
thân nhân và với đồng nghiệp thì nguy cơ lây nhiễm
chéo rất cao vì vậy mỗi ngày họ cần được đánh giá
về sức khỏe và đo nhiệt độ. người nào nhiệt độ cao
đều phải được cách ly và phải xác định xem có
nhiễm bệnh khơng.
Chun viên gây mê trang bị đầy đủ oxy 100%
cho bệnh nhân trong 3 đến 5 phút rồi dẫn mê và đặt
nội khí quản nhanh để tránh vương vãi virus. Sau khi
gở bỏ PPE rồi thì phải rửa tay trước khi chạm đồ vật
chung quanh.
Nên dùng Heat and Moisture Exchange Filter
(HMEF) giữa mask và hệ thống ống thở như vậy có
thể lấy đi 99,97% các giọt nhỏ theo khơng khí có
kích thước lớn hơn 0,3 microns. Các thiết bị gây mê
chỉ dùng một lần cho một bệnh nhân và máy gây mê
phải được tẩy trùng đúng nguyên tắc sau đó.
Biện pháp trong khi mổ
Bệnh nhân rất nghi ngờ hay bị CoVID-19 cần
mổ trong phòng mổ áp lực âm. Cần giữ độ chênh áp
lực với bên ngoài là - 4.7. Pa. Nhân viên y tế cần có
mặt tối thiểu và cần đo nhiệt độ phòng mổ trước khi
mổ.
Phẫu thuật viên và đồng nghiệp cần lưu ý đến
máu và dịch tiết, cần làm sạch dịch này trên dụng
cụ. Các thủ thuật gây ra xì hơi làm dễ bị lây nhiễm
chéo cho nhân viên như đặt nội khí quản, rút nội khí

quản, đặt ống thơng ngực (chest tube), nội soi khí
quản, bóp bóng, nội soi tiêu hóa, nội soi hầu - họng,
nội soi ổ bụng và việc dùng máy đốt thì cần dùng
năng lượng tối thiểu để tránh khói và dùng thiết bị
hút khói.
Cần cẩn thận khi chọn giữa mổ mở
(laparotomy) và mổ nội soi ổ bụng (laparoscopy). Mổ
ngả nội soi ổ bụng dành cho bệnh nhân có tình trạng
117


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
tim-phổi và thể trạng tốt. Cần lưu ý cẩn thận khi bơm
hơi vào ổ bụng. Bơm hơi vào ổ bụng làm giảm thể
tích phổi, tăng áp lực ống thở, tăng độ ứ đọng CO2
và làm giảm co giãn phổi. Vì vậy nhiễm trùng chu
phẫu nCoV-19 sẽ cao. Để làm giảm tai hại của bơm
hơi ổ bụng trên chức năng phổi, trên hệ tuần hồn
và trên việc nhiễm vi trùng thì áp lực bơm hơi và áp
lực CO2 phải thấp nhất. Khói trong phịng mổ và xì
hơi ổ bụng phải dùng thiết bị nối với máy hút chân
không.
Mổ mở cũng là một chọn lựa. Phẫu thuật viên
phải quen thuộc với việc xử dụng các phương tiện
phòng ngừa bản thân (PPE).
Phòng áp lực âm là phòng cách ly đặc biệt chỉ
sử dụng trong điều trị những ca bệnh nặng, nguy cơ
lây nhiễm rất cao được các bệnh viện xây dựng để
tránh tình trạng lây nhiễm chéo.

Phịng áp lực âm là một căn phịng có áp suất
thấp hơn xung quanh. Trong căn phịng này, khơng
khí chỉ có thể đi vào từ một phía và khơng thể thốt
ra qua phía ngược lại. Điều này có nghĩa là gió sẽ
ln thổi từ ngồi cửa vào trong.
Để duy trì được áp suất âm trong phòng, phòng
được thiết kế với trần ngun khối, cửa ra vào khít
với khe hở, vịi nước, ổ cắm điện, cửa sổ đều được
bịt kín.
Một hệ thống bơm hút gió sẽ giúp áp suất trong
phịng giảm xuống. Ống hút gió thường đặt ngay
gần đầu giường bệnh.

Hình 18. Phòng áp lực âm
Hệ thống lọc HEPA hoạt động dựa trên cơ chế
khyếch tán và hút tĩnh điện cho phép bắt được các
hạt nhỏ hơn kích thước khe hở, 0,3 micromet. Các
giọt bắn của mầm bệnh thường có kích thước từ
hàng chục micromet trở lên, vì vậy bộ lọc HEPA có
thể xử lý >99,99% khơng khí trong đường ống hút từ
phòng áp lực âm. Virus được giữ lại trên các màng
lọc này, chúng có thể tự chết hoặc bị chết khi nhân
viên kỹ thuật bệnh viện khử trùng bộ lọc và thay mới.
Khơng khí sạch tự nhiên được đưa vào phịng
áp lực âm qua các cửa hút. Tồn bộ khơng khí trong
phịng sẽ được thay mới 5 phút một lần.
Giữa phịng cách ly và hành lang cịn có 2
phịng nhỏ (buồng đệm). Phòng đệm đầu tiên là nơi
các nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ gồm quần áo
chống nước, găng tay phẫu thuật, khẩu trang, mủ

trùm giày (ủng) và mũ trùm đầu trước khi vào phòng
cách ly.
Sau khi điều trị cho bệnh nhân, nhân viên y tế
sẽ rời phòng cách ly bằng phòng đệm thứ hai. Tại
đây, quần áo đã tiếp xúc với bệnh nhân và kim phẫu
thuật sẽ được lấy ra và mang đi đốt.
Biện pháp sau khi mổ

Hình 17. Phối cảnh phịng cách ly áp lực âm.
(Ảnh Internet)
Khơng khí ơ nhiễm trong phịng sẽ được xử lý
bằng hệ thống lọc khơng khí hiệu quả cao HEPA
(High-efficiency particulate air), lọc virus trước khi
thốt ra ngồi theo hệ thống thơng gió. Thiết kế này
giúp giảm khả năng lây lan của virus, tránh hiện
tượng lây nhiễm chéo giữa các bệnh nhân và nhân
viên y tế.

118

Hậu phẫu các mẫu bệnh phẩm phải được ghi
chú rõ là nCoV-2019 trước khi gởi đến khoa bệnh lý.
Các bệnh nhân không bị nhiễm vẫn được về khoa
như bình thường.
Với bệnh nhân bị nhiễm thì mỗi ngày cần đo
thân nhiệt và theo dõi về hệ hô hấp. Mọi bệnh nhân
mới sốt và mới xuất hiện ho thì phải cách ly và phải
xét nghiệm rốt ráo để xem có phải là nhiễm nCoV2019 khơng.
Bệnh nhân bị nghi ngờ hay đã xác nhận bệnh
cần được cách ly trong phòng riêng với áp suất âm,

cung cấp đủ oxy và thực hiện việc phun khí. Thăm
khám sau mổ, cho thuốc và chăm sóc vết mổ được


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
thực hiện với các biện pháp vô trùng thật nghiêm
nhặt để tránh tiếp xúc với các dịch tiết.
Trường hợp nghi ngờ COVID-19 thì mọi nhân
viên y tế đều phải được cách ly và theo dõi cho đến
khi bệnh nhân hết bệnh xuất viện. Nếu đã xác định
COVID-19 hay trước đó đã biết thì mọi nhân viên y
tế dính vào trường hợp này phải được cách ly 14
ngày sau mổ[1][7][8][9].
KẾT LUẬN
Trong thời đại dịch COVID-19 mọi nhân viên y
tế đều phải thực thi mọi biện pháp phòng ngừa cá
nhân [personel protective equipment (PPE)] để tránh
mọi truyền nhiễm và tránh các biến chứng không
mong muốn.
Với các phẫu thuật cứu mạng mọi bệnh nhân
phải được xử lý như đã bị COVID-19 cho đến khi có
bằng chứng ngược lại.
Các phẫu thuật chương trình đều được hoản
lại. Chỉ giải quyết các trường hợp cấp cứu ảnh
hưởng tính mạng và các phẫu thuật ung bướu tiên
lượng sẽ xấu hơn nếu trì hỗn. Mổ qua nội soi ổ
bụng vẫn là chọn lựa với các dự phòng khi bơm hơi
ổ bụng, chú ý sinh lý tim - phổi và khi rút khí khỏi ổ
bụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Al-Balas M-Al- Balas HI- Al-Balas H: Surgery
during
the
COVID-19
Pandemic:
A
comprehensive overview and perioperative care.
Am.J.Surg. 2020.04.018.

2. Loeffelholz MJ et al: Laboratory diagnosis for
emerging of human coronavirus infections - the
state of the art. Emerg Microb Infec. 2020.
3. Ti LK et al: What we do when a COVID-19
patient needs an operation: operating room
preparation and guidance. Can J Anesth/J Can
Anesth. 2020.
4. Zhou Zili et al: Effect of gastrointestinal
symptoms on patients infected with COVID-19.
Gastroenterology. 2020.
5. Stahel Ph F: How to risk-stratify elective surgery
during the COVID-19 pandemic ? Patient Safety
in Surgery. BMC; 14-8. 2020.
6. Li X et al: CT imaging changes of corona virus
disease 2019 (COVID-19): a multi-center study
in Southwest China. J Transl Med 18:154. 2020.
7. Patriti A et al: What happened to surgical
emergencies in the era of COVID-19 outbreak ?
Considerations of surgeons working in an italian
COVID-19 red zone. Updates in Surgery.

Published online 23 April 2020.
8. Fistenberg MS et al: Isolation protocol for a
COVID-2019 patient requiring emergent surgical
intervention: case presentation. Patient Safety in
Surgery. BMC. 14: 15. 2020.
9. Isabel M et al: The surgeons and the COVID-19
pandemic. Technical Note. Rev Col Bras Cir 47:
2536.2020.

119


Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5-2020-Tập 2
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5-2020-Vol 2
ABSTRACT
Surgery during the COVID-19 pandemic
COVID-19 disease is a pandemic disease caused by a single stranded RNA virus that belongs to the
coronavirus family known as 2019-nCoV (SARS-CoV-2). The disease is and highly contagious and transmitted
mainly by droplets or close contact. As the global incidence of COVID-19 disease is increasing dramatically,
health systems worldwide started to suffer in terms of its capability to manage affected people and the ability to
provide standard treatment for critically ill patients in a safe environment. As Medical staff has extensive contact
with patients, families as well as other health care providers, they are very likely to cause cross-infection.
This paper aims to provide a comprehensive overview of COVID-19 disease as well as to highlight to essential
measures that healthcare providers and surgeons need to take into consideration during their management of
the patient during the COVID-19 pandemic.

120




×