Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Tổng quan về yêu cầu vốn tối thiểu và các loại rủi ro theo basel 2 (basel II)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (272.08 KB, 22 trang )

Tổng quan về yêu cầu vốn tối thiểu và các loại rủi ro theo Basel 2 (Basel
II)
1. Các loại rủi ro trọng yếu theo Basel
1.1. Rủi ro tín dụng

Khái
niệm
Rủi
ro tín
(Cred
Risk)

NHNN

Đoạn 2, BCBS75: Khoản 24 a, điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN
Rủi ro tín dụng là ngày 30/12/2016 v/v Quy định tỷ lệ an toàn vốn
khả năng bên vay đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước

dụng
it

BIS

hoặc đối tác của ngoài: Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng
ngân hàng khơng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện
thực hiện được các một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp
nghĩa vụ đã cam đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh
kết trong hợp đồng. ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định

tại điểm b khoản này.
Tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập (External Credit Assessment Institution


- ECAI): Một tổ chức được gọi là Tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập nếu thỏa mãn

các tiêu chí sau đây (tham chiếu đoạn 83,84, phụ lục 1, d347)
- Tính khách quan: Phương pháp đánh giá tín dụng cần phải chặt chẽ, có hệ thống và
phải căn cứ vào kết quả kiểm nghiệm trong quá khứ. Ngoài ra, các kết quả đánh giá
cần phải liên tục được rà soát và điều chỉnh kịp thời theo những thay đổi về tình hình
tài chính. Để được các cơ quan giám sát ngân hàng công nhận, phương pháp đánh giá
(bao gồm việc đối chiếu lại một cách chặt chẽ) đối với mỗi phân khúc thị trường cần
phải được thực hiện trước đó ít nhất một năm và nên là ba năm.
- Tính độc lập: Một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần phải độc lập và không bị
ảnh hưởng bởi các sức ép về kinh tế hoặc chính trị có thể ảnh hưởng đến kết quả
đánh giá. Q trình đánh giá càng ít bị ảnh hưởng từ những mâu thuẫn về lợi ích có
thể phát sinh do thành phần của Hội đồng quản trị hoặc cơ cấu cổ đông của công ty
gây ra càng tốt.
- Tính minh bạch: Các kết quả đánh giá riêng lẻ cần được cung cấp cho các tổ chức
trong và ngồi nước để sử dụng trong các mục đích hợp pháp và với các điều kiện
cung cấp tương đương nhau. Ngồi ra, phương pháp chung để đánh giá tín dụng của
các tổ chức đánh giá cần phải được công khai.


- Công bố thông tin: Một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần cung cấp các thơng
tin sau: phương pháp đánh giá, bao gồm các khái niệm về khả năng không trả được
nợ, khoảng thời gian đánh giá, ý nghĩa của mỗi bậc xếp hạng; tỷ lệ không trả được nợ
thực tế ứng với mỗi danh mục xếp hạng và xu hướng thay đổi các kết quả đánh giá,
ví dụ khả năng từ xếp hạng AA xuống xếp hạng A theo thời gian.
- Các nguồn lực: Một tổ chức đánh giá tín nhiệm độc lập cần phải có đủ các nguồn
lực cần thiết để thực hiện việc đánh giá tín dụng đạt chất lượng cao. Các nguồn lực
này cho phép các tổ chức này tiếp xúc thường xuyên với cán bộ quản lý và tác nghiệp
tại các tổ chức đang được đánh giá tín dụng để bổ sung các thơng tin quan trọng cho
việc đánh giá tín nhiệm. Các kết quả đánh giá cần phải dựa trên sự kết hợp các

phương pháp định tính và định lượng.
- Tính tin cậy: Trong một chừng mực nhất định, độ tin cậy của các kết quả đánh giá
đạt được nhờ các tiêu chí đã nêu trên. Ngồi ra, lịng tin của các tổ chức độc lập (nhà
đầu tư, nhà bảo hiểm, các đối tác kinh doanh) đối với các kết quả đánh giá của một tổ
chức đánh giá tín nhiệm độc lập cũng là bằng chứng của độ tin cậy của các kết quả
đánh giá này. Độ tin cậy của một tổ chức đánh giá tín nhiệm độc lập cũng thể hiện ở
việc các tổ chức này sử dụng các quy trình nội bộ nhằm tránh khơng cho các thơng
tin mật được sử dụng sai mục đích. Để được cơng nhận, một tổ chức đánh giá tín
nhiệm độc lập khơng nhất thiết phải đánh giá các công ty ở hai quốc gia trở lên.
- Không lạm dụng các kết quả xếp hạng tự nguyện: ECAIs không được sử dụng các
xếp hạng để gây áp lực lên các đối tượng để có được xếp hạng mong muốn.
- Hợp tác với các cơ quan giám sát: ECAIs nên thông báo cho các cơ quan giám sát
những thay đổi đáng kể trong phương pháp luận và cho phép truy cập thang xếp hạng
và các thơng tin có liên quan để nhằm mục đích hỗ trợ và xác định tính phù hợp.
Lưu ý trong trường hợp có nhiều kết quả xếp hạng của nhiều tổ chức xếp
hạng tín nhiệm độc lập:
- Nếu ngân hàng chỉ sử dụng kết quả đánh giá của một tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc
lập duy nhất đối với một khoản phải địi cụ thể, kết quả đó nên được dùng để xác
định hệ số rủi ro của khoản phải địi đó.
- Nếu ngân hàng sử dụng hai kết quả đánh giá của hai tổ chức đánh giá tín nhiệm độc
lập khác nhau và các kết quả này cho mức hệ số rủi ro tương ứng khác nhau, hệ số
rủi ro cao hơn sẽ được áp dụng.
- Nếu có ba hoặc nhiều hơn kết quả đánh giá ứng với các hệ số rủi ro khác nhau, hai


kết quả đánh giá ứng với hai hệ số rủi ro thấp nhất sẽ được chọn ra và hệ số rủi ro cao
hơn trong hai mức đó sẽ được áp dụng
Tài sản có điều chỉnh rủi ro tín dụng (Credit risk weighted asset CRWA): là một khái niệm được sử dụng nhằm giúp ngân hàng xác định lượng vốn
tối thiểu để có thể giảm thiểu rủi ro tín dụng. Lượng vốn tối thiểu này được tính tốn
dựa trên sự đánh giá rủi ro đối với các loại tài sản khác nhau. Ví dụ: Một khoản vay

được bảo đảm bằng thư tín dụng được xem như là rủi ro hơn và yêu cầu nhiều vốn
hơn một khoản vay thế chấp được đảm bảo bằng bất động sản.
Hệ số rủi ro tín dụng (Credit Risk Weighted - CRW): là hệ số dưới dạng %,
được dùng để xác định mức tỷ lệ phần trăm vốn yêu cầu tối thiểu đối với giá trị
khoản phải địi.
1.2. Rủi ro tín dụng đối tác

Khái niệm

BIS

NHNN

Rủi ro tín Điểm I.A, phụ lục 4, BCBS128: Khoản 24b, điều 2 Thơng tư
dụng đối tác Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro 41 của NHNN ban hành
xảy ra khi đối tác trong giao dịch ngày 30/12/2016 v/v Quy
với ngân hàng không thực hiện định tỷ lệ an toàn vốn đối
hoặc khơng có khả năng thực hiện với ngân hàng, chi nhánh
một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ ngân hàng nước ngoài: Rủi
thanh toán, nghĩa vụ đã cam kết ro tín dụng đối tác là rủi ro do
trước hoặc khi đến hạn với ngân đối tác không thực hiện hoặc
hàng. Khơng giống như rủi ro tín khơng có khả năng thực hiện
dụng (ví dụ như 1 khoản vay của một phần hoặc tồn bộ nghĩa
cơng ty) trong đó rủi ro tín dụng vụ thanh tốn, nghĩa vụ trước
là đơn phương và chỉ có ngân hoặc khi đến hạn của các giao
hàng cho vay phải đối mặt với dịch được quy định tại khoản
nguy cơ tổn thất, rủi ro tín dụng 4 điều 8 Thông tư 41.
đối tác phát sinh rủi ro song
phương: giá trị thị trường của
giao dịch có thể dương hoặc âm

cho một trong hai đối tác của giao
dịch. Giá trị thị trường là khơng
cố định và có thể thay đổi theo
thời gian với sự thay đổi của các
yếu tố thị trường cơ bản.
Giao dịch thanh toán trường (Long Settlement Transactions): là giao dịch
khi mà đối tác cam kết cung cấp chứng khốn, hàng hóa, ngoại hối để nhận lại tiền
mặt, cơng cụ tài chính khác, hoặc hàng hóa, hoặc ngựợc lại, tại ngày thực hiện thanh


toán hoặc giao hàng được quy định trong hợp đồng cụ thể hơn mức thấp của tiêu
chuẩn thị trường đối với công cụ cụ thể này và 05 ngày làm việc sau ngày mà ngân
hàng tham gia vào giao dịch.
Giao dịch tài trợ bởi chứng khoán (Securites Financing Transactions SFTs): là những giao dịch mà chứng khoán được sử dụng để vay tiền mặt hoặc
ngược lại, thông thường bao gồm các thỏa thuận mua lại, hoạt động cho vay chứng
khoán và giao dịch mua/bán lại. Quyền sở hữu chứng khoán sẽ tạm thời thay đổi để
đổi lấy tiền mặt sở hữu tạm thời. Tại thời điểm kết thúc giao dịch, trạng thái sở hữu
chứng khoán được đổi lại, các bên đối tác sẽ được trả lại tài sản ban đầu, cộng hoặc
trừ mức phí tùy thuộc vào mục đích giao dịch.
Giao dịch cho vay ký quỹ (Margin Lending Transactions): là những giao
dịch mà cho phép nhà đầu tư giao dịch chứng khốn (mua, bán) trên cơ sở tín dụng
được ngân hàng cấp cho nhà đầu tư. Khoản tín dụng này được đảm bảo bằng tiền
hoặc bằng chính chứng khốn của nhà đầu tư. Giao dịch này không bao gồm các
khoản vay khác được đảm bảo bằng chứng khốn.
Nhóm các giao dịch bù trừ (Netting Set): là nhóm các giao dịch với đối tác
duy nhất mà tuân theo một thỏa thuận bù trừ song phương có hiệu lực pháp luật.
Trong đó: Giao dịch bù trừ song phương: là giao dịch có thỏa thuận giữa hai bên,
chủ yếu là giữa ngân hàng và khách hàng mà giao dịch chỉ thanh toán phần chênh
lệch giũa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ hoặc của một
loại tiền tệ của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh toán giữa ngân

hàng với đối tác/khách hàng).
Trạng thái rủi ro (Risk Position): là một con số rủi ro được gắn với một giao
dịch theo phương pháp tiêu chuẩn RRTDĐT sử dụng một thuật toán theo quy định.
Bộ phịng vệ rủi ro (Hedging Set): là một nhóm trạng thái rủi ro phát sinh từ
các giao dịch của một Nhóm các giao dịch bù trừ đơn lẻ mà trong đó số dư của chúng
được dùng để xác định khoản phải đòi vỡ nợ (Exposure at default – EAD) theo
phương pháp tiêu chuẩn đối với rủi ro tín dụng đối tác.
Thỏa thuận ký quỹ (Margin Agreement): là thỏa thuận được xác lập trong
đó, bên A phải bổ sung tài sản bảo đảm cho bên B khi khoản phải đòi của bên B đối
với bên A vượt quá một ngưỡng quy định.
Ngưỡng thực hiện ký quỹ (Margin Threshold): là trạng thái rủi ro lớn nhất
có thể được duy trì cho đến khi một bên có quyền yêu cầu TSĐB.


Bù trừ chéo giữa các sản phẩm (Cross-product netting): đề cập đến giao
dịch của những sản phẩm khác nhau trong cùng một nhóm sản phẩm.
Giá trị thị trường hiện tại (Current Market Value - CMV): đề cập đến giá
trị thị trường ròng của danh mục các giao dịch trong một Nhóm các giao dịch bù trừ
với đối tác. Cả giá trị thị trường dương hay âm đều được sử dụng trong việc tính
CMV. Giá thị trường của danh mục được xác định bằng thị giá nhân với số lượng
danh nghĩa của danh mục.
Phân bổ của các giá trị thị trường (Distribution of Market Values): là việc
dự báo về sự phân bổ xác suất của giá trị thị trường ròng của các giao dịch với một
Nhóm các giao dịch bù trừ cho một số ngày trong tương lai khi biết giá trị thị trường
được ghi nhận của những giao dịch này tính đến thời điểm hiện tại.
Phân bổ trạng thái rủi ro (Distribution of Exposures): là việc dự báo về sự
phân bổ xác suất của các giá trị thị trường được tính bằng cách thiết lập những
trường hợp dự báo về các giá thị trường ròng âm bằng 0 (điều này cho thấy rằng, khi
ngân hàng nợ tiền đối tác, các ngân hàng khơng có trạng thái chịu rủi ro với đối tác).
Phân bổ rủi ro trung lập (Risk-Neutral Distribution): là việc phân bổ các

giá trị hoặc trạng thái chịu rủi của thị trường tại giai đoạn trong tương lai khi mà sự
phân bổ được tính tốn bằng cách sử dụng giá trị thị trường hàm ẩn như độ biến động
hàm ẩn (implied volatilities).
Phân bổ thực tế (Actual Distribution): là việc phân bổ giá trị thị trường
hoặc trạng thái chịu rủi ro trong một giai đoạn tương lai khi mà sự phân bổ được tính
tốn bằng cách sử dụng những giá trị lịch sử hoặc giá trị hiện thực hóa như độ biến
động được tính dựa trên những biến động về giá và lãi suất trong quá khứ.
Trạng thái chịu rủi ro hiện tại (Current Exposure): = max {0, giá trị thị
trường của giao dịch}, trong đó giá trị thị trường của giao dịch là giá trị có thể bị tổn
thất trong trường hợp vỡ nợ đối tác.
Trạng thái rủi ro tối đa (Peak Exposure): là một tỉ lệ phần trăm cao (thường
95%-99%) của sự phân bổ của trạng thái rủi ro vào ngày cụ thể bất kỳ trong tương lai
trước ngày đáo hạn của giao dịch dài nhất trong Nhóm các giao dịch bù trừ. Trạng
thái rủi ro tối đa thường được xác lập cho nhiều ngày trong tương lai cho đến ngày
đáo hạn của giao dịch dài nhất trong Nhóm các giao dịch bù trừ.
Trạng thái rủi ro dự kiến (Expected Exposure): là giá trị trung bình của
phân bổ trạng thái rủi ro tại bất kỳ ngày cụ thể nào trong tương lai trước ngày mà


giao dịch có kỳ hạn dài nhất trong Nhóm các giao dịch bù trừ đáo hạn. Trạng thái rủi
ro dự kiến thường được xác lập cho nhiều ngày trong tương lai cho đến ngày ngày
đáo hạn của giao dịch có kỳ hạn dài nhất trong Nhóm các giao dịch bù trừ.
Trạng thái rủi ro dự kiến hiệu dụng (Effective Expected Exposure): vào
một ngày cụ thể là trạng thái rủi ro dự kiến lớn nhất có thể xảy ra vào ngày đó hoặc
ngày bất kỳ trước đó. Hay nói cách khác, nó có thể được xác định cho một ngày cụ
thể như là trạng thái rủi ro lớn hơn dự kiến vào ngày đó, hoặc trạng thái rủi ro hiệu
dụng vào ngày trước đó.
Trạng thái rủi ro dương dự kiến (Expected Positive Exposure - EPE): là
bình quân gia quyền theo thời gian của trạng thái chịu rủi ro dự kiến với trọng
số là tỷ lệ mà mỗi trạng thái rủi ro dự kiến riêng lẻ đại diện cho toàn bộ một

khoảng thời gian.
Trạng thái chịu rủi ro dương dự kiến hiệu dụng (Effective EPE): là bình
quân gia quyền theo thời gian của trạng thái rủi ro dự kiến hiệu dụng trong một năm,
hoặc, nếu tất cả các hợp đồng trong Nhóm các giao dịch bù trừ đáo hạn trước một
năm, thì là trong thời hạn của hợp đồng có kỳ đáo hạn dài nhất trong Nhóm các giao
dịch bù trừ khi các trọng số là tỷ lệ mà một trạng thái rủi ro dự kiến riêng lẻ đại diện
cho toàn bộ một khoảng thời gian.
Rủi ro đáo hạn (Rollover risk): là rủi ro gắn với việc tái tài trợ các khoản nợ.
Các nước hoặc công ty đối mặt với rủi ro tái đầu tư khi mà khoản nợ của họ đến hạn
và cần quay vòng thành nợ mới. Khi lãi suất gia tăng bất lợi, họ phải tái cấu trúc
khoản nợ tại mức lãi suất cao hơn ở tỷ lệ cao hơn và phải chịu nhiều chi phí lãi suất
hơn.
Rủi ro sai chiều (Wrong way risk): là rủi ro xảy ra khi rủi ro với 1 đối tác
tương quan ngược chiều với chất lượng tín dụng của đối tác đó. Rủi ro sai chiều có 2
loại:
- Rủi ro sai chiều chung (General Wrong-Way Risk): tăng khi chất lượng tín dụng
đối tác tương quan với các nhân tố vĩ mơ mà có thể ảnh hưởng tới giá trị giao dịch
phái sinh. Các yếu tố vĩ mô bao gồm lãi suất, lạm phát, tỷ giá.
- Rủi ro sai chiều cụ thể (Specific Wrong-Way Risk): phát sinh khi trạng thái rủi ro
với một đối tác cụ thể liên quan mật thiết với xác suất vỡ nợ của đối tác do bản chất
của những giao dịch với đối tác. Các nhân tố cụ thể bao gồm: cấu trúc giao dịch yếu


kém, nhân tố thuộc về đối tác như xếp hạng giảm, lợi nhuận giảm, dính vào kiện tụng
tranh chấp.
1.3. Rủi ro hoạt động

Khái niệm

BIS


Rủi ro hoạt động Đoạn

NHNN
644,

BCBS128: Rủi
ro hoạt động được
định nghĩa là rủi ro
xảy ra tổn thất do các
quy trình nội bộ, con
người và các hệ thống
khơng đầy

đủ

Khoản 27, điều 2 Thông

41/2016/TT-NHNN
ngày 30/12/2016 v/v Quy định tỷ lệ an
toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài: Rủi ro hoạt động
là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định
khơng đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố
con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống

hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất
hoặc
khơng hoạt động hiệu về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính
quả hoặc do các sự đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng

kiện bên ngoài gây ra. nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý).
Rủi ro hoạt động bao Rủi ro hoạt động không bao gồm: Rủi ro
gồm Rủi ro pháp lý danh tiếng và Rủi ro chiến lược.
nhưng không bao gồm
Rủi ro chiến lược và
Rủi ro danh tiếng.
1.4. Rủi ro thị trường
1.4.1.

Khái
niệm

Định nghĩa rủi ro thị trường
BIS

NHNN


Rủi ro Đoạn 683(i), BCBS 128: Rủi
ro thị trường là rủi ro của những
thị
tổn thất trong các trạng thái nội
trườn
và ngoại bảng phát sinh do sự
g
biến động giá trên thị trường, về

Khoản

25,


điều

41/2016/TT-NHNN

2,

Thông



ngày

30/12/2016 v/v Quy định tỷ lệ an toàn
vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài: Rủi ro thị trường là

các loại rủi ro:
rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ
+ Rủi ro liên quan tới lãi suất
giá, giá chứng khoán và giá hàng hoá
của các cơng cụ tài chính và cổ
trên thị trường. Rủi ro thị trường bao
phiếu trong Sổ kinh doanh.
+ Rủi ro ngoại hối và rủi ro giá gồm:
+ Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động
hàng hóa trong phạm vi toàn
bất lợi của lãi suất trên thị trường
hàng.”
đối với giá trị của giấy tờ có giá, cơng

cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái
sinh lãi suất trên sổ kinh doanh của ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Rủi ro ngoại hối là rủi ro do biến động
bất lợi của tỷ giá trên thị trường khi ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi
có trạng thái ngoại tệ;
+ Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến
động bất lợi của giá cổ phiếu, chứng
khoán phái sinh trên thị trường đối với
giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán
phái sinh trên sổ kinh doanh của ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nướcngồi;
+ Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến
động bất lợi của giá hàng hoá trên thị
trường đối với giá trị của sản phẩm phái
sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong
giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng
hóa của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài.
Như vậy, phạm vi của rủi ro thị trường theo Basel là: (i) Rủi ro lãi suất sổ kinh


doanh; (ii) Rủi ro giá cổ phiếu sổ kinh doanh; (iii) Rủi ro giá hàng hóa tồn hàng; (iv)
Rủi ro ngoại hối toàn hàng.

Rủi ro thị trường

Rủi ro giá cổ phiếu sổ kinh doanh:
Rủi ro lãi suất sổ kinh

Rủi ro ngoại hối toànRủi
hàng:
ro giá hàng hóa toàn hàn
Cổ doanh:
phiếu;
Giao dịch giao ngay; - Hợp đồng phái sinh hàng hóa
Trái phiếu;
Cổ phiếu ưu đãi;
Hợp đồng hoán đổi lãi
suất;
Trái
phiếu chứng quyền; Hợp đồng kỳ hạn ngoại hối;
Quyền chọn và
Các công cụ thị trường
tiền
tệ...chuyển đổi...
Trái
phiếu
hoàn đổi ngoại tệ...

1.4.2. Sổ kinh doanh
Từ định nghĩa và phạm vi của rủi ro thị trường, xuất hiện hai khái niệm cần
làm rõ là: Sổ kinh doanh là gì và các cơng cụ tài chính nào được theo dõi bằng sổ
kinh doanh. Theo hướng dẫn của Ủy ban Basel tại BCBS128, đoạn 685, Sổ kinh
doanh được định nghĩa:
“Sổ kinh doanh bao gồm các trạng thái của công cụ tài chính và hàng hóa
được nắm giữ với mục đích kinh doanh, hoặc là để phòng ngừa các yếu tố khác
trong sổ kinh doanh. Những trạng thái được nắm giữ với ý định kinh doanh là
những trạng thái nhằm mục đích bán đi trong ngắn hạn và nhằm thu lợi từ
những biến động giá thực tế hoặc kỳ vọng trong ngắn hạn hoặc để chốt lợi nhuận

chênh lệch giá”
Các công cụ tài chính thuộc về sổ kinh doanh theo BCBS128, đoạn 687(ii) cần
đáp ứng các điều kiện sau:


“ - Không bị ràng buộc bới bất kỳ một điều khoản cam kết nào hạn chế khả
năng mua bán cơng cụ đó, hoặc có thể phịng ngừa rủi ro một cách tồn diện.
- Khơng có hạn chế nào về kinh doanh cơng cụ đó.
- Các trạng thái có thể được định giá theo giá thị trường hoặc định giá theo mơ hình

một cách thường xun với nguồn thơng tin ổn định về giá thị trường.
- Các trạng thái cần được quản lý một cách chủ động.”
1.4.3. Định giá
Trong điều kiện thứ 3 để một cơng cụ tài chính được nắm giữ trong sổ kinh
doanh, xuất hiện khái niệm về định giá, đây là khái niệm cơ bản và rất quan trọng khi
nghiên cứu về QLRRTT. Ngân hàng luôn phải định giá, xác định các trạng thái của tài
sản theo dõi trên Sổ kinh doanh như giá cổ phiếu, trái phiếu, các hợp đồng phái sinh,
trạng thái ngoại tệ và vàng…vào cuối ngày làm việc để xác định được rủi ro thị trường
có thể gặp phải cho ngày làm việc kế tiếp. Hiện nay, Basel II (BCBS193, đoạn 718
(ciii), 718 (civ), 718 (cv)) cho phép các định chế tài chính dùng 02 cách để định giá
các trạng thái tại Sổ kinh doanh:
Định giá theo giá thị trường: “Định giá theo giá thị trường là việc xác định
trạng thái danh mục tối thiểu 01 ngày một lần tại mức giá đóng cửa từ các nguồn
độc lập. Ngân hàng phải định giá theo giá thị trường thường xuyên nhất có thể.”
Định giá theo mơ hình: “Định giá theo mơ hình chỉ được dùng khi việc định
giá theo thị trường là không thể thực hiện được và mơ hình chứng minh được là phù
hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng cần kiểm sốt chặt chẽ dữ liệu về đầu vào, bảo đảm dữ
liệu đầu vào được lấy từ nguồn đáng tin cậy và được đánh giá thường xun. Ngồi
ra, mơ hình cần được xây dựng và phê duyệt độc lập với bộ phận kinh doanh và
được kiểm nghiệm độc lập.”

1.5. Rủi ro lãi suất sổ ngân hàng

1.5.1. Định nghĩa rủi ro lãi suất sổ ngân hàng
Khái
niệm

BIS

NHNN


Rủi ro
Đoạn 8, d368: Rủi ro lãi suất
lãi suất
sổ ngân hàng là rủi ro đối với
sổ ngân
vốn và các khoản lợi nhuận
hàng
của ngân hàng hiện tại hoặc

Khoản 26, điều 2, Thông tư số
41/2016/TT-NHNN của NHNN ban
hành ngày 30/12/2016 v/v Quy định
tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng,

trong tương lai phát sinh do sự chi nhánh ngân hàng nước ngoài:
thay đổi bất lợi về lãi suất ảnh Rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng là
hưởng lên trạng thái trên Sổ rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất
ngân hàng.


đối với thu nhập, giá trị tài sản, giá trị
nợ phải trả và giá trị cam kết ngoại
bảng của ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài phát sinh do: (a)
Chênh lệch thời điểm ấn định mức
lãi suất mới hoặc kỳ xác định lại lãi
suất;
(b) Thay đổi mối quan hệ giữa các
mức lãi suất của các cơng cụ tài
chính khác nhau nhưng có cùng thời
điểm đáo hạn; (c) Thay đổi mối quan
hệ giữa các mức lãi suất ở các kỳ
hạn khác nhau; (d) Tác động từ các
sản phẩm quyền chọn lãi suất, các
sản phẩm có yếu tố quyền chọn lãi

suất.
1.5.2. Các nội dung cơ bản về Rủi ro lãi suất sổ ngân hàng
- Ủy ban Basel nhận định RRLSSNH là rủi ro tiềm ẩn trọng yếu, tuy nhiên phản hồi từ
các ngân hàng và các kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều ý kiến khơng đồng nhất về
quy trình giám sát và quản lý RRLSSNH. Do đó, rủi ro này không được xếp vào một
trong ba rủi ro trọng yếu tại Trụ cột 1 của Basel II, mà được xử lý theo các hướng dẫn
về Quy trình đánh giá giám sát trong Trụ cột 2 (BCBS 128 – đoạn 762).
- RRLSSNH được phân thành 03 loại rủi ro chính (BCBS 368 – đoạn 9):
(i) Rủi ro chênh lệch kỳ hạn (Gap risk): Là rủi ro phát sinh từ sự thay đổi cấu trúc kỳ hạn
của lãi suất. Mức độ rủi ro phụ thuộc vào sự thay đổi cấu trúc kỳ hạn của lãi suất thay
đổi như thế nào khi đường cong lãi suất thay đổi (song song theo hình mình hoạ từ


12 hoặc khơng song song theo hình minh hoạ từ 13).

3

Lãi suất

2
1

Kỳ hạn
(ii)Rủi ro cơ sở (Basis risk): Phát sinh từ sự thay đổi về mối quan hệ giữa mức lãi suất của

các thị trường tài chính khác nhau hoặc của các công cụ khác nhau. Rủi ro này miêu tả
tác động của sự thay đổi lãi suất tương đối đến các cơng cụ tài chính có cùng kỳ hạn
nhưng được định giá khác nhau do sử dụng các chỉ số lãi suất khác nhau.
(iii) Rủi ro quyền chọn (Option risk): Phát sinh từ các quyền chọn ẩn đính kèm trong các
tài sản, công nợ và trạng thái ngoại bảng của Ngân hàng. Theo đó, ngân hàng hoặc
khách hàng có thể thay đổi mức độ và thời gian của dòng tiền, ví dụ như khi khách
hàng lựa chọn rút tiền gửi có kỳ hạn trước kỳ đáo hạn của khoản tiền gửi, lựa chọn
thanh toán khoản vay trước hạn,...
- Theo Ủy ban Basel, RRLSSNH phát sinh khi lãi suất thị trường thay đổi, gây ra hai
tác động chính lên điều kiện tài chính của ngân hàng:
(i) Tác động ngắn hạn: Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng do
thay đổi về các khoản thu nhập và chi phí nhạy cảm về lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến
thu nhập ròng từ lãi (NII) của ngân hàng.
(ii)Tác động dài hạn: Lãi suất thay đổi làm thay đổi giá trị hiện tại và theo thời gian của
dòng tiền trong tương lai, dẫn tới sự thay đổi giá trị hợp lý của tài sản, nợ và các
khoản mục ngoại bảng, từ đó ảnh hưởng đến giá trị kinh tế vốn (EVE) của ngân
hàng.
- Hai khái niệm NII và EVE là những khái niệm quen thuộc và phổ biến trong ngân
hàng. NII (Net interest income – thu nhập ròng từ lãi) là chênh lệch giữa thu nhập từ
lãi và chi phí trả lãi. EVE (Economic Value of Equity – giá trị kinh tế vốn của ngân

hàng) là giá trị thị trường vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Từ việc phân tích tác động
của lãi suất lên NII và EVE, Ủy ban Basel khuyến nghị các ngân hàng quản lý
RRLSSNH thông qua các phương pháp và hệ thống công cụ đo lường RRLSSNH
xây dựng xoay quanh việc đo lường sự biến động của 02 chỉ số này. Các phương


pháp phổ biến bao gồm:
(i) Phương pháp dựa trên biến động giá trị kinh tế (Change in economic value):1
+ PV01 (Khe hở tài sản nhạy cảm lãi suất): Phương pháp này dựa trên việc
đo lường khe hở tài sản nhạy cảm lãi suất (là chênh lệch về khối lượng giữa Tài sản
Có nhạy cảm lãi suất và Tài sản Nợ nhạy cảm lãi suất theo từng dải kỳ hạn). Giá trị
khe hở dương thể hiện ngân hàng đang ở trạng thái nhạy cảm tài sản, giá trị khe hở
âm thể hiện ngân hàng đang ở trạng thái nhạy cảm nợ.
+ ∆ EVE (Biến động giá trị kinh tế vốn): Phương pháp giá trị kinh tế đo
lường ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với giá trị kinh tế vốn chủ sở hữu (EVE)
thông qua khe hở thời lượng.
+ EVaR (Giá trị chịu rủi ro lãi suất): Phương pháp VaR sử dụng các kịch bản
đường cong lãi suất khác nhau để xác định giá trị thị trường của danh mục sổ ngân
hàng. Khi áp dụng phương pháp này, khoảng thời gian sử dụng phải phù hợp với mơ
hình kinh tế của danh mục sổ ngân hàng và thường là 1 năm.
(ii) Phương pháp dựa trên biến động thu nhập (Earnings-based measures)2:

đo

1

Phương pháp này cịn có tên gọi khác là Phương pháp tiếp cận thu nhập (Earnings

perspective) (Tài liệu BCBS 108 – đoạn 12)
2

Phương pháp này cịn có tên gọi khác là Phương pháp tiếp cận giá trị kinh tế
(Economic value perspective) (Tài liệu BCBS 108 – đoạn 12)


lường tác động của lãi suất lên thu nhập tích lũy và thu nhập theo báo cáo.
+ ∆NII (Biến động thu nhập ròng từ lãi): Phương pháp này sử dụng
kịch bản cú sốc đường cong lãi suất dịch chuyển song song để đo lường rủi
ro lãi suất thông qua việc phản ánh độ nhạy của thu nhập ròng từ lãi (NII)
trước biến động của lãi suất.
- Bên cạnh các công cụ nêu trên, ngân hàng cũng đang thực hiện quản lý

RRLSSNH thông qua các công cụ đo lường khác như: EaR, Duration gap,
Stress test.
(i) Thu nhập chịu rủi ro lãi suất (EaR): Thu nhập chịu rủi ro (EaR) là đại
lượng dự báo mức giảm thu nhập ròng từ lãi lớn nhất của ngân hàng do các
biến động lãi suất trong điều kiện thị trường thông thường với một độ tin
cậy cho trước trong một khoảng thời gian nhất định. Hệ số EaR đo lường rủi
ro lãi suất đối với thu nhập ròng từ lãi dựa trên biến động lãi suất hàng năm
quan sát được thông qua dữ liệu lịch sử.
(ii)
Khe hở thời lượng (Duration Gap): Đo lường chênh lệch về
thời lượng bình qn của tổng tài sản Có và tài sản Nợ.
(iii)
Thử nghiệm khủng hoảng (Stress test): Phương pháp này đánh
giá tác động của các kịch bản khủng hoảng lên thu nhập ròng từ lãi (NII)
trong thời gian 1 năm và giá trị kinh tế vốn chủ sở hữu (EVE) của ngân
hàng trong dài hạn.
- Công cụ cơ bản để đo lường RRLSSNH là hệ thống đo lường nội bộ của
ngân hàng đó. Kết quả của hệ thống đo lường nội bộ phải được thể hiện
dưới dạng giá trị kinh tế tương đối của vốn bằng cách sử dụng giả định

chuẩn về một cú sốc lãi suất và phải được cung cấp cho cơ quan giám sát để
kiểm soát rủi ro. Căn cứ theo kết quả đo lường, nếu nhận thấy ngân hàng
không nắm giữ đủ vốn tương ứng với mức rủi ro lãi suất của ngân hàng đó,
cơ quan giám sát cần phải yêu cầu các ngân hàng: (i) giảm thiểu rủi ro; hoặc
(ii) bổ sung vốn; hoặc (iii) kết hợp cả hai biện pháp trên. Các cơ quan giám
sát cần đặc biệt lưu ý đến các ngân hàng có mức suy giảm giá trị kinh tế vốn
(tính theo cú sốc lãi suất tiêu chuẩn) so với tổng giá trị của vốn Cấp 1 và


Cấp 2 vượt quá 20%.
Mặc dù không được xếp vào một trong ba loại rủi ro trọng yếu thuộc
trụ cột 1, RRLSSNH vẫn được Ủy ban Basel khuyến nghị là một trong
những vấn đề quan trọng cần xử lý trong quá trình kiểm tra của các cơ quan
giám sát, và các ngân hàng cũng có thể lựa chọn đưa loại rủi ro này vào phần
tính vốn yêu cầu tối thiểu, tùy theo định hướng hoạt động của ngân hàng hoặc
quốc gia đó.
1.6. Rủi ro thanh khoản

Khái niệm
BIS
NHNN
Rủi ro
thanh Đoạn 2.6-D101a:
Chưa có quy
Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một thực
khoản
định
thể/ bên tham gia giao dịch khơng có đủ
nguồn vốn để thanh tốn các nghĩa vụ tài
chính với đối tác khi đến hạn, mặc dù họ

có khả năng thanh tốn các khoản này
trong tương lai.
- Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khá đặc thù trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Thanh khoản là nhân tố quyết định khả năng hoạt động liên tục
của bất kỳ tổ chức ngân hàng nào. Do đó, rủi ro thanh khoản là một trong
những loại rủi ro nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính
sách ngân hàng.
- Mặc dù vậy, rủi ro thanh khoản không được coi là rủi ro trọng yếu trong
Basel II, do đó nó ít được đề cập đến tại tài liệu Khung Hiệp ước Basel II
(BCBS 128). Trong phạm vi Basel II, Ủy ban chỉ khuyến nghị rằng RRTK
là một trong những loại rủi ro cần được xem xét cẩn trọng. Mỗi ngân hàng
phải có hệ thống phù hợp để đo lường, giám sát và kiểm soát RRTK. Các
nguyên tắc quản lý và giám sát RRTK tồn diện có thể tham khảo tại tài liệu
BCBS 144 (Principles for Sound Liquidity Risk Management and
Supervision - Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản tồn diện).
- Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 đã cho thấy sự yếu kém


trong quản lý và giám sát RRTK là nguyên nhân dẫn tới sự mất thanh khoản
trầm trọng của các ngân hàng tại Mỹ, từ đó gây ra sự đổ vỡ dây chuyền của
nhiều tổ chức tài chính trên thế giới. Vì vậy, RRTK đã được Ủy ban Basel
bổ sung các quy định về quản lý và giám sát cụ thể, chi tiết hơn trong Basel
III. Tháng 12/2010, Ủy ban Basel cho ra đời quy định khung về quản lý
RRTK tại tài liệu BCBS 188 (Basel III: International framework for
liquidity risk measurement, standards and monitoring - Khung quốc tế đo
lường, tiêu chuẩn và giám sát rủi ro thanh khoản). Tài liệu này sau đó đã
được thay thế bằng hai tài liệu mới nhất: BCBS 238 (Basel III: The
Liquidity Coverage Ratio and liquidity risk monitoring tools - Tỷ lệ bù đắp
thanh khoản và các cơng cụ kiểm sốt rủi ro thanh khoản) và D295 (Basel
III: The net stable funding ratio - Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng).

Các nội dung cơ bản về rủi ro thanh khoản theo Basel:
Hiệp ước Basel phân loại rủi ro thanh khoản thành hai loại (BCBS 144 – đoạn
1):
(i) Rủi ro thanh khoản nguồn vốn (funding liquidity risk): là rủi ro mà ngân

hàng có thể khơng đáp ứng được một cách hiệu quả những nhu cầu về các
dòng tiền vào, dòng tiền ra và tài sản đảm bảo theo dự kiến và ngoài dự kiến
của ngân hàng trong hiện tại và tương lai, mà không ảnh hưởng đến các hoạt
động kinh doanh thường ngày cũng như điều kiện tài chính của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản nguồn vốn có thể được chia thành 4 loại: (i) RRTK
trong ngày; (ii) RRTK ngắn hạn; (iii) RRTK cấu trúc; (iv) RRTK tiềm ẩn.
(ii) Rủi ro thanh khoản thị trường (market liquidity risk): là rủi ro mà ngân
hàng không thể dễ dàng bù đắp hoặc loại trừ trạng thái tại mức giá thị
trường do thị trường không đủ độ sâu hoặc thị trường rối loạn.
Ủy ban Basel đưa ra những nguyên tắc cụ thể nhằm tăng cường
khung pháp lý quản trị RRTK thông qua 02 tiêu chuẩn tối thiểu các ngân
hàng cần đạt được để kiểm soát rủi ro thanh khoản:
(i) Tỷ lệ LCR (Liquidity Coverage Ratio - tỷ lệ bù đắp thanh khoản): là tỷ lệ


giữa “Mức dự trữ tài sản thanh khoản chất lượng cao” và “Tổng dòng tiền
mặt ra ròng trong 30 ngày tiếp theo”. Tỷ lệ này được đặt ra nhằm mục đích
nâng cao khả năng phục hồi của ngân hàng đối với RRTK trong ngắn hạn,
bằng cách yêu cầu ngân hàng nắm giữ đủ lượng tài sản có tính thanh khoản
cao (có thể được bán dễ dàng trên thị trường và chuyển thành tiền mặt, mà ít
hoặc khơng làm giảm giá trị của tài sản) để đáp ứng nhu cầu về thanh khoản
trong vịng 30 ngày với tình huống giả định ngân hàng mất thanh khoản
trầm trọng.
(ii) Tỷ lệ NSFR (Net Stable Funding Ratio - tỷ lệ nguồn vốn ổn định rịng):
Tỷ lệ này nhằm mục đích thúc đẩy khả năng phục hồi của ngân hàng đối với

RRTK trong một thời gian dài hơn, bằng cách khuyến khích các ngân hàng
nắm giữ nguồn vốn tài trợ ổn định và hoạt động liên tục trong thời gian 1
năm. Tỷ lệ NSFR được xác định bằng cách lấy “Nguồn vốn ổn định hiện
có” chia cho “Nguồn vốn ổn định theo yêu cầu”. Bằng cách thúc đẩy sự
thay đổi về cấu trúc trong hồ sơ RRTK của ngân hàng, việc tuân thủ yêu cầu
về tỷ lệ NSFR sẽ giúp ngân hàng tránh khỏi thiếu hụt thanh khoản trong kỳ
hạn ngắn, hướng tới những nguồn vốn ổn định và dài hạn hơn để tài trợ cho
tài sản và hoạt động kinh doanh.
Ủy ban Basel xây dựng hai tiêu chuẩn LCR và NSFR nhằm mục tiêu
đạt được 2 mục đích riêng biệt nhưng có tính chất bổ sung lẫn nhau. Khi
được áp dụng, các tiêu chuẩn này sẽ giúp hệ thống ngân hàng vận hành một
cách mạnh mẽ và có khả năng phục hồi nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, để
đảm bảo tương đồng với điều kiện tài chính, quy mơ tín dụng và tăng trưởng
kinh tế của các quốc gia thành viên, các tỷ lệ được yêu cầu đáp ứng theo lộ
trình. Tỷ lệ NSFR được yêu cầu đạt mức 100% vào 01/01/2018. Trong khi
đó, các ngân hàng sẽ có lộ trình 4 năm để nâng tỷ lệ LCR lên 100%. Theo
đó, tỷ lệ LCR được áp dụng từ 01/01/2015 với yêu cầu tối thiểu ở mức 60%.
Mức yêu cầu tối thiểu sẽ được tăng đều hàng năm và đạt 100% vào
01/01/2019, theo tuyên bố của Hiệp ước Basel III.


2. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và tầm quan trọng của CAR
2.1. Định nghĩa tỷ lệ an toàn vốn

Khái
niệm
CAR

BIS


NHNN

BCBS
128
Thông tư 36/2014/TT-NHNN do Ngân
(Hiệp ước Basel
hàng Nhà nước ban hành ngày
II) - điểm 40 - dịch tiếng
24/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ
Việt: Tỷ lệ vốn được tính
bảo đảm an toàn trong hoạt động của
bằng cách sử dụng định
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nghĩa vốn tự có và các tài
nước ngoài:
sản có rủi ro trọng số. Tỷ
"Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức
lệ vốn tổng thể phải khơng
đủ vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh
thấp hơn 8%. Vốn cấp 2
ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị
được giới hạn bằng 100%
vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt
vốn cấp 1.
động của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngồi. Tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngồi phải
thường xun duy trì tỷ lệ an tồn vốn tối
thiểu theo quy định tại khoản 2, khoản 3
Điều này.”

Cơng thức tính tỷ lệ an toàn vốn
Tỷ lệ an toàn vốn được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa Vốn tự có và

Tổng tài sản có rủi ro. Để tiến gần hơn tới nội dung Hiệp ước vốn Basel II,
tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016 v/v Quy định
tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi,
NHNN đã quy định cơng thức tính tỷ lệ an toàn vốn như sau:

CAR =

C
RWA + 12,5 (KOR + KMR)

x 100%


Trong đó:
CAR
Tỷ lệ an tồn vốn;
C
Vốn tự có;
RWA
Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng;
KOR
Vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động;
KMR
Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường.
Theo Thông tư số 41, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi phải
thường xun duy trì tỷ lệ an tồn vốn xác định trên cơ sở báo cáo tài chính
của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tối thiểu là 8%. Đây cũng là

mức yêu cầu tối thiểu được đặt ra cho các ngân hàng quốc tế tuân thủ theo
Hiệp ước vốn Basel II.
2.2. Tầm quan trọng để duy trì tỷ lệ an toàn vốn

Việc duy trì tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu hướng tới nhiều mục đích khác
nhau, tùy theo định hướng của tổ chức tài chính hoặc cơ quan quản lý nhà
nước tại quốc gia đó, tuy nhiên việc duy trì ln hướng tới một mục đích
chung là: An tồn.
Đối với cơ quan quản lý
- Tỷ lệ an tồn vốn là cơng cụ kiểm sốt rủi ro của hệ thống các ngân hàng,

giúp NHNN nắm bắt, kiểm tra, giám sát năng lực tài chính của các ngân
hàng thành viên. Hệ số CAR đặt ra yêu cầu đối với các ngân hàng phải có
một mức vốn tự có đủ bù đắp các rủi ro trong q trình kinh doanh (rủi ro
tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro lãi suất sổ ngân hàng,…), phòng ngừa
trước các kịch bản xấu có thể xảy ra cho hệ thống. Nếu cơ quan Nhà nước
quản lý không chặt chẽ hoặc yếu kém trong việc kiểm soát các quy định về
tỷ lệ an tồn vốn, các ngân hàng sẽ có xu hướng chấp nhận đầu tư vào các
tài sản có rủi ro cao và tận dụng tối đa các cơng cụ địn bẩy tài chính nhằm
tối đa hóa lợi nhuận, do đó gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn cho hệ thống ngân
hàng.
- Bên cạnh đó, Hiệp ước Basel đã và đang được áp dụng tại rất nhiều quốc gia
trên thế giới, trong đó tiên phong trong việc áp dụng là các quốc gia có nền


tài chính mạnh như Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Sỹ, …Tại Châu Á, các nước đã áp
dụng Basel II và dần tiếp cận với Basel III, IV lấy chuẩn mực về tỷ lệ an
tồn vốn làm thước đo tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng. Đứng
trước các thách thức về hội nhập quốc tế khi Việt Nam hướng tới gia nhập
các tổ chức và Hiệp định quốc tế như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC),

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc quản lý và giám sát
hệ số an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế là bước đi cần thiết để chứng tỏ
sự hội nhập về tài chính, đồng thời thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến
với Việt Nam.
Đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Bên cạnh việc bắt buộc phải tuân thủ theo quy định chung của
NHNN, khi duy trì hệ số CAR lớn hơn mức tối thiểu sẽ đem lại nhiều lợi
ích cho các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như:
- Nâng cao năng lực quản lý rủi ro, quản lý vốn của các ngân hàng.
- Nâng cao năng lực quản trị ngân hàng: vừa đảm bảo mục tiêu tín dụng, vừa

đảm bảo an tồn vốn.
- Giúp ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi có sự chuẩn bị để chống
đỡ lại các cú sốc tài chính có thể xảy ra, bảo vệ chính ngân hàng khỏi các sự
cố không mong muốn như khủng hoảng ngân hàng, rủi ro hệ thống, khủng
hoảng tài chính quốc tế, bong bóng đầu cơ,….Các ngân hàng, chi nhánh
ngân hàng nước ngồi có thể tự đảm
bảo an tồn cho chính mình bằng việc kiểm soát tốt các loại rủi ro hoặc bổ
sung vốn để phịng ngừa rủi ro có thể xảy ra, tránh vấp phải các kịch bản đã
xảy ra trước đây đối với các NH trên thế giới như bong bóng dot-com năm
2000-2001, bong bóng nhà đất Mỹ (2007-2008),…
- Tăng cường uy tín, niềm tin của khách hàng gửi tiền, tín dụng, của đối tác

đối với ngân hàng.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng để thu hút đầu tư trong nước
và quốc tế.


Đối với người gửi tiền
- Việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn cũng giúp bảo vệ người gửi tiền trước các rủi


ro xảy đến với các ngân hàng, xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và
khách quan.



×