02/03/2019
Nội dung
Mục tiêu
PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC
(Adverse Drug Reaction)
Các khái niệm, phân loại
ThS DS Hoàng Kim Long
Quy trình báo cáo ADR
Kết luận
1
I/ MỤC TIÊU
2
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1. Nắm được các khái niệm Cảnh giác Dược , phân loại
ADR
2. Quy định báo cáo ADR
3. Tổng Kết Báo Cáo 2018 và Các biện pháp Xử trí ADR
1. Khái niệm:
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR)
Là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều
thuốc thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hay
chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý.
Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu,
quá liều, lạm dụng thuốc, khơng tn thủ và sai sót trong trị liệu
có thể dự đốn được / khơng thể dự đốn được
Tần suất: Thường xuyên -> không thường xuyên
Hậu quả: nghiêm trọng -> không nghiêm trọng.
Việc phát hiện nhanh ADR phụ thuộc vào: Thời gian xử trí
và cơng tác tổ chức hệ thống Cảnh giác Dược.
3
1
02/03/2019
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1. Khái niệm:
Biến cố bất lợi (Adverse Drug Event - ADE)
ADE là bất kỳ một biến cố nào xảy ra trong quá trình sử dụng
thuốc nhưng không nhất thiết do phác đồ điều trị bằng thuốc
gây ra, đồng nghĩa có thể khơng có mối liên hệ nhân quả giữa
thuốc và biến cố. Như vậy biến cố bất lợi bao gồm những ảnh
hưởng do thuốc gây ra (ADR) và do cách dùng thuốc (giảm liều,
quá liều, ngừng điều trị ... )
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1. Khái niệm:
Tác dụng phụ : Là tác dụng không định trước của một chế
phẩm thuốc xảy ra ở liều thường dùng ở người và liên quan đến
đặc tính dược lý của thuốc.
Minh họa: Tác dụng kháng cholinergic của các thuốc chống trầm
cảm ba vịng có thể gây ra các tác dụng phụ như khô miệng, táo
bón, bí tiểu tiện. Tuy nhiên, tác dụng phụ khơng hồn tồn có
hại mà trong một số trường hợp có thể có lợi và trở thành tác
dụng điều trị chính.
=> Giả sử một bệnh nhân bị trầm cảm và hội chứng ruột kích
thích gây tiêu chảy. Lúc này, việc sử dụng thuốc chống trầm
cảm ba vịng sẽ có lợi ích với tác dụng kháng cholinergic của
thuốc ngoài tác dụng chống trầm cảm.
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1. Khái niệm:
Sai sót Thuốc (Medication errors – ME):
- là tất cả các sai sót
- khơng phân biệt bệnh nhân đã dùng hay
chưa, có gây tổn hại gì hay khơng
- xảy ra trong q trình liên quan đến thuốc.
2
02/03/2019
2. Phân loại ADR:
2.1. Phân loại theo tác dụng dược lý
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
Năm 1977: PL Rawlins và Thompson
90-95%
10
2.2. Phân loại theo mức độ nặng
Mức độ
Nhẹ
Mô tả
Không cần xử trí hoặc dùng
thuốc giải độc; khơng kéo dài
thời gian nằm viện
Kháng histamin
Gây buồn ngủ
Opioid
Táo bón
Cần thay đổi điều trị hiện thời Thuốc tránh thai
(điều chỉnh liều, thêm thuốc),
Trung
nhưng không cần ngừng thuốc;
bình
có thể kéo dài thời gian nằm
NSAID
viện, hoặc điều trị đặc hiệu
ADR có thể đe dọa tính mạng
và cần ngừng thuốc, kèm điều
trị đặc hiệu.
ADR trực tiếp hoặc gián tiếp
Tử vong
làm bệnh nhân tử vong
Nặng
2.3. Phân loại theo thời gian khởi phát
Ví dụ
Thun
mạch
tắc
tĩnh
• Cấp
• Bán cấp
• Muộn
: 0-60 phút (chiếm 4,3%).
: 1- 24 giờ (86,5%).
: 1 ngày – nhiều tuần (3,5%).
Tăng huyết áp và
phù
Thuốc ức chế men
Phù mạch
chuyển
Paracetamol
Hoại tử gan
Thuốc chống đông Xuất huyết
3
02/03/2019
2.4. Phân loại theo tần suất gặp phải
DTQG 2015:
Rất thường gặp
Thường gặp
Ít gặp
Hiếm gặp
ADR ≥ 1/10
1/10 > ADR ≥ 1/100
1/100 > ADR ≥ 1/1.000
1/1.000 >ADR ≥ 1/10.000
Rất hiếm gặp
ADR< 1/10.000
Morphin Sulfat
Diclofenac
Một NC tổng hợp dựa
trên 22 nghiên cứu
khác (2015) châu Âu
Trung bình 10.1%
bệnh nhân gặp phải
ADR trong quá trình
nắm viện
ADR: Các thuốc thường gặp
Các thuốc rút khỏi thị trường
• Thuốc kháng sinh, thuốc chống đông máu, digoxin, thuốc
lợi tiểu, thuốc hạ đường huyết, thuốc chống ung thư và
các thuốc chống viêm khơng steroid (NSAID) có trách
nhiệm cho 60% của ADRs dẫn đến nhập viện và 70% của
ADRs xảy ra trong bệnh viện
-> Top 10 thuốc tại châu Âu được báo cáo ADR:
1. Acetylsalicycic acid
6. Enalapril
2. Warfarin
7. Rovecoxib
3. Levofloxacin
8.Digoxin
4. Furosemide
9. Clopidogrel
5. Acenocoumarol
10. Ciprofloxacin
NMCT và TBMMN
Tiêu cơ vân
4
02/03/2019
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Tại Mỹ (2001):
Sai sót thuốc có ảnh hưởng đến
người bệnh chiếm 0.25% trong
tổng số bệnh nhân nhập
viện/năm.
Mỗi bệnh viện trung bình cứ
19.23 ngày (tương đương 401
ca nhập viện) thì có 1 sai sót
thuốc đến người bệnh xảy ra.
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
ME có thể xảy ra trong tất cả các khâu
Kê đơn (51%)
• Sai thuốc
• Sai liều dùng
• Sai thời diểm
dùng
• Sai đường
dùng
• Sai BN
Pha chế và cấp
phát thuốc
Thực hiện thuốc
(38%)
• Sai BN
• Sai thuốc
• Sai hàm lượng
• Sai đường
dùng
• Sai hạn dùng
• Sai BN
• Sai thuốc
• Sai liều lượng
• Sai đường
dùng
• Khơng đúng giờ
- 48%
Bond, C. A., Cynthia L. Raehl, and Todd Franke.
"Medication errors in United States hospitals."
Pharmacotherapy: The Journal of Human Pharmacology
and Drug Therapy 21.9 (2001): 1023-1036.
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Yếu tố nguy cơ liên quan ME
•
•
•
•
•
Cơng việc q tải, áp lực thời gian
Bị phân tâm và gián đoạn suy nghĩ
Thiếu quy trình thao tác chuẩn
Cơ sở vật chất khơng tốt
Đồng nghiệp khơng tn thủ quy
trình
• Hệ thống phần mềm chưa hỗ trợ
cho người dùng
MƠI
TRƯỜNG
• Tên thuốc LASA
• Bao bì, dán nhãn
NVYT
ME
Chua SS, et al. (2009), “An observational study of drug administration errors in a Malaysian hospital (study of drug
administration errors)”, Journal of Clinical Pharmacy and Therapeutics, 34(2): 215-223
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Phân loại ME theo mức độ nghiêm trọng
Khơng nắm rõ quy trình, quy định
Thiếu kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
Giao tiếp không tốt giữa NVYT với
nhau, NVYT với BN
Ảnh hưởng
nghiêm trọng
Ảnh hưởng trung bình
tạm thời hoặc dài hạn
Ảnh hưởng nhẹ tạm thời
BN
THUỐC
-2%
Tỉ lệ ME có thể ngăn chặn được
• Tình trạng lâm sàng
phức tạp (Đa bệnh
lý, sử dụng nhiều
thuốc, thuốc nguy
cơ cao)
Không gây hại
Suýt xảy ra
4
3
2
1
0
Medication Errors: Technical Series on Safer Primary Care, WHO, 2016
5
02/03/2019
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
III/ Quy trình báo cáo ADR
Số ME chúng ta ghi
nhận được
Số ME
KHƠNG được ghi nhận
CHỦ ĐỘNG BÁO CÁO ME:
NGUY CƠ HAY LỢI ÍCH?
III/ Quy trình báo cáo ADR
Tại sao phải báo cáo ADR?
Tại sao phải báo cáo ADR?
Tầm quan trọng của việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc và các vấn
đề liên quan đến sử dụng thuốc:
Thử nghiệm lâm sàng với một thuốc trước khi đưa ra thị trường chỉ được tiến
hành trên một số lượng bệnh nhân rất ít so với lượng bệnh nhân sẽ sử dụng
thuốc đó trong thực tế. Mặt khác các thử nghiệm lâm sàng thường không
đánh giá trên các đối tượng bệnh nhân đặc biệt như người già, trẻ em, phụ
nữ có thai, bệnh nhân suy gan, suy thận…Điều đó cho thấy những thơng tin
về độ an toàn của một thuốc thu được từ các thử nghiệm lâm sàng là rất hạn
chế, đặc biệt là thông tin về các phản ứng nghiêm trọng nhưng tần suất xảy
ra thấp. Do vậy, thông tin do các cán bộ y tế cung cấp về các phản ứng có
hại của thuốc sẽ vơ cùng hữu ích để tiếp tục đánh giá một cách toàn diện
hơn về các nguy cơ tiềm ẩn của thuốc khi lưu hành trên thị trường.
Phát
hiện
Báo
cáo
Đánh
giá
Cập nhật
dữ liệu an
toàn của
thuốc
Chiến lược
giảm thiểu
nguy cơ
6
02/03/2019
1. Cách phát hiện phản ứng có hại của thuốc
Một biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình điều trị có thể xuất phát từ tiến
triển bệnh lý của bệnh nhân hoặc do thuốc gây ra và việc phân định rõ do
nguyên nhân nào nhiều khi rất khó khăn. Nếu bệnh nhân đã dùng thuốc thì
bất kỳ biến cố nào xảy ra cũng nên được xem xét đến khả năng có phải là
do thuốc gây ra hay khơng. Các cán bộ y tế có thể xem xét những nội dung
sau khi nghi ngờ một biến cố là phản ứng có hại của thuốc:
Mơ tả lại phản ứng một cách rõ ràng
Tìm hiểu tiền sử bệnh nhân để loại trừ tất cả những ngun nhân có thể giải
thích cho biến cố đó như các bệnh mắc kèm, thức ăn và các thuốc dùng
đồng thời có khả năng gây ra tương tác thuốc
Ngừng thuốc và sử dụng lại thuốc
Tình trạng bệnh nhân được cải thiện khi ngừng thuốc là một dấu hiệu có
tính gợi cao cho việc quy kết tác ADR có phải do thuốc hay khơng.
Xem lại tác dụng dược lý của thuốc
và kiểm tra xem liệu phản ứng xảy ra đã được liệt kê ở các tài liệu tra cứu
về thuốc hay chưa (tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, bản tóm tắt đặc tính sản
phẩm trong hồ s
2. Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2. Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.1. Đảm bảo việc QL mẫu báo cáo phản ứng có hại của
thuốc kèm theo bản hướng dẫn báo cáo
- Trung tâm DI & ADR Quốc gia và Hội đồng thuốc và điều
trị của các bệnh viện trong việc phân phối mẫu báo cáo
này tới các khoa phòng của các cơ sở điều trị
- Khi cần, cán bộ y tế có thể liên hệ với cơ sở y tế hoặc truy
cập chỉ
2.2. Ai là người nên báo cáo về ADR?
Tất cả các cán bộ y tế, bao gồm:
Bác sĩ, Nha sĩ
Dược sĩ
Y tá, điều dưỡng, nữ hộ sinh
Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác
2. Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.4. Thời gian báo cáo:
2.3. Những Sản phẩm báo cáo:
Nên báo cáo tất cả các biến cố nghi ngờ là phản ứng có
hại gây ra bởi:Thuốc ; Vắc xin ; Thuốc cổ truyền và thuốc có
nguồn gốc dược liệu; Thực phẩm chức năng
Đặc biệt nên chú trọng báo cáo các phản ứng có hại
Thuốc mới
Nghiêm trọng
Chưa từng được biết đến với thuốc đó
Ngồi ra, khuyến khích các cán bộ y tế báo cáo các vấn đề
về chất lượng thuốc và những sai sót trong sử dụng thuốc.
Nên báo cáo sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản ứng và ngay cả khi
thông tin thu được chưa đầy đủ. Báo cáo trong khi bệnh nhân vẫn còn
nằm viện sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để khai thác đủ thông tin và tiến
hành các xét nghiệm cận lâm sàng nếu cần thiết
Trường hợp yêu cầu báo cáo khẩn (có nên yêu cầu báo cáo khẩn đối với
bệnh viện, hiện tại mới chỉ có yêu cầu báo cáo khẩn đối với các cơng ty
dược như sau:
Phạm vi:
Các phản ứng có hại nghiêm trọng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam
Các phản ứng có hại khơng định trước xảy ra trên lãnh thổ Việt
Nam
Thời hạn báo cáo khẩn: Đơn vị phải báo cáo trong vòng 15 ngày
làm việc kể từ khi đơn vị nhận được thơng tin về phản ứng có hại.)
7
02/03/2019
2. Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
FORM BÁO CÁO ADR
2.5. Form mẫu báo cáo:
Cán bộ y tế nên hồn thành mẫu báo cáo với tối đa
thơng tin có được
Mỗi bệnh nhân cần được báo cáo bằng một bản
báo cáo riêng
Hạn chế sử dụng các từ viết tắt
Điền tối đa thơng tin có được trên mẫu báo cáo ADR
(phụ lục….) theo những nội dung cơ bản sau
Nơi báo cáo
Ghi tên cơ sở điều trị hay nơi phát hiện phản ứng
2. Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
3. Thẩm định báo cáo ADR
3.1. Thang Naranjo
2.6. Gửi báo cáo ADR :
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo
dõi phản ứng có hại của thuốc
Trường Đại học Dược Hà Nội:
13-15 Lê Thánh Tơng, Quận Hồn Kiếm, Hà Nội
Website:
Email:
8
02/03/2019
3. Thẩm định báo cáo ADR
3.2. Thang WHO
3. Thẩm định báo cáo ADR
3.2. Thang WHO
KHUYẾN CÁO
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
Quy trình báo cáo ADR
- Báo cho trong vịng 3 ngày sau khi xử lý với ADR ưu tiên
và 15 NGÀY với ADR khác
- ADR ưu tiên:
+ Các phản ứng nghiêm trọng
+ ADR thuốc mới đưa vào sử dụng tại bệnh viện
+ ADR chưa được biết tới trong các tài liệu
+ ADR xảy ra liên tục với một thuốc trong thời gian
ngắn tại khoa phòng
- Gửi báo cáo file hardcopy / file mềm về đầu mối => Gửi
TT Cảnh giác Dược quốc gia
9
02/03/2019
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
10
02/03/2019
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
Tổng Kết ADR 2018:
IV. KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV. KẾT LUẬN
Trong năm 2018, phản ứng có hại điển hình (typ A, tác dụng phụ)
ghi nhận như:
+ Nhiễm toan lactic và bất sản tuỷ xương liên quan đến linezolid;
+ Độc tính trên huyết học liên quan đến vancomycin;
+ Chảy máu liên quan đến thuốc chống đông (enoxaparin,
rivaroxaban, acenocoumarol, warfarin);
+ Độc tính trên thận liên quan đến thuốc amphotericin B;
+ Suy thận liên quan đến thuốc NSAID (piroxicam, meloxicam,
etoricoxib);
+ Suy thận liên quan đến sử dụng vancomycin phối hợp với
piperacilin/tazobactam;
+ Suy giáp liên quan đến amiodaron;
+ Ngộ độc thuốc gây tê;
+ Tổn thương cơ, tiêu cơ vân liên quan đến thuốc hạ lipid máu
nhóm statin (rosuvastatin, atorvastatin);
+ Rối loạn tâm thần liên quan đến kháng sinh quinolon
(moxifloxacin, levofloxacin).
IV. KẾT LUẬN
QUESTION ???
NẾU CÁC ADR NÀY
KHÔNG ĐƯỢC BÁO CÁO
VÀ CHIA SẼ PHÂN TÍCH
THÌ ĐIỀU GÌ SẼ XẢY RA?
11
02/03/2019
IV. KẾT LUẬN
Công tác báo cáo ADR cần tiếp tục được thúc đẩy hơn nữa,
đặc biệt tại đơn vị, địa phương chưa tham gia báo cáo ADR.
Các ADR thường nhận diện: rối loạn toàn thân và biểu hiện
trên da,
Thuốc liên quan ADR phổ biến: Thuốc kháng sinh, thuốc chống
lao, thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID)
Cần chú ý theo dõi, phát hiện và báo cáo các biến cố bất lợi
của các nhóm thuốc khác (đặc biệt các nhóm thuốc có nguy
cơ cao gây ADR, thuốc có phạm vi điều trị hẹp),
ADR trên các hệ cơ quan khác, các biến cố bất lợi cần giám
sát thơng qua các thăm dị chức năng chun sâu hay xét
nghiệm cận lâm sàng.
Thẻ cảnh báo CHO người bệnh
Thẻ cảnh báo ADR
cấp phát thẻ kèm tư
vấn an toàn thuốc
cho người bệnh:
cách phòng tránh
ADR trong tương lai
12