Tải bản đầy đủ (.docx) (137 trang)

Luận văn lập luận và biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (807.33 KB, 137 trang )

1

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

LẬP LUẬN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ
TRONG DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Hoa Thành
viên tham gia: TS. Nguyễn Nghị Thanh

HÀ NỘI, 2013


2

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
BPTT
Biện pháp tu từ
:
DVC
Diễn văn chính trị
T:
LL:
Lập luận


MỞ ĐẦU


I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
DVCT là loại văn bản nghị luận quan trọng, thể hiện quan điểm về vấn
đề chính trị của Đảng phái, tổ chức hoặc cá nhân đại diện cho Đảng phái, tổ
chức. DVCT có tác động rất lớn đến công chúng của một quốc gia và thậm chí
cả khu vực và thế giới. Sau nhiều năm nghiên cứu về DVCT nói chung và vai
trị của DVCT trong đời sống xã hội nói riêng, David W. Johnson và Roger T.
Johnson [27] cho rằng: DVCT thăm dò nhận thưc của dân chúng về những vấn
đề diễn văn đặt ra; giúp đỡ người dân trong việc giải quyết những vấn đề chính
trị họ quan tâm; khuyến khích sự tham gia của người dân trong diễn tiến chính
trị và định hướng thái độ của thế hệ trẻ đối với các vấn đề chính trị để họ trở
thành những cơng dân tích cực. Tamara Eidelman [32] khi phân tích DVCT của
Khrushchyov đã thừa nhận DVCT có thể gây ấn tượng mạnh mẽ đến hàng triệu
con người, có thể làm thay đổi bầu khơng khí chính trị của Chiến tranh lạnh
bằng khơng khí của sự hịa bình, là sự giải tỏa và hịa hỗn.
LL đóng vai trị quan trọng trong văn bản nghị luận nói chung và diễn
văn nói riêng. Trong diễn văn, khơng thể khơng có LL. Nói cách khác, diễn văn
có bản chất LL. Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Nói tới LL là thường là nói tới suy
luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn
ngơn nghị luận” [5, tr.165]. Nếu LL tạo nên tính thuyết phục về mặt lí trí của
diễn văn thì BPTT tạo nên những dấu ấn mạnh mẽ về cảm xúc của loại văn bản
này. Bởi vì, như cách nói của William Saffire trong lời giới thiệu cuốn Những
bài diễn văn nổi tiếng thế giới: “Đừng nên sốc trước tính chủ quan: hùng biện
là một nghệ thuật, khơng phải là khoa học, một nhà tu từ nổi tiếng có thể chọn
nắm bắt, tấn cơng, truyền cảm hứng, kích thích hay làm cho thích thú” [22, tr.9]
Chính bởi sức ảnh hưởng lớn của DVCT đối với quần chúng nên DVCT
đã được các nghiên cứu quan tâm thậm chí trên thế giới xuất hiện hội của
những người phân tích diễn văn. Nhưng những cơng trình, tài liệu phân tích
diễn văn chủ yếu nhìn nhận ở góc độ nội dung (quan điểm về vấn đề chính trị)
hoặc nghệ thuật hùng biện; một số bài phân tích về giá trị nội dung và nghệ



thuật của một bài diễn văn cụ thể. Chưa có cơng trình nào nghiên cứu ở Việt
Nam về kiểu loại DVCT với cách tiếp cận từ bình diện ngữ dụng học mà cụ thể
là từ lí thuyết LL. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn làm rõ đặc
điểm của LL và BPTT trong DVCT, muốn lí giải sức hấp dẫn của các DVCT
nổi tiếng của Việt Nam và trên thế giới.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chưa có cơng trình nghiên cứu khái quát về diễn văn nói
chung và LL, BPTT trong diễn văn nói riêng. Có một số bài viết nghiên cứu về
LL trong bài diễn văn nổi tiếng của Việt Nam. Lập luận trong Tuyên ngôn độc
lập, nghiên cứu về giá trị nội dung và hình thức của Tun ngơn độc lập.
Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến - tiếng gọi của non sông [15] đã nêu bật giá
trị lịch sử của diễn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất
nước, là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ lịng tự hào, tự tơn dân tộc,
truyền thống u nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt
Nam; là hiệu lệnh làm sục sơi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa
anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn,
với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên
định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”.
Trong Cơ sở lập luận trong Tuyên ngôn độc lập, Trần Văn Sáng [17] chỉ
ra các phương pháp LL được sử dụng trong Tun ngơn độc lập: “Đọc tồn văn
bản “Tun ngơn Độc lập”, chúng ta nhận thấy phương pháp LL được Bác sử
dụng trước hết, và quan trọng nhất, là LL bằng phương thức so sánh, so sánh
tương đồng và so sánh tương phản những luận cứ, luận điểm trực tiếp liên quan
đến vấn đề muốn nói.” Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định tính thuyết phục
của văn bản này bởi nó hội tụ đủ 4 yếu tố là: cơ hội (thời cơ), lí lẽ, biện pháp
biểu cảm và thái độ của người nghe:

a) Cơ hội (thời cơ nói): Khi Bác Hồ đọc bản “Tun ngơn Độc lập” thì ở


miền Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt quân Đồng
Minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đơng Dương, cịn ở
phía Bắc thì bọn Tàu Tưởng, tay sai của đế quốc Mĩ, đã trực sẵn ở biên
giới. Đây là thời điểm lịch sử quan trọng để Bác Hồ viết cho đồng bào cả
nước và nhân dân thế giới nhằm khẳng định nền Độc lập của nước nhà.
b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập dân tộc của nước nhà,
và lên án tội ác của quân xâm lược, bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng
đến rất nhiều luận cứ, luận chứng (các lí lẽ) hết sức thuyết phục:
- Nội dung Bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ”... là bất hủ.
- Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1789. “Đó là những lẽ phải khơng ai chối cãi được”.
- “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
- “Chúng thi hành những luật pháp dã man,...”.
- “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học,...”.
- “... trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật...”.
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật chứ không phải từ tay
Pháp” v.v..
c) Tính biểu cảm của ngơn ngữ: Bác Hồ viết “Tun ngơn Độc lập” với
giọng văn chính luận hào hùng, LL sắc sảo, chặt chẽ, ngắn gọn, chắc
chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc. Điều này được thể hiện rõ
trong văn bản qua: giọng điệu vừa khéo léo vừa kiên quyết, lựa chọn từ
ngữ chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng hiệu quả. Khi nói về mình thì:
“Chúng tơi trịnh trọng tun bố với thế giới rằng”, “Dân ta đã đánh đổ
các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước
Việt Nam độc lập”, “Một dân tộc đã gan góc chống ách nơ lệ của Pháp
hơn tám mươi năm nay...”.
Khi nói về địch thì: 13 lần sử dụng từ chúng với những hành động được

miêu tả khác nhau (chúng thi hành... dã man, chúng thẳng tay chém giết, chúng
tắm các cuộc khởi nghĩa, chúng ràng buộc, chúng cướp, chúng bóc lột, chúng
nhẫn tâm,...); cịn khi trình bày những bằng chứng hiển nhiên, ngoài nội dung


miêu tả là những kết tử, tác tử LL được sử dụng hết sức chặt chẽ: “thế mà”,
“thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho nên”, “vì những lẽ trên”, “suy rộng ra”; đặc
biệt, Người đã sử dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là...”, “sự thật
là...” như một điệp khúc của bản cáo trạng, lời văn khẳng định đầy rắn rỏi và
đanh thép.
d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” cho ai nghe?
Rõ ràng, Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập” cho toàn thể đồng bào cả nước
và nhân dân thế giới. Điều này ai cũng biết. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ,
Người viết không chỉ cho đồng bào và thế giới chung chung, vì như thế
khơng cần nhiều đến những lời lẽ LL chặt chẽ, đanh thép đến vậy.”.
Từ những cơng trình nghiên cứu trong nước về DVCT nói trên, có thể
khẳng định: Các nhà nghiên cứu ngơn ngữ, nghiên cứu văn học đã sử dụng lí
thuyết ngơn ngữ học hiện đại mà cụ thể là lí thuyết LL để phân tích một DVCT
cụ thể. Chính việc phân tích DVCT theo hướng này đã đem lại sự tiếp cận mới
mẻ, tạo ra những khám phá thú vị.
2. Tình hình nghiên cứu nước ngồi
Có nhiều cơng trình nghiên cứu về DVCT trên thế giới. Các cơng trình
nghiên cứu tập trung làm rõ ba hình thức là diễn văn chính trị trước cơng
chúng, diễn văn chính trị trước các chính khách và diễn văn chính trị trước các
tổ chức tơn giáo:
Về diễn văn chính trị trước cơng chúng: Cuốn “The Quick and Easy Way
to Effective Speaking”, tạm dịch là “Những cách thức nhanh chóng và dễ dàng
để thuyết trình lơi cuốn” của tác giả Dale Carnegie. Khi luận bàn về cuốn này,
GS. Michan Samdel khẳng định: “This is the classic book on public speaking.
Everyone should read it- Đây là cuốn sách về thuyết trình viết theo lối cổ điểnmọi người nên đọc nó” [26; tr.3]. Trong 14 chương sách, tác giả đã khái quát,

phân tích các bài diễn văn chính trị của các chính trị gia trên thế giới của Anh,
Mỹ, Nga trong vịng 40 năm. Trong q trình phân tích, tác giả đã đưa ra yếu tố
căn bản nhất trong diễn văn chính trị chính là “cách ngơn mang tính thuyết
phục”, hay những thành ngữ. Ơng nói sử dụng thành ngữ có chủ đích là yếu tố


căn bản tạo nên tính thành cơng của diễn văn [26; tr.45].
Cũng trong thời gian này, tác giả Janet E. Esposito cho xuất bản cuốn
“In The SpotLight, Overcome Your Fear of Public Speaking and Performing”,
tạm dịch là “Trước ống kính, bạn vượt qua sợ hãi khi thuyết trình và diễn
thuyết trước công chúng”. Tác giả Michael Osborn cho xuất bản cuốn “ Public
Speaking” tài bản lần thứ 8. Cả hai tác giả này đều đưa ra một nguyên tắc khi
trình bày diễn văn chính trị là “Speaking: An AudienceCentered Approach Thuyết trình: khán giả là trung tâm”. Cách giải thích này có nghĩa là một bài
diễn văn chính trị đều có một kiểu hành ngơn để hướng tới một chủ đích nhất
định, trong khi người nghe lại hướng đến những chủ đích khác nhau, do đó rất
khó có diễn văn hoàn hảo. Tác giả đã đề xuất cách viết diễn văn chính trị nên
sử dụng những từ trừu tượng kết hợp với ngôn ngữ cử chỉ (body language) để
lại cuốn hút cho người nghe [29].
Về diễn văn chính trị thuyết trình trước các chính khách, năm 2005 tại
Hoa Kỳ, tác giả Timothy J. Koegel xuất bản tác phẩm “The Exceptional
Presenter: A Proven Formula to Open Up and Own the Room”, tạm dịch là
“Người thuyết trình đặc biệt: Một cơng thức đã chứng minh để thu hút khán
phòng”. Tiêu chuẩn của cuốn sách được viết trên quan điểm "practial and very
helpful”- thực hành và rất hữu ích. Cuốn sách này được xếp vào “THE NEW
YORK TIMES AND WALL STREET JOURNAL BESTSELLER”- Bán chạy nhất
của báo The Newyork Times và Tạp chí Wall Street. Tác giả Timothy J. Koegel
đã đưa ra một cơng thức cụ thể khi trình bày ngơn ngữ trong diễn văn chính trị
trước các chính khách đó là “emotional language - ngơn ngữ biểu cảm” để làm
hài lịng các chính khách từ các chính đảng khác nhau [34].
Cũng thời gian này, tác giả Dr. Terry W. Dorsett cho xuất bản tác phẩm “

Developing Leadership Teams in the Bivocational Church”, tạm dịch là “Phát
triển đội ngũ lãnh đạo trong Giáo Hội Bivocational”. Tác phẩm này đề cập đến
diễn văn chính trị dùng để diễn thuyết cho các tổ chức tôn giáo. Tác giả cho
rằng, thuyết trình diễn văn chính trị trong các tổ chức tơn giáo là khó nhất, bởi
vì các tổ chức giáo hội thường coi Chúa là tất cả. Trong diễn văn chính trị loại


này, tác giả khun sử dụng những “cách ngơn chính trị tôn giáo” [33].
Điểm nổi bật nhất là trong thời gian gần đây các nhà phân tích diễn văn
tập trung phân tích cụ thể các bài diễn văn của các chính trị gia (như diễn văn
nhậm chức của các Tổng thống Mĩ, thơng điệp liên bang...) chủ yếu từ góc độ
nội dung để đánh giá quan điểm chính trị của Đảng phái hoặc của cá nhân đại
diện cho dân tộc. Một số bài phân tích diễn văn có đề cập đến phương diện
hình thức của diễn văn nhưng nghiêng về nghệ thuật hùng biện. Andrew
Dlugan [1], diễn giả, chuyên gia huấn luyện kỹ năng nói trước cơng chúng,
thành viên của Hiệp hội diễn giả Toastmaster chỉ ra 5 bài học về nghệ thuật
hùng biện từ bài diễn văn nhậm chức (nhiệm kì thứ 1) của B.Obama: (i) Bắt
đầu bài diễn thuyết với dàn ý chặt chẽ và đơn giản; (ii) Những câu chữ khéo
léo có sức ảnh hưởng lớn; (iii) Quy tắc lặp 3 lần kì diệu; (iv) Những dẫn chứng
tương phản; (v) Chủ đề xuyên suốt bài phát biểu.
Các nhà bình luận cũng quan tâm đặc biệt đến giá trị nội dung, giá trị
của các thông điệp từ diễn văn của các chính trị gia. Phân tích diễn văn Tơi có
một giấc mơ của M.L.King, (trong Rhetorical Analysis of the “I Have a
Dream” Speech) Anson L., Chai Wan [23] cho rằng: Bài phát biểu đã có một
tác động lớn vì nó đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc và kích động sự đồng
cảm của khán giả trong khi biểu đạt niềm hy vọng về cuộc sống tốt đẹp của
người Mỹ gốc Phi.
Bên cạnh những cơng trình nghiên cứu về các bài diễn văn của các chính
trị gia, cịn có những tài liệu hướng dẫn viết diễn văn, đây thực sự là cẩm nang
cho những sinh viên đại học hoặc những người đã, đang và sẽ làm nghề viết

diễn văn. Trong giáo trình hướng dẫn viết diễn văn chính trị của Đại học
Cambridge của Anh đã đưa ra một lời khuyên khi xây dựng cấu trúc diễn văn
cố gắng kể một câu chuyện, khơng được chỉ có việc liệt kê danh sách các câu
chuyện “Try to tell a story, not just make lists” [25].
Khi luận bàn về lập luận trong diễn văn chính trị, các giáo trình hướng
dẫn viết diễn văn ở các trường đại học ở Mỹ và châu Âu hiện nay tập trung
hướng sinh viên vào giải quyết các vấn đề sau đây:


Về cấu trúc diễn văn, Giáo sư của Đại học Cambridge khuyên sinh viên:
Bạn cũng phải suy nghĩ rất kỹ về cấu trúc của bài diễn văn trước khi bạn bắt
đầu viết bài luận. Thiết lập ra một kế hoạch viết bài, tuy nhiên phải ngắn gọn,
trong đó liệt kê các phần trung tâm của những câu hỏi và vấn đề mà bạn sẽ giải
quyết trong một trật tự hợp lý. Hãy thử suy nghĩ về những vấn đề lý luận và tư
tưởng đầu tiên, và thực hiện một tuyên bố rõ ràng của từng vị trí của bài. Hãy
suy nghĩ về việc áp dụng các lý thuyết, như các lĩnh vực chính sách đã được áp
dụng, và trong bối cảnh toàn cầu cũng như trong nước. Hãy tự hỏi mình những
câu hỏi như "đã có điều kiện kinh tế đặc biệt mà sẽ ảnh hưởng đến việc áp
dụng một chính sách”? Đã bao giờ có sự mâu thuẫn giữa các chính sách với lý
luận được cho là nền tảng cho nó? Đã bao giờ có việc lý luận, chính sách cùng
xuất hiện để tạo nên hiệu quả? Đã bao giờ có một sự thay đổi cơ bản trong cán
cân quyền lực giữa các nhóm? Đã bao giờ có việc chính sách hay lý thuyết ảnh
hưởng khác nhau đối với các nhóm khác nhau? Đã bao giờ có việc chính sách
hay lý thuyết có nội dung kinh tế thực sự, hoặc tốt nhất có thể được hiểu đơn
giản là một cử chỉ tượng trưng? Hãy nhớ rằng bạn phải có nhận thức của riêng
bạn và các nguồn của bạn phân tích - tất cả các tác giả (bao gồm cả bạn) nói từ
một quan điểm tư tưởng riêng. (“You must also think very hard about the
structure of an essay and where your argument is going before you start
writing the essay. Set out an essay plan, however brief, which lists the central
parts of the questions and the issues that you are going to address in a logical

order. Try to think about the theoretical and ideological issues first, and make
a clear statement of each position. Think about the application of such
theories, the policy areas to which they were applied, and the global/domestic
context. Ask yourself questions such as ‘were there any special economic
conditions that would affect the application of a policy'? Did the policies
pursued ever conflict with the theory supposedly underlying it? Did the theory
or policy appear to work? Was there a fundamental shift in the balance of
power between groups? Did the policy or theory have differential impact on
different groups? Did the policy or theory have real economic content, or can


it best be understood simply as a symbolic gesture? Remember that you must
be aware of your own and your sources' frameworks of analysis - every author
(including you) speaks from a particular ideological view point,)” [25].
Về cấu trúc của diễn văn, các học giả khuyên rằng: Viết ngắn, giới thiệu
ngắn gọn rõ ràng bao quát tài liệu tham khảo cho các khu vực chính của bạn sẽ
thảo luận. Đoạn thứ hai nên luận bàn về điểm cốt lõi của bài diễn văn (nếu có)
hoặc bối cảnh tồn cầu mà bạn sẽ trình bày. Khi viết, cố gắng làm cho thảo
luận của bạn về một vấn đề xuất hiện ở một đoạn, và không lan rộng khắp các
đoạn khác. Cố gắng không lặp lại một điều đã bàn, chỉ cần luận bàn một lần, có
thể được lặp đi lặp lại nếu có liên quan trong kết luận hay tổng hợp của bạn.
Đoạn mới khơng dùng để giới thiệu hồn tồn chủ đề mà khơng có cảnh báo.
Cố gắng liên kết các đoạn văn của bạn một cách hợp lý để đoạn sau liền mạch
với đoạn trước và đoạn trước dẫn đến đoạn sau. Nếu bạn không chắc chắn về
việc làm thế nào để đi đến luận bàn một điểm, hãy quay trở lại với kế hoạch bài
luận của bạn và xem nó có thể được xen vào lập luận tổng thể mà khơng làm
gián đoạn dịng chảy của bài diễn văn. Khi bạn đã đọc một cái gì đó mà bạn
nghĩ là có liên quan, khơng chỉ đưa nó vào bài luận của bạn - làm cho nó trở
thành một phần trong lập luận của bạn, nếu khơng bài tiểu luận có thể trở thành
một mớ lộn xộn hoặc chú giải của tác giả khác nhau mà khơng có một hướng

cơ bản rõ ràng. Cố gắng kể một câu chuyện, không chỉ tạo ra một danh sách
các sự kiện (!). Suy nghĩ kỹ về cách mà sự việc phát triển hoặc thay đổi theo
thời gian - thảo luận về một chuỗi các sự kiện đã xảy ra cùng chủ đề. Ví dụ:
tránh việc đơn giản rằng và sau đó điều này đã xảy ra ... và sau đó điều này xảy
ra. .). Hãy tranh luận về những gì bạn đã đọc và tạo ra sự phân tích của riêng
bạn. Nhớ là phải viết một kết luận tổng hợp lập luận của bạn. Đừng ngại về đưa
ra ý kiến của riêng bạn, vì điều này sẽ luôn luôn làm cho bài luận của bạn thú
vị hơn. Nhưng khơng được kết luận những gì ở cuối bài diễn văn mà không
được hỗ trợ trong về luận cứ và lập luận trong cấu trúc toàn bài diễn văn.
(“Write a brief, clear introduction that includes reference to the main areas
you will discuss. The second paragraph should talk about (if relevant) the


background or the global context to the issue you will be addressing. When you
write the essay, try to make your discussion of an issue appear in one place,
and not spread throughout the essay. Try not to keep coming back to the same
point, just make it once; it may be repeated if relevant in your conclusion or
summing up. New paragraphs are not for introducing completely new topics
without warning. Try to link your paragraphs in a logical manner so that each
follows on naturally from the preceding one. If you're not sure how to bring in
a point, go back to your essay plan and see where it could slot in to the overall
argument without interrupting the flow of the essay. When you've read
something that you think is relevant, don't just slot it into your essay - make it
part of your argument; otherwise essays can become a jumble of quotes or
paraphrases of different authors without a clear underlying direction. Try to
tell a story, not just make lists (Ị). Think hard about how things develop or
change over a period - discussing a chain of events in terms of the working out
of internal contradictions, for example, is a great way to avoid simply saying
‘and then this happened...a nd then this happened!..). Be critical about what
you 've read and make your own analysis. Remember to write a conclusion

summing up your arguments. Don't be afraid to include your own opinions, as
this will always make your essay more interesting. But don't include opinions
at the end that are unsupported in the body of the essay)”[25].
Hãy chắc chắn rằng bạn không sao chép phần rất lớn từ các nguồn mà
bạn đọc. Có nhiều lý do cho việc này. Đầu tiên , bạn không thực sự bị buộc
phải suy nghĩ về một cuộc tranh luận nếu bạn khơng đặt nó vào cách dùng từ
ngữ của bạn. Thứ hai, sự giám sát của bạn thường sẽ khơng có ý tưởng “chính
kiến” cho dù bạn có thực sự hiểu điều đó hay khơng . Nếu người khác “thinhas
giả” phát hiện sự sao chép của bạn, họ sẽ không được ấn tượng , nếu không , họ
sẽ nghĩ rằng bạn đang ở trên đầu của người khác khi bạn trống rỗng, của một
sự lãng phí thời gian. Thứ ba, bài viết của bạn khi người ta đọc tồn bộ sẽ thấy
khơng phù hợp. Trường hợp nguyên mẫu sinh viên sao chép ra phần lớn từ các
sách ủng hộ chính sách hồn tồn khác nhau về một chủ đề, khơng biết rằng có


rất nhiều bài luận kết thúc hoàn toàn trái ngược so với các bài khác . Thứ tư,
sao chép dẫn đến việc bạn không thực sự phát triển phong cách hoặc bằng văn
bản của riêng bạn. Điều này khơng có vẻ quan trọng, nhưng nếu bạn khơng làm
điều đó bây giờ bạn có thể sẽ khơng bao giờ làm được (“Make sure that you do
not copy out huge chunks from the sources you read. There are many reasons
for this. First, you're not really forced to think about an argument if you don't
have to put it into your own words. Secondly, your supervisor will typically
have no idea whether you have really understood something or not. If they do
spot your copying, they won't be impressed, if they don't, they'll think you are
on top of the subject when you aren't, which just means the supervision is a bit
of a waste of time. Thirdly, your essays will not read well overall and probably
be very inconsistent. The archetypal case is the student who copies out great
sections from books advocating quite different policies, blissfully unaware that
much of the essay ends up being completely at odds with other parts. Fourthly,
you don't really get to develop your own style or writing. This may not seem

crucial, but if you don't do it now you probably never will”)[25].
Tóm lại, DVCT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về giá trị nội
dung, ý nghĩa của các thơng điệp chính trị từ các DVCT. Một số nhà phân tích
đề cập đến phương diện lập luận và những BPTT được sử dụng trong DVCT.
Nhưng chưa có cơng trình nào tiếp cận lập luận trong DVCT từ góc độ ngữ
dụng học. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các tác giả đi
trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về LL và BPTT trong DVCT.
III.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là LL và BPTT trong DVCT.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát LL và BPTT
trong 10 bài DVCT của Việt Nam và của thế giới (Những bài diễn văn của thế
giới được tuyển chọn trong cuốn Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới của tác
giả William Safire [22]). Đó là các diễn văn sau (sắp xếp theo trình tự thời
gian):
1. Diễn văn kêu gọi thành lập nền chun chính vơ sản - K.Marx (1856)


2. Diễn văn Gettyburg - A.Lincon (1863)
3. Diễn văn bênh vực nền chun chính vơ sản - V.I.Lenin (1919)
4. Tun ngơn độc lập - Hồ Chí Minh (1945)
5. Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến - Hồ Chí Minh (1946)
6. Tuyên ngôn độc lập - J.Nehru (1949)
7. Diễn văn nhậm chức - F.Kenerdy (1961)
8. Diễn văn Tơi có một giấc mơ - M.L.King (1963)
9. Diễn văn nhậm chức - B.Obama (2013)
10.Dẫn đề đối thoại Shangri-la - Nguyễn Tấn Dũng (2013)
IV.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là xác định được đặc trưng của diễn văn chính trị về
phương diện lập luận và biện pháp tu từ để từ đó vận dụng vào thực tiễn để
soạn thảo các diễn văn chính trị.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, trong đề tài Lập luận và biện
pháp tu từ trong diễn văn chính trị, chúng tơi thực hiện những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
2.1. Nghiên cứu LL trong DVCT từ cách tiếp cận ngữ dụng học, cụ thể
là phân tích, miêu tả các thành tố trong cấu trúc lập luận, các phương
pháp lập luận và các tác tử, kết tử lập luận.
2.2. Nghiên cứu BPTT trong DVCT từ cách tiếp cận phong cách học, cụ
thể là phân tích, miêu tả các BPTT ngữ âm, ngữ nghĩa, từ vựng, cú
pháp và văn bản trong DVCT.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng những
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
1. Phương pháp phân tích diễn ngơn
Phương pháp phân tích diễn ngơn được sử dụng trong đề tài nhằm đặt
DVCT vào trong hoàn cảnh cụ thể mà văn bản được sản sinh để lí giải, phân


tích các đặc điểm về nội dung và ngơn ngữ của diễn văn.
2. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học
Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học với các thủ pháp: thống kê ngôn ngữ
học, so sánh ngôn ngữ học (so sánh đồng dại)... được sử dụng trong đề tài
nhằm miêu tả các BPTT và các phương pháp LL, các dấu hiệu chỉ dẫn LL trong
diễn văn.
VI.


ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

1. Về lí luận: Đề tài góp phần cụ thể hóa lí thuyết LL trong ngữ dụng học
về lập luận, cụ thể hóa lí thuyết phong cách học về biện pháp tu từ ở
phạm vi thể loại DVCT.
2. Về thực tiễn: Đề tài giúp ích cho việc giảng dạy học phần Tiếng Việt
thực hành ở các trường đại học nói chung và Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội nói riêng. Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo cho người viết
DVCT.
VII. BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận về lập luận và biện pháp tu từ trong diễn văn
nhằm cung cấp các khái niệm công cụ của đề tài: Diễn văn, DVCT, LL,
BPTT.
Chương 2. Lập luận trong diễn văn chính trị nhằm phân tích, miêu tả
những phương pháp LL (diễn dịch, quy nạp, so sánh, phản đề, nhân quả...), cấu
trúc của LL và các dấu hiệu chỉ dẫn LL trong diễn văn.
Chương 3. Biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị nhằm phân tích,
miêu tả các BPTT ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản trong
DVCT.


Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LẬP LUẬN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ
TRONG DIỄN VĂN
Trong chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề cơ bản về diễn văn và
diễn văn chính trị (khái niệm, phân loại, đặc trưng); về lập luận (khái niệm, bản
chất ngữ dụng của lập luận, kết tử và tác tử lập luận); về biện pháp tu từ (khái
niệm, phân loại biện pháp tu từ). Những vấn đề trên sẽ làm nền tảng lí thuyết
cho việc nghiên cứu lập luận và biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị.

1.1.

Khái niệm diễn văn và diễn văn chính trị

Diễn văn là loại văn bản thuộc phong cách nghị luận thể hiện quan điểm,
LL của người phát ngơn về một vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... và
được thể hiện trước đơng đảo người tiếp nhận nhằm tác động, định hướng tư
tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận.
Theo Từ điển Oxford của Anh, diễn văn chính trị được định nghĩa là một
bài phát biểu có liên quan đến các vấn đề chính phủ, đối nghịch với cơng việc
của một cá nhân hay tổ chức. Họ cung cấp cái nhìn sâu sắc các quan điểm
chính trị của người nói và cũng có thể ảnh hưởng có lợi hoặc khơng cs lơi cho
người nghe. “Political speech is a speech which relates to government matters
as opposed to the affairs of an individual or organization. They give insight
into the political views of the speaker and may either sway listeners in their
favor or not.”[25].
Tóm lại, có nhiều định nghĩa về diễn văn chính trị. Trong đề tài này,
chúng tôi cho rằng, DVCT được hiểu là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận
của người phát ngơn về một vấn đề chính trị nhằm tác động, định hướng tư
tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận.
1.2.

Phân loại diễn văn

1.2.1.

Phân loại theo nội dung
Diễn văn được phân loại theo nội dung, cụ thể là lĩnh vực của vấn đề

được trình bày trong diễn văn, thành:

- Diễn văn kinh tế: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết về


vấn đề kinh tế. Thí dụ: Diễn văn của Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn
Cẩm Tú tại Diễn đàn trao đổi kinh tế Việt Nam - Kuala Lumpur (Malayxia)
tháng 10 năm 2013.
- Diễn văn chính trị: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết
về vấn đề chính trị. Thí dụ: Diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân kỉ
niệm 45 năm ngày thành lập Asean (1967 - 2012).
- Diễn văn văn hóa, giáo dục: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của
người viết về vấn đề văn hóa, giáo dục. Thí dụ: Diễn văn của Tổng thống
Woodrow Wilson - Tổng thống thứ 27 của Hoa Kì - “Hưởng ứng lời kêu
gọi trách nhiệm mới” nhân dịp Lễ tốt nghiệp ở Học viện Hải quân Hợp
chủng quốc Hoa Kì, ở Annapolis năm 1916.
- Diễn văn xã hội: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết về
vấn đề xã hội. Thí dụ: Diễn văn Hãy cứ đói khát và dại dột của Steve
Jobs - CEO của Tập đồn máy tính Apple - về các bài học trong cuộc
sống để trở thành người thành đạt tháng 6 năm 2005.
1.2.2.

Phân loại theo hồn cảnh

Văn bản nói chung và diễn văn nói riêng được sản sinh trong hồn cảnh
giao tiếp nhất định. Đó khơng chỉ là thời gian, khơng gian cụ thể mà cịn là
những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội.. .ma trong đó diễn văn được tạo lập.
William Safire - tác giả cuốn “ Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới” gọi
hoàn cảnh mà diễn văn được sản sinh là “cơ hội”. Ông đánh giá vai trò quan
trọng của “cơ hội” đối với bài diễn văn hay: “Có những thời điểm gây ấn tượng
sâu sắc trong cuộc sống của một người hay đảng phái hay một quốc gia phải
thét lên để thúc đẩy soạn thảo một bài diễn văn. Một số người muốn diễn đạt

miền hi vọng, hãnh diện và sầu muộn. Diễn giả trở thành trung tâm của sự chú
ý, đối tượng hướng dẫn nổi bật, chỉ mình ơng ta đang trên đỉnh điểm, cả thế
giới phải dừng lại và lắng nghe”. [22, tr.8]
Dựa theo hồn cảnh sản sinh văn bản, có thể phân loại diễn văn thành:
- Diễn văn khai mạc sự kiện: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận
của người viết khi khai mạc sự kiện nào đó. Thí dụ: Diễn văn khai mạc Đại hội


tồn quốc Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ X của đồng chí
Phan Văn Mãi - Bí thư thường trực Ban Chấp hành Trung ương Đồn khóa IX.
- Diễn văn bế mạc sự kiện: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận của
người viết khi bế mạc sự kiện nào đó. Thí dụ: Diễn văn bế mạc Hội nghị Trung
ương 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ngày 11 tháng 5 năm 2013.
- Diễn văn chúc mừng năm mới (diễn văn chúc tết): Là diễn văn thể hiện
quan điểm, lập luận của người viết nhân dịp năm mới. Thí dụ: Diễn văn của
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhân dịp xuân mới Nhâm Thìn 2012.
- Diễn văn nhậm chức: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận của
người viết trong buổi lễ nhậm chức. Thí dụ: Diễn văn nhậm chức tổng thống
nhiệm kì 2 của B.Obama ngày 21 tháng 3 năm 2012.
1.3.

Đặc trưng của diễn văn và diễn văn chính trị

1.3.1.

Đặc trưng của diễn văn

1.3.1.1.

Tính thuyết phục


Diễn văn nhằm thuyết phục người nghe. Để thuyết phục người nghe, tác
giả diễn văn phải LL. Nguyễn Đức Dân [9, tr. 167-168] cho rằng: Có hai loại
LL khác nhau ứng với hai loại mục đích khác nhau: (1) LL để đi tới một đích
về giá trị chân lí. Trong các cơng trình khoa học, các nhà khoa học dùng loại
LL này. (2) LL để đi tới một đích về tính hiệu quả. Một diễn từ chính trị, một
đoạn quảng cáo.. .là những LL thuộc loại này. Chúng đặt ra mục tiêu dẫn dắt,
lôi kéo hoặc thuyết phục thêm được quần chúng hướng theo những điều mà
mình đề ra và từ bỏ những xác tín cũ của họ. Tính thuyết phục, tính hấp dẫn
của diễn văn là điều đã được bàn đến từ thời cổ đại trong cơng trình nghiên cứu
của Aristote (Bàn về phép tu từ) cho đến thời hiện đại. William Safire trong
Lời ngỏ đầu sách Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới đã khẳng định, “từ
những năm 1970, khi người ta ghi âm các bài diễn văn, chúng được xem như
một món ăn tinh thần” và “đầy sức sống”.
Nhưng không nên đồng nhất LL với thuyết phục. Theo Aristote, có 3
nhân tố để lời nói có tính thuyết phục: (i) nhân tố lí lẽ, (ii) nhân tố xúc cảm, lời
nói phải gây được thiện cảm của người tiếp nhận, (iii) nhân tố tính cách, đặc


điểm, tâm lí dân tộc, văn hóa của người tiếp nhận.
Như vậy, diễn văn thuyết phục người nghe bằng cả sức mạnh của lí lẽ
(thuyết phục lí trí) và bằng cả sức mạnh của sự truyền cảm (thuyết phục tình
cảm).
1.3.1.2.

Tính lập luận chặt chẽ

LL là bản chất của văn bản nghị luận nói chung và diễn văn nói riêng.
Hay nói ngược lại: Diễn văn có bản chất LL. Đỗ Hữu Châu: “Nói tới LL là
thường là nói tới suy luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến

lí luận, đến diễn ngơn nghị luận”. (Tác giả nhấn mạnh) [5, tr.165]. Diễn văn
có tính LL chặt chẽ bởi vì “muốn thuyết phục người đọc thì cần phải giải thích,
thuyết minh một cách có lí lẽ, có căn cứ vững chắc, nghĩa là phải dựa trên cơ
sở những luận điểm, luận cứ khoa học” [13, tr.117].
1.3.1.3.

Tính bình giá cơng khai

Diễn văn có tính bình giá cơng khai, tức biểu hiện một cách trực tiếp
quan điểm của người viết về một vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa.. .nào đó.
Điều này tạo sự khác biệt giữa diễn văn với văn bản nghệ thuật. Văn chương
thể hiện quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống nhưng thể hiện
thơng qua hình tượng nghệ thuật, tức thể hiện gián tiếp. Thí dụ, tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao thể hiện quan điểm lên án xã hội vùi dập con người, con
người trong xã hội đó được sinh ra là người nhưng không được làm người. Tư
tưởng nhân văn cao cả này thể hiện thơng qua hình tượng nhân vật Chí Phèo từ
khi sinh ra là người lương thiện, sau trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, và
cuối cùng phải chết vì day dứt “Ai cho tao lương thiện?”. Diễn văn thể hiện
trực tiếp quan điểm của người viết bằng những từ ngữ có giá trị biểu cảm âm
tính hoặc dương tính, bằng các tính thái từ.Thí dụ: “Chúng ta muốn hịa bình,
chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân
Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!” (Hồ Chí Minh - Lời
kêu gọi tồn quốc kháng chiến). Từ cướp trong đoạn văn trên có màu sắc biểu
cảm âm tính, thể hiện trực tiếp thái độ lên án của Chủ tịch Hồ Chí Minh với
hành động xâm lược của thực dân Pháp.


1.3.2.

Đặc trưng của diễn văn chính trị


Bên cạnh những đặc trưng của diễn văn nói chung, DVCT cịn có đặc
điểm riêng. Đó chính là tính chính trị.
DVCT thể hiện quan điểm của Đảng phái, tổ chức, cá nhân về vấn đề
chính trị. Tính chính trị trước hết thể hiện ở vấn đề được bình luận, phân tích
như vấn đề thành lập nền chun chính vơ sản, chủ quyền của giai cấp vô sản
trong bài diễn văn của K.Marx trong buổi tiệc chiêu đãi ở London năm 1856
nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập tờ People,s Paper; hay vấn đề nội chiến giữa
phe Liên hiệp và phe Tự do ở Mĩ trong bài diễn văn Gettysburg của Tổng
thống Abraham Lincoln nhân sự kiện Nghĩa trang của các binh sĩ phe Liên
hiệp bị tử trận được tiến hành xây cất vào ngày 19 tháng 11 năm 1863.
Tính chính trị cịn thể hiện ở quan điểm tư tưởng của người viết diễn văn
về vấn đề chính trị đó. Cùng một vấn đề chính trị nhưng quan điểm (của Đảng
phái, tổ chức hoặc của bản thân cá nhân người viết) có thể khác nhau thậm chí
đối lập nhau. Chẳng hạn, cùng vấn đề thành lập nền chun chính vơ sản nói
trên, quan điểm tư sản cho rằng, với khoa học, công nghệ hiện đại, giai cấp
cơng nhân đã được giải phóng, nên khơng cần thiết phải thực hiện cuộc đấu
tranh giải phóng giai cấp nhưng K.Marx thể hiện tư tưởng của ông trong bài
diễn văn nói trên: cuộc cách mạng của giai cấp cơng nhân là cần thiết nhằm
giải phóng giai cấp của chính mình, sự thống trị tồn cầu của ngun tắc tư bản
và tình trạng nơ lệ với đồng lương. Hay trước vấn đề nội chiến giữa phe Liên
hiệp và phe Tự do ở Mĩ, có quan điểm cho đó là cuộc chiến phi lí, nồi da nấu
thịt, anh em tương tàn và sự hi sinh của các binh sĩ là vô ích nhưng trong bài
diễn văn Gettysburg nổi tiếng của mình, Tổng thống Abraham Lincoln lại
khẳng định: những người này (các binh sĩ phe Liên hiệp hi sinh trong trận
chiến Gettysburg - chú thích của tác giả đề tài) đã khơng chết trong ô nhục,
rằng quốc gia này dưới Thượng đế sẽ có mội sự tái sinh tự do mới, và rằng
chính quyền này là của dân, do dân, và vì dân sẽ không bao giờ bị hủy diệt
trên quả đất (these dead shall not have died in vain, that this nation under God
shall have a new birth freedom, and that government of the people, by the



people, for the people shall not perish from the earth.)
Một biểu hiện nữa của tính chính trị là diễn văn chính trị là cơng cụ đấu
tranh bảo vệ lợi ích của Đảng phái, giai cấp, dân tộc.. .Các chính trị gia trong
bài phát biểu của mình bằng sự logic của lập luận, sự hấp dẫn của nghệ thuật
hùng biện đã thuyết phục, lôi cuốn và định hướng quần chúng theo tư tưởng
chính trị của giai cấp, Đảng phái.mà chính trị gia là người đại diện. Trần Văn
Cơ cho rằng: chức năng chính của giao tiếp chính trị là đấu tranh cho quyền
lực [3, tr.31], cịn ngơn bản chính trị (trong đó có diễn văn chính trị - chú thích
của tác giả đề tài) có 5 chức năng trong đó có chức năng “tạo ra hiện thực ngơn
ngữ của trường chính trị và giải thích nó (chức năng giải thích và định
hướng)”. Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến (Hồ Chí Minh, 1946) “định
hướng” hành động cho cả một dân tộc: đứng lên chống thực dân Pháp. Tuyên
ngôn độc lập Ấn Độ (J. Nehru, 1949) định hướng nhận thức và hành động cho
người dân Ấn: phải lao động và làm việc, làm việc siêng năng để biến những
giấc mơ thành hiện thực và để xây dựng biệt thự vương giả của Ấn Độ tự do.
1.4.

Lí thuyết lập luận

1.4.1.

Khái niệm lập luận

LL là hành động ngơn từ mà người viết (người nói) đưa những lí lẽ
nhằm dẫn dắt người nghe đến một hoặc một số kết luận hay chấp nhận một
hoặc một số kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới.
Dựa theo sự phân biệt về phương pháp LL và lĩnh vực LL, các nhà
nghiên cứu [9], [10], [24] thường phân biệt hai loại LL: LL theo logic hình

thức và LL theo logic phi hình thức (LL trong ngơn ngữ tự nhiên).
LL theo logic hình thức là LL đi tới cách đánh giá về giá trị chân lí đúng
sai của sự kiện. Nói cách khác là LL theo logic hình thức đi tới đích về giá trị
chân lí. Loại LL này đòi hỏi phải theo những quy luật logic. Ở đây, chân lí
được khẳng định qua các tiên đề và các quy tắc suy diễn theo các phương pháp
suy luận hình thức như suy luận quy nạp (quy nạp hồn tồn và quy nạp khơng
hồn tồn), suy luận diễn dịch (suy luận một tiền đề, suy luận hai tiền đề).
Trong logic, từ một hoặc một số phán đoán (mệnh đề) đã biết, ta suy ra phán


đốn mới. Sự suy ra đó gọi là một phép suy luận hay một LL. Có hai phương
pháp suy luận: diễn dịch và quy nạp. “Suy luận quy nạp là suy luận mà kết luận
là tri thức chung được khái quá từ những tri thức riêng lẻ, cụ thể. Đây là tiến
trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể tới cái khái quát” [9,
tr.183]. Suy luận diễn dịch là “phép suy luận mà từ một phán đoán hay một số
phán đoán, chúng ta suy ra một phán đốn khác, theo những quy tắc hình thức”
[9, tr.184].
LL theo logic phi hình thức là thao tác mà người LL đưa những lí lẽ làm
cho người tiếp nhận chấp nhận kết luận nào đó hoặc đi tới một xác tín nào đó.
Nói cách khác là LL để đi tới đích về tính hiệu quả. Sự LL ở đây theo những tri
thức, lí lẽ, phong tục, tập quán.. .của một xã hội, một dân tộc mà hầu hết các cá
nhân sống trong xã hội đó đều tuân thủ.
LL trong diễn văn là LL theo logic phi hình thức. Nguyễn Đức Dân
khẳng định: “Một diễn từ chính trị, một đoạn quảng cáo.là những LL thuộc loại
này (tức LL đi tới đích về tính hiệu quả - chú thích của tác giả đề tài). Chúng
đặt ra mục tiêu dẫn dắt, lôi kéo hoặc thuyết phục thêm được quần chúng hướng
theo những điều mà mình đề ta và từ bỏ những xác tín cũ của họ. Tiêu chuẩn
đánh giá loại LL này là hiệu quả thực tiễn của nó” [9, tr.167- 168].
Tuy nhiên, LL phi hình thức khơng hồn tồn tách biệt với LL theo logic
hình thức. Theo Nguyễn Đức Dân [10] logic phi hình thức bao gồm cả những

suy luận theo lơ gích truyền thống lẫn những suy luận phi hình thức.
LL phi hình thức vẫn sử dụng các phương pháp của LL logic hình thức như
diễn dịch, quy nạp.
Đề tài này phân tích LL trong DVCT thuộc LL phi hình thức. Nhưng từ
đây trở về sau để giản tiện, chúng tôi gọi ngắn gọn LL phi logic là LL.
1.4.2.

Cấu trúc lập luận

Từ khái niệm LL đã trình bày ở trên, có thể thấy trong LL có các thành
phần: lí lẽ (gọi là luận cứ), kết luận và cơ sở của LL. Quan hệ giữa luận cứ và
kết luận tạo thành quan hệ LL.
1.4.2.1.

Luận cứ


Luận cứ là tiền đề của LL. Theo Bùi Minh Tốn [18, tr.23]: Luận cứ có
thể là những sự việc, hiện tượng trong thực tế, có thể là những lí lẽ thông
thường hay những tiên đề, định luật khoa học...
Nguyễn Đức Dân [9, tr.244] khi bàn về các phương thức gây hiệu quả
LL cho rằng có các loại luận cứ:
+ Luận cứ là định nghĩa: định nghĩa khoa học hay định nghĩa thông
thường như: Thời gian là vàng.
+ Luận cứ là cấu trúc so sánh: Các hình thức so sánh ngang bằng, khơng
ngang bằng đều có thể dùng làm luận cứ cho LL.
Thí dụ: Tăng lương nhưng thực tế khơng tăng: Lương tăng bao nhiêu thì
giá cả tăng bấy nhiêu.
Trong LL trên, cấu trúc so sánh (Lương tăng bao nhiêu thì giá cả tăng
bấy nhiêu) được dùng làm luận cứ cho kết luận (Tăng lương nhưng thực tế

khơng tăng).
+ Trích dẫn: đây là sự thuật lại một lời nói, một sự kiện theo cách trực
tiếp hay gián tiếp.
Thí dụ: “Khơng ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khơn khéo. Không khéo là
ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó
khăn”. (Trần Đình Hượu - Đến hiện đại từ truyền thống)
Bàn về văn hóa dân tộc Việt Nam, Trần Đình Hượu đã dùng tục ngữ “Ăn
cỗ đi trước, lội nước đi sau” để nói về tính cách người Việt.
+ Sự miêu tả tường thuật lại sự kiện, nêu dữ kiện, những con số để củng
cố thêm cho lí lẽ. Vậy nội dung miêu tả cũng là một loại luận cứ.
Thí dụ: “Ta khơng háo hức cái tráng lệ, huy hồng, khơng say mê cái
huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô
chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp
tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều khơng chuộng sự cầu kì. Tất cả
đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mơ vừa
phải ”. (Trần Đình Hượu - Đến hiện đại từ truyền thống)
Để khẳng định quan điểm về cái đẹp của người Việt là sự dịu dàng,


thanh lịch, dun dáng và có quy mơ vừa phải, tác giả dùng 4 câu miêu tả
những chi tiết khác nhau.
Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng LL. Nếu các luận cứ đều
hướng đến một kết luận chung thì các luận cứ có quan hệ đồng hướng LL. Nếu
luận cứ/một số luận cứ hướng tới kết luận (r) còn luận cứ/một số luận cứ
hướng kết luận ngược với (r) thì các luận cứ có quan hệ nghịch hướng LL.
Về hiệu lực LL, các luận cứ có hiệu lực LL mạnh yếu khác nhau. Luận
cứ có hiệu lực LL mạnh sẽ quyết định hướng LL (tức kết luận). Luận cứ có
hiệu lực LL mạnh thường đặt sau luận cứ có hiệu lực LL yếu hơn.
Về sự hiện diện, trong một LL, có thể có một luận cứ nào đó hàm ẩn.
Thí dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Con khơng nên chơi với nó.

LL trên thiếu một luận cứ: “nó” khơng ngoan.
1.4.2.2.

Kết luận

Kết luận là một khẳng định, một xác tín được rút ra từ các luận cứ.
Về vị trí, kết luận có thể ở đầu, giữa hoặc cuối so với luận cứ.
Về sự hiện diện, kết luận có thể hiện diện tường minh, tức là được nói rõ
ra hoặc có thể hàm ẩn, người LL khơng nói ra, người tiếp nhận phải căn cứ vào
ngơn cảnh để suy ra.
Thí dụ: Mẫu quảng cáo mĩ phẩm: Mọi người sinh ra đều tự do và bình
đẳng. Nhưng khơng gì ngăn được bạn nổi lên với sản phẩm X.
Kết luận hàm ẩn trong quảng cáo trên chính là mục tiêu mà nhà quảng
cáo muốn hướng đến: Sản phẩm X rất đáng lựa chọn vì dùng nó sẽ làm cho bạn
hơn những người khác.
1.4.2.3.

Cơ sở lập luận

Cơ sở LL là những yếu tố mà nhờ nó chúng ta xuất phát từ luận cứ để
suy ra kết luận. Trong ngôn ngữ tự nhiên, các cơ sở LL (topos) là các chân lí có
tính chất kinh nghiệm, các quy ước cộng đồng trong đó có các quy phạm pháp
luật, quy phạm đạo đức, quy phạm văn hóa. Các chân lí có tính chất kinh
nghiệm cịn được gọi là lẽ thường có thể có tính phổ qt tồn nhân loại, hoặc
phổ qt từng khu vực trên thế giới, từng quốc gia, dân tộc, từng cộng đồng


nghề nghiệp, văn hoa... Kho tàng tục ngữ thường là nơi chứa đựng các lẽ
thường. Đỗ Hữu Châu [5, tr. 198] cho rằng: “Tục ngữ là kho tàng những lẽ
thường của mỗi dân tộc đã được cố định bằng hình thức ngôn ngữ”. Tuy nhiên,

kho tàng tục ngữ đồ sộ vẫn chưa phải là tất cả các lẽ thường cho phối cách suy
nghĩ, cách nói năng và hành động của con người. Có những lẽ thường chưa có
hình thức ngơn ngữ cố định nhưng vẫn điều khiển chúng ta, biến một nội dung
phát ngơn nào đó thành luận cứ, thành kết luận và nối kết các phát ngơn đó
thành một quan hệ LL nhất định. Thí dụ: “Nhìn theo bóng Tràng và bóng
người đàn bà đi về bến, người trong xóm lạ lắm. Họ đứng cả trong ngưỡng
cửa bàn tán. (...) Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc:
- Hay là vợ anh cu Tràng? Ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ,
trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.” (Vợ nhặt - Kim Lân)
Sự suy luận của người hàng xóm (người đàn bà đi cùng Tràng chính là
vợ Tràng) dựa theo kinh nghiệm: Cô dâu mới thường hay thẹn thùng. Trông
chị ta thèn thẹn hay đáo để chứng tỏ chị ta là vợ anh cu Tràng thật.
1.4.3.

Phân loại lập luận


a. Dựa vào số lượng luận cứ và kết luận, có thể phân chia LL thành 2
loại: LL đơn và LL phức hợp. LL đơn là LL chỉ có một kết luận, các thànhphần
còn lại là các luận cứ. LL phức hợp là LL có nhiều kết luận. LL phức hợp có
hai dạng chính:
F
Kết luận 1

Luận cứ 1, luận cứ 2...

r
Kết luận 2. —►

r


Kết luận

Dạng 1.
chung
Trong dạng này, luận cứ 1, luận cứ 2. đóng vai trị là luận cứ của kết luận
1. Kết luận 1 là luận cứ của kết luận 2. ..Cứ như vậy cho tới kết luận chung.
Thí dụ: Cuộc họp sở dĩ hỗn lại (r)vì khơng đủ thành phần (p).
Dạng 2.
Luận cứ 1, luận cứ 2

_

► Kết luận r1

Luận cứ 3, luận cứ 4 —► Kết luận
Luận cứ 5, luận cứ 6 r2

r
Kết luận chung R

—► kết
Kết luận
luận bộ phận, các kết luận bộ phận này
Trong dạng này, có nhiều
hướng tới kết luận chung. LL trong diễn văn thường là LL phức hợp. Điều này
sẽ được chúng tơi phân tích cụ thể trong chương 2.
b. Dựa vào tính chất, vị trí quan hệ giữa luận cứ và kết luận, có thể phân
chia LL thành: LL diễn dịch, LL quy nạp, LL so sánh, LL phản đề, LL nhân
quả.

Quy nạp là “quá trình suy nghĩ vận động từ sự xem xét những hiện
tượng, đối tượng riêng lẻ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau, từ
đó nhân lên thành nhận định khái quát trừu tượng về những dấu hiệu chung của
chúng.(...) Khi chứng minh, biện luận, phương pháp này có sức thuyết phục
lớn vì nó dựa trên sự kiện thực tế, trên những nhận xét cụ thể, được công nhận
dần dần rồi dẫn từng bước chắc chắn tới kết luận cuối cùng” [2, tr. 208- 209]
Cũng theo Đình Cao [2, tr. 211], diễn dịch là quá trình “vận động của tư
duy từ cái chung, cái khái quát, đến cái riêng, cái cụ thể (.) Diễn dịch là
phương pháp LL được sử dụng rộng rãi nhất. Nó có sức thuyết phục lớn nếu


×