Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón là và chế phẩm vi sinh biogro đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa tại duy tiên hà nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 119 trang )

...

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
----------------

------------------

NGUYỄN VĂN ðỨC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ VÀ
CHẾ PHẨM VI SINH BIOGRO ðẾN SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA TẠI DUY TIÊN, HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. HOÀNG MINH TẤN

HÀ NỘI – 2011


LỜI CAM ðOAN
- Tơi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
- Tơi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận
văn ñã ñược cảm ơn và các thơng tin trích dẫn trong luận văn đều ñược
chỉ rõ nguồn gốc.


Hà Nội, ngày

tháng

năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn ðức

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

i


LỜI CẢM ƠN
ðể hồn thành luận văn này, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu trường ðại
học Nơng nghiệp Hà Nội, Viện đào tạo Sau ñại học, khoa Nông Học, Bộ môn Sinh lý thực vật; cảm
ơn các Thầy, Cơ giáo đã truyền đạt cho tơi những kiến thức q báu trong suốt q trình học tập và
nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TS Hoàng Minh Tấn - người
ñã dành nhiều thời gian, tạo ñiều kiện thuận lợi, hướng dẫn về phương pháp khoa học và cách
thức thực hiện các nội dung của đề tài.
Tơi xin chân thành cảm ơn ban lãnh ñạo UBND xã Trác Văn, UBND huyện Duy Tiên
cùng các hộ nông dân tại thôn Tường Thụy 3 đã tiếp nhận, nhiệt tình giúp và cung cấp các thông
tin, số liệu cần thiết phục vụ cho q trình nghiên cứu và hồn thiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia ñình, người thân, bạn bè và các anh chị em học
viên lớp Trồng trọt – K18A ñã chia sẻ, ñộng viên, khích lệ và giúp đỡ tơi trong suốt q trình
nghiên cứu và hồn thiện luận văn này.
Trong q trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng ñể hoàn thành luận văn, ñã

tham khảo nhiều tài liệu và ñã trao ñổi, tiếp thu ý kiến của Thầy Cơ và bạn bè. Song, do điều kiện
về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân cịn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tơi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Thầy Cơ
và các bạn để luận văn được hồn thiện hơn.
Một lần nữa tơi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2011
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn ðức

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng


v

1

MỞ ðẦU

1

1.1.

Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2

Mục đích và u cầu

2

1.3

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2

1.4

Giới hạn của ñề tài


3

2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

2.1

ðặc ñiểm chung về cây lúa

4

2.3

Yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa

11

2.4

Cơ sở và vấn đề bón phân cân ñối cho cây lúa

23

2.5

Phân bón lá và ñặc ñiểm sử dụng phân bón lá cho cây lúa


26

3

VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

3.1

ðối tượng

32

3.2

Nội dung nghiên cứu:

34

3.3

Phương pháp nghiên cứu.

34

3.5

Phương pháp xử lý số liệu.


39

4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

40

4.1

Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất lúa

4.1.1

40

Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng qua các
giai ñoạn

40

4.1.2

Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cây

42

4.1.3


Ảnh hưởng của phân bón lá tới số lá/nhánh

44

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

iii


4.1.4

Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh của lúa

45

4.1.5

Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá

46

4.1.6

Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khơ

50

4.1.7

Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng chống chịu sâu, bệnh

hại

4.1.8

52

Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất

54

4.1.9

Ảnh hưởng của phân bón lá đến hiệu quả kinh tế

57

4.2

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất lúa

4.2.1

59

Ảnh hưởng của phân bón Biogoro ñến thời gian sinh trưởng qua
các giai ñoạn

59


4.2.2

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến tăng trưởng chiều cao cây

60

4.2.5

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến chỉ số diện tích lá

64

4.2.6

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến khả năng tích lũy chất khơ

66

4.2.8

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất

69

4.2.9

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến hiệu quả kinh tế


72

5

KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ

74

5.1

Kết luận

74

5.2

ðề nghị

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

76

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

iv


DANH MỤC BẢNG

STT

Tên bảng

Trang

2.1

Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần ñây

11

2.2

Nhu cầu và cân ñối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020

25

4.1

Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng qua các
giai đoạn

4.2

Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây

4.3


40
42

Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá của
lúa

44

4.4

Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái ñẻ nhánh của lúa

45

4.5

Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI )

47

4.6

Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khơ

50

4.7

Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng chống chịu sâu, bệnh
hại


4.8

53

Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất trên hai giống lúa Khang Dân 18 và Nàng
Xuân

54

4.9

Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến hiệu quả kinh tế

58

4.10

Ảnh hưởng của phân bón Biogoro đến thời gian sinh trưởng qua
các giai đoạn

4.11

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây lúa

4.12
4.13


60
61

Ảnh hưởng phân bón Biogro ñến ñộng thái tăng trưởng số lá
của lúa

62

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến tốc độ đẻ nhánh của lúa

63

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

v


4.14

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến chỉ số diện tích lá LAI

64

4.15

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến khả năng tích lũy chất khơ

66

4.16


Ảnh hưởng của phân bón Biogro ñến khả năng chống chịu sâu,
bệnh hại

4.17
4.18

69

Ảnh hưởng của phân bón qua rễ đến các yếu tố cấu thành năng
suất trên hai giống lúa Khang Dân 18 và Nàng Xuân

70

Ảnh hưởng của phân bón Biogro đến hiệu quả kinh tế

72

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

vi


1. MỞ ðẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Ở cây lúa, lượng phân đạm bón có tương quan thuận chặt với năng
suất hạt. Nhưng bón nhiều phân đạm để tăng năng suất có thể lãng phí và
gây ơ nhiễm mơi trường do lượng dư thừa mà cây không sử dụng hết. Vì
vậy, bón phân đạm cho lúa để vừa đạt được năng suất cao vừa giữ ñược cân
bằng dinh dưỡng trong đất, tránh lãng phí và bảo vệ mơi trường là rất cần

thiết (Bertrand, 2001).
Theo FAO, sản lượng lúa nước ta tăng từ 32,1 nghìn tấn (2001) lên
36,8 nghìn tấn (2008). Trong đó, 17-25% sản lượng lương thực tăng là do sử
dụng phân hoá học, chủ yếu N, P, K. Song nền nơng nghiệp ở nước ta đang
đứng trước thực trạng là đang sử dụng phân bón ở mức cao và mỗi năm
chúng ta phải nhập khẩu hơn 60% lượng phân bón từ nước ngồi. Việt Nam
là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới (Vũ Hữu Yêm,
2004) [22]. Trong khi nhiều nước phát triển ñang có xu hướng giảm sử dụng
phân bón thì các nước ñang phát triển, trong ñó có Việt Nam lại có chiều
hướng sử dụng tăng mạnh. Lượng phân bón sử dụng tăng trung bình 9% mỗi
năm trong 15 năm qua và trong thời gian tới có xu hướng tăng khoảng 10%
mỗi năm. Bên cạnh đó hệ số sử dụng phân bón ở nước ta thấp (30% – 40% ñối
với phân ñạm, 22% phân lân, 45% phân kali). Vì vậy mà các hình thức bón
phân cho lúa ngày càng đa dạng thơng qua các dạng hấp thụ dinh dưỡng của
cây như qua rễ, qua lá, qua các bộ phận khác trên cây. Sự kết hợp hợp lý giữa
các cách thức bón sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất ñối với cây trồng và mơi trường
sống. Phân bón lá là hỗn hợp của một số phân ña lượng, vi lượng và một số
chất ñiều hoà sinh trưởng (Lê Văn Tri, 2001)[19]. Dùng phân bón lá có nhiều
ưu điểm: Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây nhanh hơn bón gốc, hiệu
suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, chi phí thấp hơn, ít ảnh hưởng đến mơi
Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

1


trường và đất trồng (Nguyễn Huy Phiêu và cs, 1994)[13].
Vì vậy ñể nâng cao hiệu quả kinh tế cần cung cấp phân bón hợp lý, sử
dụng phân bón lá kết hợp bón phân hố học ở mức thấp, đảm bảo cung cấp
ñầy ñủ các chất dinh dưỡng cho cây. Do ñó việc kết hợp bón phân qua rễ và
qua lá cho cây lúa ñể tăng năng suất và chất lượng là điều cần thiết.

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tơi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chế phẩm vi sinh
Biogro đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa tại Duy Tiên – Hà
Nam”.
1.2.Mục đích và u cầu
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá và chế
phẩm vi sinh Biogro ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa ñể ñề
xuất biện pháp sử dụng có hiệu quả của các chế phẩm, phân bón này cho lúa
tại Hà Nam.
1.2.2.Yêu cầu:
- Xác ñịnh ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các chỉ tiêu
nơng sinh học của giống lúa Khang dân 18 và Nàng Xuân.
- ðánh giá ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh Biogro bón qua rễ đến các
chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Khang dân 18 và Nàng
Xuân.
1.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dấu hiệu khoa học có
giá trị về ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và chế phẩm vi sinh Biogro
ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang Dân 18 và
Nàng Xuân tại Hà Nam.
- Có thể sử dụng kết quả của đề tài như là tài liệu tham khảo cho việc
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

2


nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm này cho lúa ở các ñịa phương khác.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Bổ xung vào quy trình thâm canh của 2 giống lúa Khang Dân 18 và
Nàng Xuân tại Hà Nam.
1.4. Giới hạn của đề tài
- Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 6 năm 2010 ñến tháng 6 năm
2011 tại xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- ðề tài chỉ giới hạn trên một số loại phân bón lá thơng dụng và phân hữu cơ
vi sinh Biogro trên 2 giống lúa trồng phổ biến ở ñịa phương là Khang Dân 18 và
Nàng Xuân
Do ñề tài ñược thực hiện tại ñịa phương nên một số chỉ tiêu về sinh lý,
hóa sinh khơng có điều kiện để xác định mà chỉ giới hạn ở một số chỉ tiêu
nơng học đối với cây lúa.

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

3


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm chung về cây lúa
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại
Cây lúa là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời. Căn cứ vào các tài
liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn ðộ, Việt Nam…cây lúa đã có mặt từ 2000 –
3000 năm trước công nguyên. Theo Lu và cs, 1996 cho rằng lúa trồng ở
Châu Á xuất hiện cách ñây 8.000 năm (Nguyễn ðình Giao và cs, 2001) [19].
Từ trung tâm khởi nguyên là Ấn ðộ và Trung Quốc, cây lúa ñược
phát triển cả về hai hướng đơng và tây. Cho đến thế kỷ thứ nhất, cây lúa
ñược ñưa vào trồng ở vùng ðịa Trung Hải như Ai Cập, Italia, Tây Ban Nha.
ðến ñầu thế kỷ thứ XV cây lúa từ Bắc Italia nhập vào các nước ðông Nam
Âu như Nam Tư, Bungari, Rumani…ðầu thế chiến thứ hai, lúa mới ñược
trồng ñáng kể ở Pháp, Hungari.

Có ý kiến cho rằng lúa được hình thành ñầu tiên ở vùng Tây Bắc Ấn
ðộ, Myanma, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc, Việt Nam. Watt G, 1908 và
Vavilop NT, 1926 cho rằng cây lúa bắt nguồn từ Ấn ðộ (dẫn theo Nguyễn
ðình Giao và cs, 2001) [19].
G. Second khi nghiên cứu mối quan hệ của các loài trong chi Oryza
cho rằng lồi O. Sativa hình thành từ loài O.rufipogon Châu Á, mối quan hệ
giữa loài O. sativa và các lồi khác với các lồi lúa dại có thể được giải thích
do sự phân nhánh trong q trình tiến hố do thay đổi khí hậu ở thế giới cổ
đại kỷ thứ 3.
Từ đó mà lúa trồng hiện nay ñược phân loại thực vật có tên danh pháp
khoa học Oryza sativa L. với bộ nhiễm sắc thể 2n = 24 và ñược xếp như sau
trong thang phân loại:
- Loại cây 1 lá mầm: Monocotyledoneae.

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

4


- Họ hoà thảo: Gramineae.
- Chi: Oryza
- Loài: Oryza sativa.
- Tên khoa học: Oryza sativa L.
Bên cạnh đó nó cịn ñược phân loại theo loài phụ :
- Oryza sativa ssp Indica (Lúa tiên)
- Oryza sativa ssp Japonica (Lúa cánh)
- Oryza sativa ssp Javanica
2.1.2 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển
Lúa là một trong những cây lương thực chủ yếu và quan trọng trên thế
giới, có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% số dân trên thế giới. Ở Việt

Nam, lúa vừa ñảm bảo lương thực cho hầu hết dân số, vừa đóng góp vào việc
đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. Ngồi
việc sử dụng làm lương thực, các sản phẩm phụ của cây lúa cịn được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Lúa có thể gieo trồng trong điều kiện nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây lúa
có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt ñộ từ 100C ñến 400C, nhiệt ñộ thích
hợp nhất cho cây sinh trưởng là từ 220C đến 300C. Khi nhiệt ñộ thấp hơn
200C cây lúa chậm phát triển, thấp hơn 150C gây hại cho cây lúa (mức ñộ hại
tùy thuộc vào giai ñoạn sinh trưởng). Cường ñộ ánh sáng thuận lợi cho hoạt
ñộng quang hợp của cây lúa là 250 - 400calo/cm3/ngày. Thời gian chiếu
sáng ngắn 9 – 10 giờ/ngày có tác dụng rõ đối với việc xúc tiến q trình làm
địng và trỗ bơng của cây lúa.
Yêu cầu về nước của cây lúa cũng ñặc biệt, trong ñất ngập nước, cây
lúa ñược cung cấp nước thuận lợi nhất và cho năng suất cao, ổn ñịnh nhất.
Cây lúa có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng đất trồng lúa tốt
cần có khả năng giữ nước tốt, có thành phần cơ giới thịt trung bình, hay
nặng, có pH thích hợp nhất trong khoảng 5,5-6,0, giàu các chất dinh dưỡng.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

5


Tuỳ theo điều kiện thời tiết khí hậu ở các vùng khác nhau mà thời vụ
gieo cấy khác nhau. Ở ðồng bằng Bắc bộ có hai vụ chính: vụ Mùa và vụ Xn,
mỗi vụ đều có thể chia ra các trà cấy sớm, chính vụ và muộn. Vụ Mùa có thời
vụ cấy của 3 trà từ 25/6 - 25/8. Vụ Xuân có thời vụ cấy của 3 trà cấy từ 15/1 –
5/3.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa thay ñổi từ 90 ñến 180 ngày, tuỳ
theo giống và ñiều kiện ngoại cảnh. Ở miền Bắc, do thời tiết biến ñộng trong
năm, nên thời gian sinh trưởng của cây lúa cũng thay đổi theo thời vụ cấy.

Trong điều kiện bình thường, các giống có khả năng thâm canh tăng vụ cao
thường có thời gian sinh trưởng khoảng 100-120 ngày. ðối với các giống lúa
thường có thời kỳ sinh trưởng sinh thực khoảng 60 ngày, trong đó có thời kỳ
làm địng khoảng 30 ngày và thời kỳ chín khoảng 30 ngày. Sự khác nhau của
các giống lúa về thời gian sinh trưởng chủ yếu là ở thời kỳ sinh trưởng dinh
dưỡng. Lúa cấy thường chín muộn hơn lúa gieo thẳng khoảng 7 - 10 ngày do
phải mất thời gian bén rễ.
2.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt ñới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay
trên thế giới hiện nay có trên 100 quốc gia trồng lúa, diện tích lúa gạo tương
đối lớn, đứng thứ 2 sau lúa mỳ. Trong đó Châu Á là châu lục đứng đầu thế
giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ ñến
Nam Mỹ.. Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ
cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B; Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga
(Krasnodar) 450B ñến nam bán cầu, New South Wales (Australia): 350N.
Vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 300B ñến 100N
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng ñáng
kể, nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước ñang phát triển (Châu Á,
Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn ñề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

6


phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài.
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp
quốc (FAO) thì trong vịng 30 năm từ năm 1970 đến năm 2000 diện tích
trồng lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.377 nghìn ha. Tổng sản lượng
lương thực tăng từ 308,76 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn.

Nhìn tổng quan về diện tích và năng suất thì năm 2008 có diện tích
trồng lúa thấp nhất đạt 148.730 ha nhưng lại có năng suất cao nhất là 42,1
tạ/ha. Sở dĩ có sản lượng cao như vậy là do áp dụng ñược các tiến bộ về
khoa học kỹ thuật như: ðầu tư phân bón, sử dụng các giống lúa mới có năng
suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh về biện pháp
kỹ thuật. Năng suất bình quân trên thế giới trong mấy năm gần đây có xu
hướng tăng lên rõ rệt. Năm 2004, năng suất ñạt 39,7 tạ/ha và năm 2006 ñạt
40,3 tạ/ha và ñến năm 2008 năng suất ñạt 42,1 tạ/ha.
Về sản lượng lúa của thế giới trong những năm gần ñây tăng nhanh,
trong đó sản lượng đạt thấp nhất vào năm 2004 là 608, 49 triệu tấn. Năm
2008 có sản lượng cao nhất ñạt 626,15 triệu tấn.
Tốc ñộ tăng năng suất và sản lượng lúa của các nước trong khu vực
Châu Á đã góp phần đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp cho tồn
cầu một cách tích cực và có vai trò quan trọng. Năm 2008, tổng sản lượng
lương thực về lúa của Châu Á là 582,39 triệu tấn, chiếm 94,9% sản lượng
lúa toàn thế giới. Như vậy Châu Á có thể coi là nguồn cung cấp lương thực
cho tồn cầu.
Theo số liệu dự đốn về sự phát triển dân số thế giới đến năm 2050 thì
đến năm 2010 dân số thế giới sẽ là 6,795 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm
1,2%. ðến năm 2050 là 8,9 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 0,4%. Với tốc
ñộ tăng dân số nhanh chóng, diện tích đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp thì
vấn đề an ninh lương thực vẫn ln đóng vai trị quan trọng hàng đầu với
nhiều quốc gia trên thế giới.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

7


Những tiến bộ trong sản xuất lúa trên thế giới trong vài ba thập kỷ qua
rất đáng khích lệ. Việc ñầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ

sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật… là những lý do để đạt được
kết quả trên.
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới nên
rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, trong
đó đặc biệt là cây lúa. Từ lâu cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu và
có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội của ñất nước. Với ñịa bàn trải
dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ
trồng lúa phì nhiêu trong đó đồng bằng sơng Hồng và đồng bằng sơng Cửu
Long là 2 vựa lúa lớn nhất của nước ta, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu
nuôi sống cả mấy chục triệu con người.
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của hai ñồng bằng Bắc Bộ và
Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu
tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha. Khoảng hai thập kỷ sau,
vào những năm của thập kỷ 60 miền Bắc có phong trào phấn ñấu ñạt 5
tấn/ha/năm cho ñến năm 1974 ñạt ñạt ñược mục tiêu này. Năng suất lúa bình
quân ñạt 51,4 tạ/ha/năm (Nguyễn ðình Giao và cs) [19]. Sau năm 1975 đất
nước ta hồn tồn thống nhất, sản xuất lúa ở nước ta đã có những bước phát
triển đáng kể, ñã ñưa ñất nước ta từ một nước nhập khẩu khoảng 0,8 triệu
tấn trở thành một nước tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngồi ra cũng có
một phần dành cho xuất khẩu (Nguyễn ðình Giao và cs) [19].
Sau năm 1975, trong ñiều kiện ñất nước thống nhất sản xuất lúa ở
nước ta đã có những thuận lợi mới và đã có những bước phát triển đáng kể.
Bình qn lương thực tiêu thụ của Việt Nam năm 1975 ñạt 200
kg/người/năm, năm 1985 ñạt 300kg/người/năm và ñến năm 2001 ñạt 420
kg/người/năm.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

8



Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nơng nghiệp Liên hợp
quốc (FAO), hiện tại trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam
xếp hạng thứ 5 với 7,5 triệu ha gieo trồng, sản lượng 34,5 triệu tấn lúa/năm,
xếp sau Trung Quốc, Ấn ðộ, Inđơnexia và Bănglades.
Những năm gần ñây sản xuất lúa gạo ở Việt Nam ñã ñạt ñược những
thành tựu rất ấn tượng với cộng ñồng quốc tế. Từ một nước thiếu lương thực,
Việt nam ñã từng bước vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu
gạo hàng ñầu thế giới.
Kể từ năm 1989, năm đầu tiên Việt nam có gạo xuất khẩu ñến nay
Việt Nam ñã ñóng góp với thế giới trên 40,7 triệu tấn gạo với giá trị trên 9 tỷ
USD, từng bước vươn lên trở thành quốc gia ñứng thứ 2 trên thế giới về xuất
khẩu gạo.
Năng suất và sản lượng lúa tăng do nhiều ngun nhân, trong đó trước
tiên là những thay đổi về cơ chế chính sách mới trong nơng nghiệp nơng
thơn, sau đó là những thay đổi trong kỹ thuật trồng lúa. Nhờ có sự quan tâm
của ðảng và Nhà nước với chủ trương của Bộ Nông nghiệp & Phát triển
nơng thơn, tình hình sản xuất lúa của nước ta mấy chục năm gần đây đã có
sự tăng trưởng mạnh.
Diện tích trồng lúa những năm gần đây của nước ta khơng ổn định và
có xu hướng giảm xuống, biến động từ 7,41 triệu ha xuống cịn 7,31 triệu ha,
năm 2008 có diện tích thấp nhất là 7,31 triệu ha. Diện tích trồng lúa của
nước ta trong năm gần đây có xu hướng giảm qua các năm và ngun nhân
gây ra sự biến đổi đó là do dân số tăng, các khu cơng nghiệp và đơ thị hình
thành. ðây là xu hướng khơng có lợi cho việc phát triển nơng nghiệp nói
chung và nghành trồng lúa nói riêng.
Năng suất lúa có xu hướng ngày càng tăng được thể hiện qua các năm.
Năm 2004, năng suất ñạt 47,9 tạ/ha và năm 2008 năng suất đạt 51,1 tạ/ha.
Có được sự tăng trưởng trên là do nhà nước đã có những chính sách đúng
Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………


9


ñắn trong việc phát triển ngành nông nghiệp, ñặc biệt là ñối với nghề trồng
lúa cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Cùng với sự tăng năng suất thì sản lượng lúa của Việt Nam trong
những năm gần đây cũng có xu hướng tăng nhanh từ 35,5 triệu tấn năm
2004 lên tới 37,55 triệu tấn năm 2008, mặc dù diện tích trồng lúa từ năm
2004 đến năm 2008 giảm xuống chỉ cịn 7,31 triệu ha. Tốc ñộ tăng trưởng
sản lượng lương thực lúa như vậy là một dấu hiệu đáng mừng cho ngành
nơng nghiệp nước nhà.
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và mấy
năm gần ñây tăng lên cũng là do nhiều ngun nhân khác nhau trong đó trước
tiên là những thay đổi về chính sách trên phạm vi vĩ mơ từ thời kỳ đổi mới mở
cửa, sau ñó là những thay ñổi về cơ cấu giống chuyển ñổi mùa vụ, giải quyết
tưới tiêu, cải tạo ñất phèn. ðặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh, việc
ñưa giống mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ñã từng
bước nâng cao năng suất cũng như sản lượng của nước ta ngày càng tăng
nhanh (Bùi Huy ðáp, 1980) [4].
Trên ñồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các ñiều kiện
khác nhau. Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố khách quan và chủ quan như điều kiện thời tiết, khí hậu, đất
đai, giống, phân bón, chế độ nước và kỹ thuật chăm sóc, phịng trừ sâu
bệnh…trong đó chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng ñể tăng năng
suất lúa.

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

10



Bảng 2.1. Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(nghìn ha)

(tạ/ha)

(nghìn tấn)

1990

6.042,8

31,8

19.225,1

1995

7.666,3

42,4

32.529,5


2001

7.492,7

42,9

32.108,4

2002

7.504,3

45,9

34.447,2

2003

7.452,2

46,4

34.568,8

2004

7.445,3

48,6


36.148,9

2005

7.329,2

48,9

35.832,9

2006

7.324,8

48,9

35.849,5

2007

7.201,0

49,8

35.867,5

2008

6.930,1


52,7

36.513,8

Năm

(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2008)
Mặc dù sản lượng lúa tăng nhưng lợi nhuận từ sản xuất lúa năm 2008
không cao hơn so với năm trước do chi phí sản xuất tăng cao. Tốc ñộ tăng giá
lúa chỉ bằng 1/2 tốc ñộ tăng giá của các loại vật tư ñầu vào, trong đó phần lớn
chi phí do đầu tư vào phân bón.
2.3 Yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa
2.3.1 Yêu cầu dinh dưỡng ñạm của cây lúa
N là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết ñịnh sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng. N là một trong những nguyên tố cơ bản của cây
trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục. Trong
thành phần chất khơ của cây có chứa từ 0,5 – 6% N tổng số. Hàm lượng N
trong lá liên quan chặt chẽ với cường ñộ quang hợp và sản sinh lượng sinh
khối. ðối với cây lúa thì N lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong
việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy nhanh q trình đẻ nhánh và sự phát triển

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

11


thân lá của lúa dẫn ñến làm tăng năng suất lúa. Do vậy, N thúc ñẩy cây sinh
trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt
chắc, hàm lượng protein trong hạt. N ảnh hưởng ñến tất cả các chỉ tiêu sinh

trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa.
N ảnh hưởng lớn đến việc hình thành địng và bơng lúa sau này, sự
hình thành số hạt trên bơng, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng nghìn hạt…
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón phân N. Nếu giai ñoạn ñẻ
nhánh mà thiếu N sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bơng
ít. Nếu bón khơng đủ lượng phân đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến
lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bơng địng nhỏ, từ đó làm cho năng
suất giảm. Nhưng nếu bón thừa N lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá
mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngồi ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh
vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm. Khi cây lúa được bón đủ N thì nhu
cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali ñều tăng (ðỗ Thị Thọ,
2004) [11], (Lê Văn Tiềm, 1986) [15]. Theo Bùi Huy ðáp,1980 [4] , N là
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có ñủ N thì các yếu tố khác
mới phát huy hết ñược tác dụng.
Nhu cầu N của cây lúa ñã ñược nhiều nhà khoa học trên thế giới ñi
sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu N của cây lúa có tính chất
liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch. Trong suốt q
trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh
dưỡng N cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm địng. ở thời kỳ
ñẻ nhánh rộ cây hút nhiều N nhất (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 1998)
[5], (Nguyễn Thị Lang, 1994) [26].
Theo Yoshida (1985) [39], lượng N cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết
định tới 74% năng suất. Bón nhiều N làm cây lúa ñẻ nhánh khoẻ và tập
trung, tăng số bông /m2; số hạt/ bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt (P1000) ít
thay đổi [64].
Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

12



Theo các tác giả ðinh Văn Lữ (1978) [10]; Bùi Huy ðáp (1980) [4];
ðào Thế Tuấn (1980) [7] và Nguyễn Hữu Tề (1997) [20]: thông thường cây
lúa hút 70% tổng lượng N là trong giai ñoạn ñẻ nhánh, ñây là thời kỳ hút N
có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 – 15% là hút ở giai đoạn làm địng,
lượng cịn lại là từ giai đoạn sau làm địng đến chín.
Qua nhiều năm nghiên cứu, ðào Thế Tuấn đã đi ñến nhận xét: Cây
lúa ñược bón N thoả ñáng vào thời kỳ ñẻ nhánh rộ thúc ñẩy cây lúa ñẻ nhánh
khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi ñi. Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, N có vai
trị thúc ñẩy tốc ñộ ra lá, tăng tỉ lệ N trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích
luỹ chất khơ và cuối cùng là tăng số nhánh ñẻ (ðào Thế Tuấn, 1980) [8].
Theo tác giả Bùi ðình Dinh, 1993 [3], cây lúa cũng cần nhiều N trong
thời kỳ phân hoá địng và phát triển địng thành bơng, tạo ra các bộ phận
sinh sản. Thời kỳ này quyết ñịnh cơ cấu sản lượng: số hạt/bơng, khối lượng
nghìn hạt (P1000) (Nguyễn Như Hà, 2005) [23].
S. Yoshida (1985) [39] cho rằng: Ở các nước nhiệt ñới lượng các chất
dinh dưỡng (N, P, K) cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N;
5,1kg P2O5 và 44 kg K2O. Trên nền phối hợp 90 P2O5 – 60 K2O hiệu suất
phân N và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 – 120 kgN/ha.
Kết quả nghiên cứu của ðinh Văn Cự, tại xã Gia Xuyên – Tứ Lộc – Hải
Dương cho thấy: lượng N cần bón để đạt 1 tấn thóc phải từ 26 – 28 kg N. Kết
quả này cao hơn nhiều so với dự tính của ðào Thế Tuấn năm 1969, muốn đạt
được một tấn thóc cần 22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong vụ Mùa
(Lê Văn Tiềm, 1986) [14].
Theo kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) [18], trên 60 thí
nghiệm thực tiễn khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: nếu
ñạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy đi hết 50 kg N; 260 kg P2O5; 80kg
K2O; 10 kg CaO; 6 kg MgO; 5 kg S và nếu ruộng lúa ñặt năng suất ñến 6
tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100 kg N; 50 kg P2O5; 160 kg
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………


13


K2O; 19kg CaO; 12 kg MgO; 10 kg S (Nguyễn Như Hà, 1999) [22]. Như
vậy, trung bình cứ tạo 1 tấn thóc, cây lúa lấy đi hết 17 kg N; 8 kg P2O5; 27
kg K2O; 3kg CaO; 2 kg MgO và 1,7 kg S.
Theo Yoshida (1985) [39], N là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất
ñối với cây lúa trong các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển.
Sau khi tăng N thì cường độ quang hợp, cường độ hơ hấp và hàm
lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp ñộ quang hợp, hô hấp không khác
nhau nhiều nhưng cường ñộ quang hợp tăng mạnh hơn cường ñộ hô hấp gấp
10 lần cho nên vai trò của N làm tăng tích luỹ chất khơ (Nguyễn Thị Lẫm,
1994) [25].
Nếu bón phân N với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào
lúa đẻ nhánh và sau đó giảm dần. Với liều lượng bón N thấp thì bón vào lúc
lúa ñẻ và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) [39].
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón N theo 9 cách
tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Mỗi lần bón với 7 mức
N khác nhau, 2 tác giả trên đã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của N (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng N bón ở mức
thấp.
+ Có 2 đỉnh về hiệu suất, đỉnh đầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ ñẻ
nhánh, ñỉnh thứ 2 xuất hiện ở 19 ñến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng N nhiều thì
khơng có đỉnh thứ 2. Nếu bón liều lượng N thấp thì bón vào lúc 20 ngày
trước trỗ, nếu bón liều lượng N cao thì bón vào lúc cây lúa ñẻ nhánh (Gros.
A, 1977) [13], (Nguyễn Thị Lẫm,1994) [25].
Viện Nơng hố - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
ñất, mùa vụ và liều lượng phân N bón đến tỷ lệ N cây lúa hút. Khơng phải
do bón nhiều N thì tỷ lệ N của lúa sử dụng nhiều. Ở mức phân ñạm 80 kg
N/ha, tỷ lệ sử dụng N là 46,6%, so với mức N này có phối hợp với phân

chuồng tỷ lệ N hút ñược là 47,4%. Nếu tiếp tục tăng liều lượng phân N đến
Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

14


160N và 240N có bón phân chuồng thì tỷ lệ N mà cây lúa sử dụng cũng
giảm xuống. Trên ñất bạc màu so với đất phù sa sơng Hồng thì hiệu suất sử
dụng N của cây lúa thấp hơn. Khi bón liều lượng N từ 40N- 120N thì hiệu
suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng N tuyệt ñối do lúa sử dụng có tăng
lên (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [25].
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón N trên đất phù sa sông Hồng
của Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4
mức phân đạm từ năm 1992 ñến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân
N ñối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại ñất và giống lúa (Nguyễn Thị Lẫm,
1994) [25].
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sơng Cửu Long đã có nhiều thí
nghiệm về “ảnh hưởng của liều lượng phân N khác nhau đến năng suất lúa
vụ ðơng Xn và Hè Thu trên đất phù sa đồng bằng sơng Cửu Long ”. Kết
quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985- 1994 của Viện lúa
ðồng bằng sơng Cửu Long, đã chứng minh rằng: trên ñất phù sa ñược bồi
hàng năm có bón 60Kg P2O5 và 30Kg K2O làm nền thì khi có bón N đã làm
tăng năng suất lúa từ 15- 48,5% trong vụ ðông Xuân và vụ Hè Thu tăng từ
8,5- 35,6%. Hướng chung của 2 vụ đều bón ñến mức 90Kg N có hiệu quả
cao hơn cả, bón trên mức 90Kg N này năng suất lúa tăng không khơng đáng
kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [25].
Nguyễn Thị Lẫm (1994) [25], khi nghiên cứu về bón phân N cho lúa
cạn đã kết luận: Liều lượng N bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa
phương là 60Kg N/ha. ðối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì
lượng N thích hợp từ 90Kg – 120Kg N/ha.

Theo Nguyễn Như Hà (1999) [22], ảnh hưởng của mật ñộ cấy và ảnh
hưởng của liều lượng N tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh
cho thấy: Tăng liều lượng N bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ
nhánh hữu hiệu.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

15


Thời kỳ bón N là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực
của phân ñể làm tăng năng suất lúa. Với phương pháp bón N (bón tập trung
vào giai đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho
năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha (Cục khuyến nông và
khuyến lâm, 1998) [5], (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [25], (Nguyễn Văn Luật,
2001) [30].
Liều lượng bón cho 1 ha: 8 tấn phân chuồng + 120 kgN + 90 Kg P2O5
+ 60 kg K2O. Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân N trên
đất phù sa sơng Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50- 75% tổng lượng
N, lượng N bón ni địng chỉ từ 12,5- 25% (Bộ Nông Nghiệp và PTNT,
1996) [1].
2.3.2 Yêu cầu dinh dưỡng P của cây lúa
Sau N thì P là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ñối với sinh trưởng và
phát triển của cây trồng, vì P là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành
phần chủ yếu của nhân tế bào. Tác dụng chủ yếu của P ñược thể hiện trên
một số mặt sau:
- Xúc tiến sự phát triển của bộ rễ lúa, ñặc biệt là rễ bên và lông hút.
- Làm tăng số nhánh và tốc ñộ ñẻ nhánh lúa, sớm ñạt số nhánh cực
ñại, tạo thuận lợi cho việc tăng số nhánh hữu hiệu, dẫn ñến làm tăng năng
suất lúa.
- Thúc ñẩy việc ra hoa, hình thành quả, tăng nhanh q trình trỗ, chín

của lúa và ảnh hưởng tích cực đến chất lượng hạt.
- Tăng khả năng chống chịu với các ñiều kiện bất thuận và sâu bệnh hại
- Thúc ñẩy phân chia tế bào, tạo thành các hợp chất béo và protein.
- Ngoài ra, P cịn có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục,
protit và sự vận chuyển tinh bột.
Khi thiếu P, lá lúa có màu xanh đậm, bản lá nhỏ hẹp và mềm yếu,
mép lá có màu vàng tía, đẻ nhánh kém, kéo dài thời kỳ chỗ chín. Nếu thiếu P
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

16


ở thời kỳ làm địng sẽ ảnh hưởng rất rõ ñến năng suất lúa, cụ thể là làm giảm
năng suất lúa. Khi cây lúa ñược cung cấp P thoả ñáng sẽ tạo ñiều kiện cho
bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo ñiều kiện cho sinh trưởng,
phát triển, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa (Lê
Văn Tiềm 1996) [15].
ðào Thế Tuấn (1963) [6], cho biết: bón phân có ảnh hưởng ñến phẩm
chất hạt giống rõ rệt, làm tăng trọng lượng nghìn hạt, tăng tỉ lệ P trong hạt,
tăng số hạt trên bông và cuối cùng là cho năng suất lúa cao hơn. Bùi Huy
ðáp, 1980 [4] cho rằng: P có vai trị quan trọng đối với q trình tổng hợp
đường, tinh bột trong cây lúa và có ảnh hưởng rõ rệt ñến năng suất. Theo Vũ
Hữu Yêm (1995) [38], cây non rất mẫn cảm với việc thiếu P. Thiếu P trong
thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều P thì cây cũng
trỗ khơng đều hoặc khơng thốt. Do vậy, cần bón đủ P ngay từ giai đoạn đầu
và bón lót phân P là rất có hiệu quả.
Dinh dưỡng P có liên quan mật thiết với dinh dưỡng N. Nếu bón đủ P
sẽ làm tăng khả năng hút N và các chất dinh dưỡng khác. Cây được bón cân
đối N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm
chất tốt. Như vậy, muốn cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và cho năng suất

cao thì khơng những cần cung cấp đầy đủ N mà cịn cần cung cấp ñầy ñủ cả
P cho cây lúa (Tandon và Kimo, 1995) [36], (Nguyễn Vi, 1995) [33], (Vũ
Hữu Yêm, 1995) [38].
Theo kết quả của Nagai năm 1959, P ñược hút trong 42 ngày đầu tiên
sau cấy thì chuyển lên bơng, có tác dụng rõ rệt đến năng suất lúa, cịn P
được hút sau đó, phần lớn được ở rễ và trong rơm rạ (ðào Thế Tuấn, 1963)
[6]. Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của P ñối với việc tạo thành hạt
thóc của Kamurava và Ishizaka năm 1996 cho thấy: thời kỳ P có hiệu suất
cao nhất là thời kỳ đầu sau cấy 10 – 20 ngày (Katyal J. C, 1978) [43].
Tanaka có nhận xét: hiệu quả của bón phân P cho lúa thấp hơn so với cây
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

17


trồng cạn. Tuy nhiên, bón P xúc tiến q trình sinh trưởng của cây trong thời
kỳ đầu, có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng, ñặc biệt là những vùng lạnh thì
hiệu quả đó càng rõ. Kết quả của Buba năm 1960 cho biết, lúa nước là loại
cây trồng cần ít P, do đó khả năng hút P từ đất mạnh hơn cây trồng cạn
(Katyal J. C, 1978) [43].
Nghiên cứu của Brady, Nylec năm 1985 cho thấy, hầu hết các loại cây
trồng hút không quá 10 – 13% lượng P bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây
lúa, chỉ cần giữ cho P có trong đất khoảng 0,2 ppm hoặc thấp hơn một chút là
có thể cho năng suất tối đa. Tuy vậy, cần bón P kết hợp với các loại phân khác
như N, K mới nâng cao ñược hiệu quả của nó (Katyal J. C, 1978) [43].
Ở mỗi thời kỳ, lúa hút P với lượng khác nhau, trong ñó có hai thời kỳ
hút mạnh nhất là thời kỳ ñẻ nhánh và thời kỳ làm ñòng. Tuy nhiên, xét về
mức độ thì lúa hút P mạnh nhất vào thời kỳ ñẻ nhánh (Nguyễn Văn Uyển,
1994) [31], (Trung H.Met al, 1994) [46]. Trung bình để tạo ra một tấn thóc,
lúa hút khoảng 7,1kg P2O5. P trong đất là rất ít, hệ số sử dụng P của lúa lại

thấp, do đó phải bón P với liều lượng tương đối khá.
Ở Ấn ðộ, bón phân P với mức 60kg P2O5/ha có thể tăng năng suất lúa
lên trung bình 0,5-0,75 tấn thóc/ha. Ở ðài Loan, theo Lian năm 1989, với
mức khoảng 50-60kg P2O5/ha cho năng suất bội thu cao nhất (Hong D.L và
cs , 1990) [42]. ðể nâng cao hiệu quả của việc bón P cho cây lúa ngắn ngày,
trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90-120N,
60K2O/ha) nên bón P với lượng 80-90 P2O5/ha và tập trung bón lót (Gros. A,
1977) [13].
Theo nhiều tác giả cho biết, lượng phân bón cho lúa cần thay đổi theo
thời tiết, mùa vụ và từng loại ñất. Trên ña số các loại ñất, chân lúa cao sản
thường bón lượng P 60kg P2O5/ha, riêng ñối với ñất xám bạc màu có thể bón
80-90kg P2O5/ha. Năm 1996, theo Mai Thành Phụng và một số tác giả cho
rằng, trên đất phèn nặng, muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

18


×