Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

GIÁO TRÌNH GIẢNG dạy môn võ THUẬT cổ TRUYỀN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (894.07 KB, 30 trang )

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP. HỒ CHÍ MINH

GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY
MƠN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

A. PHẦN LÝ THUYẾT
LÝ THUYẾT CHUNG :
1.1.Lịch sử Olympic thể giới, Việt Nam :
I.

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO OLYMPIC QUỐC TẾ
VÀ OLYMPIC VIỆT NAM
--------------------------

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
OLYMPIC QUỐC TẾ

Phong trào Olympic cổ đại
Cuộc thi đấu Olympic cổ đại lần đầu tiên được tổ chức tại thung lũng Olympia – Hy Lạp
vào năm 776 trước CN. Theo truyền thuyết cổ, các vị thần linh và các vị anh hùng là những
người đầu tiên tranh tài tại Olympia, vì thế các mơn thi đấu thể thao trở thành một phần quan
trọng trong đời sống người dân Hy Lạp, là cách để người Hy Lạp gìn giữ, tơn vinh truyền thống
lịch sử văn hóa và huyền thoại của họ.


Vào ngày khai mạc Đại hội, tại thánh đường thiêng
liêng Olympia, tất cả mọi người đều đứng đón mặt trời
mọc. Thần Apollo, vị thần mặt trời, sẽ hiện lên trên cỗ xe
ngựa kéo, vượt qua những ngọn núi trong ánh sáng và màu
sắc rực rỡ. Những tia lửa vàng của người sẽ thắp sáng trên
mái và những cây cột của đền rồi chiếu sáng hình bóng
những cơng trình kiến trúc mái vòm nối tiếp dẫn đến sân
vận động Olympia. Đây chính là ý tưởng của nghi lễ đốt
đuốc trong lễ khai mạc Đại hội Olympic hiện nay. Thánh
đường cổ Olympia là nơi tơn kính đã có từ hơn 1.300 năm trước cơng ngun. Các cơng trình
khảo cổ học cho thấy thần Dớt là vị thần quan trọng nhất của Olympia.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 1


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Ở những kỳ Đại hội Olympic cổ đại đầu tiên, thời gian thi đấu chỉ kéo dài một ngày, tại
một sân vận động với một nội dung thi đấu duy nhất là thi chạy. Những năm sau đó, các nội
dung thi đấu, các nghi lễ và nghi thức mới dần dần được bổ xung thêm. Đến năm 600 trước cơng
ngun, các mơn thể thao được đưa vào chương trình đại hội gồm có: Đua ngựa, 5 mơn phối hợp
(nhảy xa, ném lao, ném đĩa, chạy và vật), Quyền, Vật và Chạy chân đất. Đại hội diễn ra trong 5
ngày tại sân vận động Olympic cổ đại có sức chứa 40.000 người và được xem là lễ hội tôn giáo
lớn nhất vào thời gian đó. Những người chiến thắng được trao một vương miện tết bằng cành ô
liu và trở thành anh hùng. Đại hội chỉ dành cho nam giới, tất cả phụ nữ, ngoại trừ các nữ tu sĩ,
đều không được tham dự dù với tư cách khán giả do quan điểm lời nói của phụ nữ có thể làm suy

yếu sức mạnh tinh thần của binh lính. Cương lĩnh của Olympic cổ đại là “Cao hơn, nhanh hơn,
mạnh hơn”, cho đến nay, cương lĩnh này vẫn là nguồn cảm hứng tinh thần của tinh thần Olympic
hiện đại.
Năm 490 trước CN: Phillipides, người đưa tin của quân đội Hy Lạp, chết sau khi chạy từ
chiến trường Marathon về thành phố Athens để báo tin chiến thắng quân đội Ba tư (Iran). Cuộc
thi Marathon hiện nay (cự ly 42,195 km) được đặt tên để tôn vinh chiến công này.
Đến năm 393 sau công nguyên, các cuộc thi Olympic cổ đại bị hoàng đế La Mã cổ đại
Theodosius I hủy bỏ vì quan điểm các cuộc thi đấu này là ngoại đạo. Năm 426, theo lệnh của
hoàng đế Theodosius II, các cơng trình thi đấu Olympic này bị phá hủy. Động đất và lũ lụt đã
chơn vùi những gì cịn lại mà đến thế kỷ 19 người ta mới tìm thấy chúng dưới lớp đất dầy 4, 5
mét.
Nhiều nghiên cứu cho thấy: Thành cơng của phong trào Olympic cổ đại ngồi lý tưởng
gìn giữ, tơn vinh truyền thống lịch sử văn hóa và huyền thoại, nghi lễ tơn giáo của người Hy Lạp,
một phần cịn do tình u của người Hy Lạp đối với thể thao. Do sự ngưỡng mộ của người Hy
Lạp đối với vẻ đẹp hài hòa của cơ thể và đối với các giá trị đặc biệt về cách sống dựa trên sự hợp
nhất của trí tuệ, thể chất và tâm hồn con người.
Phong trào Olympic hiện đại
Việc khôi phục phong trào Oplimpic hiện đại được bá tước Pierre de Coubertin (18631937) phát triển từ ý tưởng đưa hoạt động thể chất vào chương trình giáo dục của đất nước mình.
Sự say mê triết lý và lối sống của người Hy Lạp cổ đại của ông, người được xem cha đẻ phong
BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 2


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

trào Olympic hiện đại, là yếu tố quan trọng dẫn đến sự hồi sinh Đại hội Olympic hiện đại. De
Coubertin kết hợp ý tưởng tổ chức Đại hội thể thao quốc tế với Đại hội Olympic kiểu Hy Lạp cổ

đại. Lý tưởng của ông là tôn vinh những giá trị sức khỏe và sự thông thái của tuổi trẻ, tán dương
những vận động viên và thống nhất các cộng đồng trên thế giới.
Năm 1894, Thế vận hội Olympic đã sống lại. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) được thành lập tại
Paris để tổ chức và điều hành tất cả các đại hội Olympic. De Coubertin trở thành chủ tịch đầu
tiên của IOC và giữ chức vụ này đến năm 1925.
Thế vận hội (TVH) hiện đại lần 1 được tổ chức vào năm
1896 tại Athen – Hy Lạp. De Coubertin là đạo diễn chính cho
việc hình thành và xác định tính chất của đại hội. Hiến
chương Olympic, nghi thức cho lễ khai mạc và bế mạc, lời
thể của vận động viên và biểu tượng năm vòng tròn là kết
quả sự lao động sáng tạo và miệt mài của ông. Để tôn vinh
người được xem là cha đẻ của phong trào Olympic hiện đại, khi ông mất vào năm 1937 tại
Geneva (thụy sỹ), trái tim ông được chôn cất tạo đất thánh Olympia – Hy Lạp, nơi đây một đài
tưởng niệm đã được dựng lên để tưởng nhớ tới công lao của ông đối với lý tưởng và tinh thần
Olympic.
TVH mùa hè được tổ chức thường xuyên 4 năm/lần. Từ TVH lần 1 (1896 – Athen) đến
nay đã có 29 kỳ TVH, lần 29 (2008 – Beijing). TVH lần 30 sẽ được tổ chức vào năm 2012 tại
London (Anh). Trong đó có ba kỳ phải hủy bỏ là TVH lần 6 vào năm 1916 (Đệ nhất thế chiến),
TVH lần 12 năm 1940 và lần 13 năm1944 (Đệ nhị thế chiến). Số Ủy ban Olympic quốc gia tham
dự TVH lần 1 từ 14 quốc gia với 311 vận động viên đã tăng lên 201 quốc gia, vùng lãnh thổ với
10.564 vận động viên ở TVH lần 29.
Đến 1924, TVH mùa đông lần 1 được tổ chức tại Chamonix, Pháp. Đây là Đại hội dành cho các
môn thể thao mùa đông (trượt tuyết, Trượt băng, Hốc cây, Xe trượt đồng đội, Trượt lòng máng,
Trượt tuyết…) được tổ chức thường xuyên 4 năm/lần.
Paralympic là một đại hội thể thao thế giới dành cho những người bị khuyết tật do "Ủy
Ban Paralympic Quốc tế" (IPC: International Paralympic Committee) tổ chức vào cùng năm và
cùng địa điểm với Thế Vận Hội. Theo một số tài liệu về lịch sử thể thao thế giới có ghi chép về
BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 3



ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

những đại hội thể thao dành cho những người bị khuyết tật được tổ chức từ đầu thế kỷ 20, nhưng
lịch sử của Paralympic được nhìn nhận là chính thức bắt nguồn từ ngày 28/7/1948 (tức trùng vào
ngày khai mạc Thế Vận Hội London) với tên gọi "Ðại Hội Thể Thao Stoke Mandeville" được
diễn ra tại bệnh viện Stoke Mandeville ở Anh Quốc. Vào năm 1960, bác sĩ Guttmann với tư cách
là Hội Trưởng đã thành lập một Ủy Ban Ðiều Hành và tổ chức "Ðại Hội Thể Thao Quốc Tế
Stoke Mandeville" cùng năm cùng địa điểm với Thế Vận Hội Roma. Vì vậy, cho đến nay "Ðại
Hội Thể Thao Stoke Mandeville Quốc Tế 1960" được gọi là "Paralympic Lần Thứ Nhất". Năm
1976 là năm bắt đầu ra đời "Paralympic Mùa Ðông". Vào năm 1989, "Ủy Ban Paralympic Quốc
Tế" (IPC: International Paralympic Committee) được thành lập để tiếp tục điều hành đại hội thể
thao đặc biệt này. Đến TVH Sydney 2000 thì IOC và IPC chính thức ký những văn kiện liên kết
với nhau, trong đó quy định 2 điều căn bản quan trọng là: Paralympic sẽ được tổ chức tại cùng
địa điểm ngay sau thời điểm Thế Vận Hội bế mạc và IOC sẽ được quyền tuyển chọn những ủy
viên phụ trách từ IPC.
Tổ chức và các hoạt động của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC)
IOC là một tổ chức phi chính phủ, được hình thành và có
lịch sử phát triển hơn 100 năm, điều hành 2 sự kiện thể
thao lớn nhất thế giới: Thế vận hội (TVH) Olympic mùa
hè và TVH Olympic mùa đông. IOC đã định hướng trở
thành một tổ chức kinh tế hưng thịnh từ thập kỷ 1980
cho dù về tình trạng pháp lý thì tổ chức này vẫn là một
hiệp hội phi lợi nhuận giống tất cả các liên đoàn thể thao
quốc tế và quốc gia.
IOC là một hiệp hội thành viên, là cơ quan có quyền hành cao nhất về hoạt động
Olympic. Ý tưởng của De Coubertin là đưa Thế vận hội trở thành trung tâm của hoạt động thể

thao toàn thế giới. Theo quan điểm của Coubertin, Đại hội Olympic không đơn giản chỉ là một
sự kiện thể thao, điểm trọng tâm của phong trào mang tính xã hội rộng rãi này là thông qua hoạt
động TDTT để tăng cường hiểu biết quốc tế và phát triển con người. Bản hiến chương Olympic
đầu tiên được xuất bản vào năm 1894, trong đó De Coubertin đã viết: “Vì sao tơi khơi phục Đại
hội Olympic? Đó là để đẩy mạnh các hoạt động thể thao, đảm bảo tính độc lập và lâu dài của nó,
và như vậy sẽ cho phép phát triển tốt hơn các mơn TT, để thực hiện vai trị giáo dục trong thế

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 4


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

giới hiện đại, tôn vinh những cá nhân VĐV mà hoạt động thể thao của họ là rất quan trọng để
duy trì tinh thần thể thao chung”. Từ tuyên bố đầu tiên này, các mục tiêu của phong trào Olypic
đã lớn mạnh và phát triển. Ngày nay, các mục tiêu đó được thể hiện trong hiến chương Olympic
như là các nguyên tắc cơ bản.
IOC xác định 6 chức năng chính là:
- Thúc đẩy tinh thần Olympic.
- Phối hợp tổ chức, điều hành các TVH.
- Ủng hộ, khích lệ hoạt động Olympic
- Khuyến khích sự phát triển thể thao.
- Phát triển khoa học thể thao.
- Góp phần phát triển xã hội thơng qua TT.
Ban đầu, IOC có 15 thành viên từ 12 quốc gia, vào lễ kỷ niệm 100 năm thành lập, 1994,
số thành viên đã tăng lên hơn 100. Các thành viên của IOC bao gồm các Ủy ban tổ chức của các
TVH mùa hè và mùa đông, Các Ủy ban Olympic quốc gia thành viên (NOC), tất cả các Liên

đoàn Thể thao Quốc tế và quốc gia. Phong trào Olympic dưới sự điều hành của IOC liên tục phát
triển qua các giai đoạn và luôn thể hiện vai trị tổ chức có quyền lực cao nhất trong các hoạt động
thể thao trên tồn thế giới, có tác động đến tất cả các lĩnh vực văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế
của thế giới.
Tuy nhiên trong q trình hoạt động và phát triển, IOC cũng phải vượt qua nhiều thử
thách và phải điều chỉnh, thay đổi một số quy định trong hiến chương để phù hợp với sự phát
triển của thế giới nhằm đưa phong trào Olympic ngày càng phát triển.
Sự kiện: Năm 1999, 10 thành viên IOC phải từ chức hoặc bị cách chức và 10 thành viên
khác bị khiển trách vì liên quan đến việc nhận quà “trên mức tình cảm” của Ủy ban tranh cử tổ
chức Olympic mùa đông Salt Lake city 2002. Sau scandal này, IOC quyết định cải tổ và giới hạn
số lượng ủy viên cịn 115 người, trong đó 70 người, với tư cách đại diện IOC, hoạt động tại quốc
gia của mình, và 45 quan chức điều hành IOC (15 người đại diện cho các VĐV Olympic, 15
người từ các NOC và 15 người từ các Liên đoàn thể thao quốc tế (IF). Các ủy viên đều được bầu
BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 5


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

theo hình thức bỏ phiếu kín, nhiệm kỳ là 8 năm và tuổi giới hạn là 70. Trước đây, nhiệm kỳ làm
việc là không giới hạn, ủy viên được sự phê chuẩn chứ không bỏ phiếu và tuổi giới hạn là 80.
Năm 2004, năm tổ chức Olympic Athens, IOC gồm 122 ủy viên từ 81 quốc gia. IOC có 22 ủy
viên danh dự, bao gồm 1 chủ tịch danh dự là nguyên chủ tịch Juan Antonio Samaranch. Nhìn
chung, sức khỏe của tất cả các ủy viên đều khá tốt. Tất cả các ủy viên đều không được hưởng
lương, từ 1981 họ được thanh tốn chi phí đi dự các cuộc họp Olympic.
Nhiệm vụ chính của các ủy viên Ban chấp hành IOC là:
-


Thúc đẩy và thực thi lý tưởng Olympic tại đất nước và tổ chức của mình.

-

Bầu chọn chủ tịch, các ủy viên ban chấp hành và các ủy viên mới.

-

Chọn lựa thành phố tổ chức Olympic.

Đại hội thường niên của IOC thực hiện các điều chỉnh, bổ xung hiến chương Olympic
nhằm phát triển hoạt động Olympic và thiết lập, củng cố vai trị và uy tín của IOC. Đại hội được
tổ chức theo hình thức quốc hội dưới sự chủ trì của ban chấp hành theo đúng luật pháp của Thụy
sỹ (điều 60 bộ luật dân sự Thụy Sỹ). Trụ sở IOC đặt tại Lausanne (Thụy Sỹ) từ 1915.
Ủy ban Olympic Quốc gia (National Olympic Committee - NOC) được IOC công nhận ở
từng quốc gia, lãnh thổ là thành viên IOC. Năm 2004, IOC có 202 quốc gia, lãnh thổ thành viên.
Nhiệm vụ chính của NOC là gửi đoàn tham gia thi đấu tại các Thế vận hội (TVH) (năm 2004 tất
cả các NOC đều tham dự TVH mùa hè; 2002 có 77 đồn tham dự TVH mùa đông). Đổi lại, các
NOC nhận được sự trợ giúp của IOC dưới nhiều hình thức để phát triển phong trào TDTT tại đất
nước.
Các Liên đoàn thể thao thế giới (International Federartion - IF) đều tổ chức các hoạt động
của môn ở quy mô thế giới. IF điều hành hoạt động của các liên đoàn quốc gia (NF). Với nhiệm
vụ gửi các VĐV của mình tham dự TVH, các Liên đoàn thể thao quốc gia (NF) của từng quốc
gia cũng có thể là thành viên của NOC. Năm 1998, IOC cơng nhận 65 IF, trong đó có 35 IF trong
chương trình Olympic (các mơn mùa đơng và mùa hè). IF phải ủng hộ các cuộc thi đấu Olympic.
Đổi lại, các IF nhận được 1 phần từ nguồn thu nhập tổ chức các TVH. IF cũng có nguồn thu
nhập từ các giải thi đấu thuộc quyền hạn của mình (Giải vơ địch thế giới, Giải vô địch châu lục,
khu vực…). Nhiều tổ chức khác có liên kết với thể thao, TVH… cũng được IOC cơng nhận.


BỘ MƠN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 6


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ỦY BAN OLYMPIC
VIỆT NAM (VIETNAM OLYMPIC COMMITTEE – VOC)
Vào thập kỷ 50 ở Việt Nam đã xuất hiện một số tổ chức Thể thao
Olympic tiền thân của Phong trào Olympic hiện nay. Theo tài liệu của
IOC, vào những năm 50 Việt Nam đã có 9 Hiệp hội Thể thao Quốc gia, được các Liên đồn,
Hiệp hội Thể thao Quốc tế cơng nhận. Đó là: Điền kinh, Bơi lội, Bóng đá, Bóng bàn, Bóng rổ, Xe
đạp, Quần vợt, Quyền anh, Đấu kiếm. Vào thời gian đó, Việt Nam đã cử các đồn Thể thao tham
dự các Đại hội Olympic, Đại hội Thể thao châu Á và khu vực Đông Nam Á. Việt Nam là một
trong 6 nước thành viên sáng lập Liên đoàn Thể thao Bán đảo Đông nam Á (The South East
Asian Peninsular Games Federation hay SEAP Games Federation) vào năm 1959. Đến năm
1977, Liên đoàn SEAP đổi tên thành Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á (South East Asian Games
Federation, SEAGF).
Sau khi nước nhà thống nhất, phong trào Thể thao Olympic của Việt Nam mới có điều
kiện phát triển trên quy mô rộng lớn, theo xu hướng chung của phong trào Olympic Quốc tế là
hoà nhập với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực thể thao nhằm thúc đẩy tình đồn kết hữu nghị và
hợp tác quốc tế vì hồ bình và tiến bộ xã hội.
Theo Hiến chương Olympic, tất cả các Uỷ ban Olympic Quốc gia muốn gia nhập phong
trào Olympic Quốc tế cần phải thành lập một tổ chức Thể thao thống nhất với những Điều luật,
Điều lệ riêng và được chính phủ nước mình cho phép.
- Ngày 20/12/1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định số 500 TTG cho phép thành
lập Uỷ ban Olympic Quốc gia Việt Nam (Vietnam Olympic Committee - VOC)

- Tháng 12/1979, VOC đã trình đơn xin gia nhập Phong trào Olympic Quốc tế.
- Ngày 28/4/1980, Uỷ ban Olympic Quốc tế đã ra Quyết định cơng nhận chính thức Uỷ ban
Olympic Quốc gia Việt Nam là thành viên của phong trào Olympic Quốc tế. Từ đây Uỷ ban
Olympic Việt Nam là Đại biểu duy nhất của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong
Phong trào Olympic Quốc tế có quyền được tham gia các Đại hội Thể
thao Olympic, các Đại hội thể thao các châu lục và khu vực Đông Nam Á.
Hội đồng Olympic Châu Á (The Olympic Council of Asia - OCA) được
thành lập ngày 05/12/1982 trên cơ sở tiền thân là tổ chức Liên đoàn Thể
thao Châu Á (The Asian Games Federation) ra đời ngày 13/03/1949.
VOC đã tham dự phiên họp Hội đồng Liên đoàn Thể thao Châu Á năm
BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 7


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

1981 tại New Dehli - Ấn Độ và thông qua điều lệ của Hội đồng. Như vậy, VOC là một trong 34
thành viên sáng lập OCA.
Sau khi trở thành thành viên chính thức của IOC, đồn thể thao Việt Nam bắt đầu tham
gia Đại hội thể thao thế giới từ năm 1980 (Olympic XXII- Moscow); Đại hội thể thao Châu Á
năm 1982 (Asiad lần IX – tại New Dehli - Ấn Độ) và Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEA
Games XV) tại Kuala Lumpur – Malaysia.
Cùng với cơ quan quản lý Nhà nước về thể dục thể thao (TDTT), VOC đã quy tụ các tổ
chức thể thao trong nước, chăm lo phát triển phong trào TDTT quần chúng và mở rộng quan hệ
ngoại giao với các nước trong phong trào Olympic quốc tế. Từng bước tham gia đều đặn các kỳ
Đại hội thể thao quốc tế. Đặc biệt Việt Nam đã tổ chức thành công SEA Games 22 – 2003,
ASEAN Para Games 2 – 2003 và ASIAN Indoor Games lần III năm 2009. Qua hoạt động thực

tiễn, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp phát triển Thể thao
Olympic của nước nhà, tạo ra những chuyển biến tích cực của Phong trào Olympic Việt Nam
trên 3 lĩnh vực chiến lược: Thể thao cho mọi người, Thể thao đỉnh cao và Quan hệ Quốc tế trong
lĩnh vực Thể thao.
Thành tích tại Đại hội Thể thao Olympic: Cho đến nay, Thể thao Việt Nam đã đạt được 2
huy chương bạc tại các kỳ Olympic.
- Tại Đại hội Olympic Sydney 2000, nữ võ sỹ Taekwondo Trần Hiếu Ngân đạt tấm huy chương
đầu tiên cho thể thao Việt Nam sau 5 kỳ tham dự Đại hội Olympic. Đây được ghi nhận là thành
tích có ý nghĩa lịch sử của thể thao Việt Nam trên đấu trường Olympic.
- Tại Đại hội Olympic Bắc Kinh 2008, Lực sĩ cử tạ Hồng Anh Tuấn đã làm nức lịng người hâm
mộ thể thao khi vượt qua mọi áp lực để giành chiếc HCB Olympic thứ hai trong lịch sử thể thao
Việt Nam.

Thành tích tại Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD):
- New Delhi 1982: 1 HC đồng (Bắn súng)
- Hiroshima 1994: 1 HC vàng (Trần Quang Hạ - Taekwondo) & 2 HC bạc (karatedo).
- Bangkok 1998: 1 HCV (Hồ Nhất Thống - Taekwondo), 5 HCB & 11 HCĐ.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 8


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

- Busan 2002: 4 HCV (Vũ Kim Anh, Nguyễn Trọng Bảo Ngọc - karatedo, Lý Đức- thể hình, Trần
Đình Hòa- billards), 7 HCB & 7 HCĐ.
- Doha 2006: 3HCV (2 cầu mây, Vũ Nguyệt Ánh- karatedo), 13 HCB & 7HCĐ.

- Guangzhou 2010: 1 HCV (Lê Bích Phương-karatedo), 17 HCB và 15 HCĐ

Thành tích tại Đại hội Thể thao Đơng Nam Á (SEA Games):
- Kualar Lumpur -1989: 3 HCV - 11 HCB - 5 HCĐ. Hạng 7/9 đoàn tham dự.
- Manila 1991: 7 HCV - 12 HCB - 10 HCĐ. Hạng 7/9.
- Singapore 1993: 9 HCV - 6 HCB - 19 HCĐ. Hạng 6/9.
- Chiangmai 1995: 10 HCV - 18 HCB - 24 HCĐ. Hạng 6/10.
- Jakatar 1997: 35 HCV - 48 HCB - 50 HCĐ. Hạng 6/10
- Brunei Sarussalam 1999: 17 HCV - 20 HCB - 27 HCĐ. Hạng 6/10.
- Kuala Lumpur 2001: 33 HCV - 35 HCB - 64 HCĐ. Hạng 4/10.
- Việt Nam 2003: 156 HCV - 91 HCB - 93 HCĐ. Hạng 1.
- Philippin 2005: 71 HCV - 68 – 89. Hạng 3.
- Thailand 2007: 64 HCV - 54 HCB - 83 HCĐ. Hạng 3.
- Lào 2009: 83 HCV, 75 HCB, 57 HCB. Hạng 2.
1.2. Ý nghĩa của việc tâp luyện TDTT :

LỢI ÍCH CỦA THỂ DỤC THỂ THAO
Tổ chức y tế thế giới (WHO, 1946) đưa ra quan
điểm sức khỏe là “Trạng thái toàn diện về thể chất, tinh
thần và sự thịnh vượng xã hội” (a complete state of
physical, mental and social prosperity). Định nghĩa này
cho thấy quan điểm sức khỏe không chỉ là không bệnh
tật. Trạng thái khỏe mạnh không phải là bất biến, một số yếu tố nhất định có thể duy trì hay làm
tăng tình trạng sức khỏe và cũng có những yếu tố làm suy giảm sức khỏe. Trong đó, việc tập
luyện TDTT là những hoạt động có lợi cho sức khỏe.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 9



ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Trong quá khứ, thể thao không phải là mục tiêu phát triển sức khỏe, cho đến cuối thế kỷ 19
với câu châm ngôn của Juvenal “mens sana in corpore sano” có nghĩa: “Một tinh thần khỏe
mạnh trong 1 cơ thể cường tráng” đã hình thành một quan điểm mới về tập luyện TDTT khi
những lợi ích của TDTT được thừa nhận. Quan điểm này ngày càng chứng tỏ rõ ràng hơn khi
hiện tượng cơ giới hóa và tự động hóa của xã hội xuất hiện, có nghĩa là các hoạt động thể chất
trong lúc lao động bị giảm sút và lối sống ít vận động bắt đầu biểu lộ một số tác hại.
Tham gia vào tất cả các hoạt động mà cơ thể phải tiêu hao năng lượng nhiều hơn trạng
thái nghỉ ngơi, vận động thể chất bao gồm khơng chỉ là thể thao mà cịn là các trị chơi vận động,
đi bộ, khiêu vũ, bơi lội…
Đã có rất nhiều nghiên cứu về vai trị, lợi ích của tập luyện TDTT đối với sức khỏe (thể
chất và tinh thần) con người, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Sau đây là một số tổng kết:
1. Tuổi thọ: Từ thế kỷ 19, các nhà khoa học đã nghiên cứu tác động của TDTT đến việc
kéo dài tuổi thọ. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy việc tham gia hoạt động TDTT ở đại đa số
các mơn đều có thể làm tăng tuổi thọ. Thí dụ: Theo Bouchard (1994): các VĐV môn chèo thuyền
ở ĐH Cambridge và Oxford, cũng như VĐV trượt tuyết Phần Lan có tuổi thọ cao hơn người
không tập luyện. Một nghiên cứu khác của Paffenbarger và cộng sự (1986) trên hơn 15.000 cựu
sinh viên ĐH Harvard cho thấy những người tham gia hoạt động TDTT, đặc biệt là đi bộ, thì tuổi
thọ tăng lên gần 2 năm so với người bình thường.
2. Bệnh tật:
Báo cáo của WHO (2002, 2003), ước lượng trên tồn cầu, khơng vận động thể chất là
nguyên nhân chính gây ra 1.9 triệu người chết hàng năm, trong đó có 250.000 người Mỹ. Lối
sống ít vận động ở Mỹ là nguyên nhân gây bịnh, chiếm 18% các ca bịnh tim mạch, 22% các ca
ung thư ruột kết, tiêu tốn 3.5% chi phí dành cho sức khỏe toàn liên bang (US Department of
Health,1996). Ở Canada, 21.000 trường hợp chết yểu do không vận động, tiêu tốn 2.1 tỷ USD
trong năm 1999, chiếm 2.5 % quỹ chăm sóc sức khỏe (Katzmarzyk et al., 2000). Rất nhiều

nghiên cứu đã cho thấy cái giá phải trả cho lối sống ít vận động và lợi ích của tập luyện TDTT,
dẫn đến việc thúc đẩy mạnh các chương trình hoạt động TDTT ngày càng rộng lớn trên thế giới.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 10


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Béo phì: Cho dù lượng calory tiêu thụ trung bình khơng tăng trong thế kỷ 20 nhưng số
lượng người bịnh béo phì lại tăng cao ở các nước phát triển. Năm 1850, 1/3 năng lượng được
dùng trong lao động ở các nhà máy và nông trường, trong khi ước lượng hiện nay chỉ khoảng 1
%. Lối sống đô thị hóa, sử dụng thường xun xe hơi, ít đi bộ, thời gian ngồi trước tivi ngày
càng tăng, lười vận động, ít tập TDTT… là những yếu tố góp phần vào việc tăng số lượng người
béo phì ngày nay (Prentice & Jebb, 1995).
Bệnh tim mạch: Một trong những tác động có hại dễ thấy nhất của rối loạn chức năng vận
động là các bệnh tim mạch. Từ 1953, nghiên cứu của Morris (1953) về các nhân viên làm việc tại
công ty xe bus London cho thấy các tài xế bị bệnh tim mạch gấp 2 người bán vé (có đi lại). Đây
là lần đầu tiên lợi ích của hoạt động vận động được chứng minh bằng tỉ lệ bệnh tim mạch. Các
nghiên cứu tiếp tục được tiến hành từ 1968 đến 1978, trên 16.882 người, Morris khẳng định tỉ lệ
bịnh tim mạch xảy ra ít hơn đối với nhóm có hoạt động TDTT, 3.1 % so với 6.9 % ở nhóm
khơng TDTT (1980). Một nghiên cứu trên 16.936 cựu sinh viên Harvard cho thấy: những người
có tham gia TDTT nhưng ít, 1 lần/tuần, có nguy cơ bị tim mạch cao hơn 64% so với nhóm tham
gia TDTT cường độ cao (Paffenbarger et al., 1978).
Phân tích các kết quả nghiên cứu tại Mỹ, nghiên cứu tất cả các yếu tố liên quan đến bịnh
tim mạch trên 12.866 người từ 35 đến 57 tuổi, cho thấy: tỉ lệ tử vong ở nhóm tập luyện TDTT
45phút/ngày thấp hơn đáng kể nhóm chỉ tập 15 phút / ngày (Leon & Connett, 1988). Nhiều

nghiên cứu khác cũng cho thấy rõ tập luyện TDTT sẽ làm giảm nguy cơ bịnh tật, đặc biệt là tim
mạch. Vận động thể chất có xu hướng làm giảm triglyceride và cholesterol (tác nhân gây nghẽn
động mạch), nâng cao độ nhạy insulin, nâng cao chức năng cơ tim, giúp máu lưu thông đến tim
dễ dàng và giúp hạn chế sự hình thành máu cục. phịng chống bịnh lỗng xương và tiểu đường,
làm giảm căng thẳng và lo âu.
Bệnh Parkinson: Một nghiên cứu của trường ĐH Harvard trên 48.000 người đàn ông, kết
quả cho thấy: hầu hết những ai vận động ít thì phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh và phát triển
bệnh kinh phong (Parkinson) 50% so với những người thường xuyên vận động.
Ung thư tuyến tiền liệt: Một nghiên cứu kéo dài 14 năm tại Đại học Harvard nhận thấy
rằng những người nào trên 65 tuổi thực hiện việc chạy bộ, đạp xe hay đi bơi ít nhất 3 lần/tuần thì
rủi ro mắc bệnh bị ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn 70% so với người không tập luyện TDTT.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 11


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Bệnh giảm trí nhớ: Một nghiên cứu ở ĐH Honolulu cho thấy: những người đi bộ ít hơn
400 mét/ngày hầu như có nguy cơ giảm trí nhớ gấp 2 lần so với người có vận động thường
xun.
3. Hình thành nhân cách, đặc biệt là đối với trẻ em.
Cái quý nhất của mỗi con người là sức khỏe và trí tuệ. Có sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện
cho trí tuệ phát triển được tốt hơn và ngược lại. TDTT giúp người tập có được sức khỏe tốt, từ đó
hiệu quả học tập, công tác và tham gia các hoạt động ở nhà trường, xã hội đạt hiệu quả cao hơn.
Khi tham gia các hoạt động TDTT đòi hỏi phải có tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần đồn kết và
trách nhiệm trước tập thể, tác phong nhanh nhẹn, sự cố gắng, tính thật thà, trung thực... Đây

chính là quá trình giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách trẻ em, giúp người tập có một nếp
sống lành mạnh, vui tươi, học tập và làm việc khoa học.
Trong quá trình tập luyện và thi đấu TDTT, nếu thất bại, người tập sẽ học được cách chấp
nhận thất bại và tìm cách vượt qua, có nghĩa là đang học cách để thành cơng. Ngồi ra, q trình
tập luyện thể thao sẽ tạo cho người tập phong cách riêng, khơng cịn mắc cở, rụt rè trước đám
đông, mạnh mẽ trong thể hiện năng lực... chính phong cách này sẽ góp phần giúp người tập tự tin
hơn trong cuộc sống.
4. Sức khỏe thể chất: Tổng kết nhiều nghiên cứu cho thấy tập luyện TDTT có thể cải
thiện hoạt động các hệ thống cơ xương, tuần hồn, hơ hấp, tiêu hóa…, nâng cao khả năng thích
nghi của cơ thể đối với mơi trường bên ngoài.
- Tập luyện TDTT thường xuyên, đúng khoa học sẽ làm cho hệ cơ xương phát triển hài hòa. Cơ
bắp nở nang, rắn chắc, tạo ra vẻ đẹp hình thể và dáng đi khỏe mạnh của con người. Sức mạnh,
sức nhanh, sức bền, năng lực mềm dẻo và linh hoạt của cơ tăng lên.
- Tập luyện TDTT với lượng vận động phù hợp có tác dụng kích thích tích cực đến sự phát triển
chiều dài và chu vi của xương, nói cách khác, có tác dụng kích thích phát triển chiều cao và chất
lượng xương đối với thiếu niên (Mc Ardle, 2000). Những môn như chạy, đi bộ, nâng tạ đều có
thể giúp phịng tránh lỗng xương khi lớn tuổi.
-Tập TDTT sẽ làm nhịp tim tăng lên, tăng cường sức co bóp của cơ tim, dung lượng máu trong
tim tăng lên, tỷ lệ hấp thụ oxy của cơ thể tăng lên. Sự tăng cường hoạt động của tim sẽ giúp làm
chậm q trình suy thối của tim, giảm tỷ lệ sơ cứng mạch máu, huyết áp cao.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 12


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM


- Tập TDTT giúp hơ hấp có phản xạ thở sâu, thở nhanh hơn, tăng hoạt động của các cơ hô hấp,
tăng lượng oxy cung cấp cho tế bào, giúp cơ thể khỏe mạnh hơn do khả năng chịu đựng sự mệt
mỏi tăng lên.
- Tập TDTT đều đặn có khả năng tăng hàm lượng hồng cầu trong máu, sức đề kháng cơ thể cũng
tăng lên, ít bệnh tật hơn.
- Tập TDTT sẽ cải thiện kỹ năng vận động như đi, đứng, chạy, nhảy, leo trèo… giúp ích rất
nhiều cho các vận động sinh hoạt, làm việc hàng ngày.
5. Làm tinh thần sảng khoái, giảm stress.
Trong cuộc sống hiện đại, với cường độ làm việc căng thẳng, nhiều áp lực trong cuộc
sống, ngày càng có nhiều người bị stress. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tập luyện TDTT là một
trong những biện pháp hữu hiệu để giải tỏa stress nhanh và hiệu quả nhất, đặc biệt trong chữa
bệnh trầm cảm. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tập luyện TDTT thường xuyên, kể cả chỉ 30 phút
mỗi ngày, cũng có tác dụng làm bớt nóng nảy, buồn rầu, người tập cảm thấy sảng khoái, lạc
quan, yêu đời hơn. Những thay đổi về tâm lý này có thể xảy ra do sự thay đổi của endorphin,
tăng hóc mơn senotonin sẽ cải thiện tâm trạng, giúp thư giãn, yêu đời hơn.
6. Cải thiện chức năng não bộ
TS John Ratey, một trong những nhà tâm lý hàng đầu của ĐH Y khoa Harvard, cho rằng:
chính tập luyện TDTT, chứ khơng phải dầu cá hay trị chơi sudoku, là một trong những phương
tiện hữu hiệu nhất giúp bạn ln lạc quan và tin tưởng vào trí tuệ của bản thân. Thường xuyên
tập luyện TDTT không chỉ tốt cho cơ thể mà còn giúp cải thiện não bộ, tăng cường khả năng học
hỏi, tăng trí nhớ, giảm stress, giảm sự lão hóa của não bộ. Kết quả nghiên cứu của Ratey cho
thấy: càng hào hứng với tập luyện thì não bộ càng làm việc hiệu quả. Quá trình luyện tập sẽ huy
động tối đa các hợp chất trong máu mà khi được vận chuyển tới não bộ sẽ hỗ trợ tối đa cho các tế
bào nơron. Một trong những hợp chất hóa này là protein BDNF, được xem là có tác động rất lớn
tới sự phát triển của não bộ.
Nghiên cứu này cũng cho thấy việc luyện tập có thể làm đảo ngược sự tác động của tuổi tác đối
với não bộ. Bước vào tuổi 40, thể tích não bộ sẽ giảm 5% sau từng thập kỷ. Điều này xảy ra do
các khớp thần kinh, vùng giữa các tế bào não có nhiệm vụ truyền các tín hiệu thần kinh, bị mịn
thậm chí là bị đứt. Các mao mạch dẫn truyền dưỡng chất cho não cũng sẽ co hẹp cùng với tuổi
tác, giảm lưu lượng máu tới não và kết quả là làm suy giảm các chức năng não bộ. Đây chính là

ngun nhân vì sao càng lớn tuổi càng hay quên. Tập luyện TDTT sẽ khích thích một loạt các

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 13


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

phản ứng có tính chất trẻ hóa và kích thích các tế bào não, bảo vệ não bộ khỏi những tác hại của
stress và lão hóa.
7. Kỹ năng sống
Quá trình tập luyện TDTT là quá trình làm việc, giao tiếp với một tập thể gồm huấn luyện
viên, giảng viên, đồng đội, người tập chung. Qua đó, người tập có thể học hỏi những kỹ năng
sống có giá trị như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm cũng như kỹ năng lãnh đạo. Sự tự
tin sẽ tăng lên khi giành chiến thắng và đạt được mục tiêu. Trong mơi trường TDTT, bạn sẽ có
cơ hội gặp gỡ, kết bạn với những người có cùng sở thích, có điều kiện có thêm nhiều bạn mới,
mở rộng mối quan hệ xã hội.

ĐI BỘ - HÌNH THỨC TẬP LUYỆN ĐƠN GIẢN VÀ PHỔ BIẾN NHẤT
Tổng kết nhiều cơng trình nghiên cứu cho thấy,
hoạt động thể chất phổ biến nhất là đi bộ có 8 lợi ích
sau:
1. Tốt cho tim: Chỉ cần đi bộ nhanh 30 phút/ngày
sẽ làm giảm hội chứng chuyển hóa (metabolic
syndrome) – là hội chứng dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh
tim mạch, tiểu đường và đột quỵ. Một nghiên cứu ở Anh
cho biết hoạt động thường xuyên (có thể kết hợp giữa đi bộ và đi xe đạp) có thể giảm 11% nguy

cơ mắc các bệnh tim mạch, đặc biệt là đối với phụ nữ).
2. Giảm nguy cơ mắc bịnh ung thư vú: Theo công bố trên tạp chí Hội y học Mỹ, đi bộ
vài giờ / tuần có ý nghĩ đặc biệt trong việc giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, đồng thời còn
giảm béo. Kết quả nghiên cứu trên 74.000 phụ nữ ở tuổi mãn kinh (50 -79 tuổi) cho thấy nguy cơ
mắc bịnh ung thư vú giảm đi 30% và thừa cân giảm 10 – 20% so với nhóm người có thể trạng
bình thường. Các nghiên cứu trên phụ nữ trẻ hơn cũng cho kết quả tương tự.
3. Giúp ngủ ngon: Theo tổ chức giấc ngủ Mỹ, đi bộ nhanh vào buổi chiều giúp người tập
có giấc ngủ ngon hơn.

BỘ MƠN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 14


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

4. Làm giảm sự đau nhức cơ thể: đặc biệt là môn đi bộ nhanh (Chiwalking – kết hợp
Thái cực quyền, yoga và pilates (một môn thể dục mềm dẻo). Vì người tập thư giãn có ý thức,
làm cơ thể trở nên cân bằng qua việc vận động cánh tay, giảm áp lực lên chân trong khi đi, kết
quả làm giảm đau nhức cơ thể.
5. Làm tinh thần sảng khoái, hạnh phúc hơn: Đi bộ làm giảm sự buồn chán, lo âu và
stresss. Theo các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Texas thì chỉ cần đi bộ 30 phút tâm trạng sẽ khá hơn.
Kết quả nghiên cứu của ĐH Temple (Mỹ) cho thấy đi bộ 90 phút, 5 lần/tuần có thể duy trì tâm
trạng tốt nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu: đi bộ giúp cơ thể sản sinh ra endorphin, tăng hóc mơn
senotonin sẽ cải thiện tâm trạng, giúp thư giãn, yêu đời hơn.
6. Giữ vóc dáng mảnh mai: Đi bộ 30 phút mỗi ngày có thể tránh tăng cân ở hầu hết
những người ít vận động tự nhiên. Ở phụ nữ, nếu đi bộ 60 phút/ngày, 5 lần / tuần sẽ tiêu hao
khoảng 1500 Kcal/ngày và giảm 11 kg thừa / năm.

7. Duy trì trí nhớ cho người cao tuổi: nhiều nghiên cứu ở nhóm người cao tuổi cho thấy
đi bộ thậm chí 45 phút/tuần sẽ giảm nguy cơ bịnh Alzheimer, trong khi đi bộ trí não được tập
luyện và trở nên minh mẫn hơn.
8. Bảo vệ xương: Khi đi bộ đòi hỏi sử dụng 95% hệ cơ, giúp hệ xương khỏe mạnh và rắn
chắc hơn.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 15


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

1.3. Chấn thương trong thể thao :

CHẤN THƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG TDTT
Trong những nǎm gần đây cùng với sự phát triển về
kinh tế xã hội, nhu cầu tập luyện thể thao của người dân ngày
một tǎng. Tập luyện TDTT mang lại lợi ích to lớn trong việc
duy trì, tǎng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật cho người
tập. Tuy nhiên cùng với những vai trị tích cực đó, tập luyện
TDTT kể cả TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao cũng
đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc đó là cịn nhiều trường
hợp chấn thương và tai nạn đáng tiếc xảy ra kể cả tai nạn chết
người trong quá trình luyện tập và thi đấu thể thao.
Khái niệm: Chấn thương trong thể dục thể thao (TDTT)
là những tổn thương về thực thể hoặc chức năng do tập luyện và thi đấu thể thao gây nên.
Vài con số về chấn thương và tại nạn trong TDTT

Các công ty bảo hiểm ở Pháp ước tính tai nạn trong hoạt động TDTT chiếm tỉ lệ khoảng
5% trong tổng số các tai nạn xảy ra tại Pháp. Hai cuộc điều tra toàn quốc về các tại nạn từ 1987 –
1995 cho thấy có vấn đề về tai nạn thể thao, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên (Garry,1999).
Hàng năm xảy ra 850.000 ca tai nạn thể thao ở thanh niên. Trong các ca tai nạn thể thao, bóng đá
chiếm 29%, bóng chuyền và bóng ném: 19%, bóng bầu dục: 6%, thể dục: 6%, trượt tuyết: 6%, xe
đạp:6%, điền kinh:4%. Tỉ lệ tai nạn cao ở các mơn bóng được cho rằng do là môn tập thể, số
lượng VĐV tham gia thi đấu đông, sự va chạm đối kháng là thường xuyên.
Một nghiên cứu tại Bỉ về 3.203 tại nạn thể thao thuộc chương trình “Hệ thống giám sát
tại nạn giải trí Châu Âu (EHLASS) cho thấy ¾ ca do té ngã (41%) hay bị va đập (36%)
(Vandercammen, 2003). Các môn TT có nguy cơ chấn thương cao là bóng tường, hốc cây, bóng
bầu dục,đua mơ tơ và bóng chuyền. Các mơn ít xảy ra chấn thương là quần vợt, bơi lội, xe đạp và
điền kinh. Các yếu tố khởi động không phù hợp, thiếu trang phục ấm, trang thiết bị dụng cụ
không phù hợp, thể lực không đảm bảo cũng góp phần làm tăng nguy cơ chấn thương. Ngồi ra,
áp lực tâm lý cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ chấn thương ở các VĐV chuyên nghiệp.
Nhiều nghiên cứu đưa ra những con số phí tổn vì chấn thương và tai nạn thể thao. Ở
Pháp, riêng năm 1995 phí tổn chăm sóc y tế cho tai nạn TT ước lượng khoảng 2.96 tỉ frances

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 16


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

(450 triệu bảng Anh) (Garry, 1999). Tại Úc, phí tổn cho chấn thương TT là 1.5 tỉ đô la Úc hàng
năm (Medibank, 2003). Các môn nguy hiểm nhất tại Úc là Bóng đá kiểu Mỹ (21.6%), đua xe đạp
(10%), bóng đá (8%), bóng bầu dục (7.8%) và cricket (7.3%).
Trong quá trình tập luyện, nếu người tập nỗ lực quá sức thì lại có hại cho sức khỏe. Tất

cả các nghiên cứu đều cho thấy tác động có lợi của TDTT đều biến mất khi tập luyện quá sức.
Đã có rất nhiều trường hợp người tập “sụp đổ” khi vượt quá giới hạn chịu đựng của cơ thể, như
trường hợp gần đây, VĐV Tom Simpson đã đột quỵ và chết trong cuộc đua Tour de france.
Nguyên nhân chính gây ra chấn thương.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước, các nhà
khoa học đã tổng kết một số nguyên nhân chính dẫn đến chấn thương trong tập luyện và thi đấu
thể thao sau:
1. Sai lầm trong phương pháp giảng dạy và huấn luyện:
Là nguyên nhân dẫn tới 30-60% trường hợp chấn thương ở các môn thể thao khác nhau.
Các chấn thương này liên quan đến việc chưa tuân thủ các nguyên tắc huấn luyện cơ bản như:
tập luyện chưa hợp lý, chưa thường xuyên và liên tục, tǎng lượng vận động, độ khó của động tác
đột ngột, cũng như chưa tuân thủ nguyên tắc đối xử cá biệt trong tập luyện TDTT. Nguyên nhân
này trong hoạt động thể thao cho mọi người còn cao hơn, bởi khơng phải ở đâu người tập cũng
có sự hướng dẫn của huấn luyện viên (HLV) hay hướng dẫn viên. Thí dụ, nhiều khi chỉ do khơng
khởi động hoặc khởi động khơng tốt cũng có thể dẫn đến những chấn thương đáng tiếc.
2. Thiếu sót trong tổ chức tập luyện và thi đấu
Là nguyên nhân dẫn tới 4-8% các trường hợp chấn thương. Những chấn thương này xảy
ra là do việc bố trí người tập bất hợp lý, khơng đảm bảo kỷ luật trật tự, duy trì tổ chức tập luyện
lộn xộn, mật độ người tập quá đông, sự phối hợp tập luyện giữa các nhóm vận động viên (VĐV)
có trình độ, đẳng cấp, hạng cân thi đấu không đều, tổ chức bảo hiểm không tốt, hoặc tổ chức tập
luyện và thi đấu khơng có mặt của HLV và giáo viên TDTT.
3. Không đáp ứng đầy đủ yêu cầu vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện của buổi tập.
Nguyên nhân này dẫn đến tới 25% các ca chấn thương. Cụ thể là chất lượng trang thiết bị
dụng cụ, sân bãi thi đấu và trang phục cá nhân kém, các phương tiện bảo vệ, bảo hiểm không có,
thiếu hoặc khơng đúng tiêu chuẩn. Ngun nhân này rất dễ nhận thấy khi ta quan sát bất kỳ một
sân chơi nào, bởi chúng ta còn thiếu hiểu biết hoặc do tâm lý coi thường hay tùy tiện trong việc
chọn địa điểm và các phương tiện, giày dép và trang bị tập luyện.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN


Trang 17


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

4. Điều kiện khí hậu và điều kiện vệ sinh không phù hợp:
Là nguyên nhân gây ra 2-6% các trường hợp chấn thương. Thí dụ như: sân bãi, dụng cụ
thi đấu tập luyện không được vệ sinh sạch sẽ, ánh sáng khơng đảm bảo (tối hoặc chói sáng),
thơng gió kém, nhiệt độ của phịng tập, mơi trường tập khơng đúng yêu cầu vệ sinh, độ ẩm môi
trường tập quá cao...
5. Hành vi không đúng đắn của người tập.
Là nguyên nhân gây ra 5-15% các trường hợp chấn thương. Đó là sự vội vàng, thiếu tập
trung chú ý, ý thức tổ chức kỷ luật kém hoặc phạm luật bằng các động tác bị nghiêm cấm, đặc
biệt trong các môn đối kháng trực tiếp.
6. Vi phạm các nguyên tắc kiểm tra y học.
Dẫn đến 2 - 10% các trường hợp chấn thương. Đó là các trường hợp cho phép tập luyện
và thi đấu thể thao không qua kiểm tra y học, kiểm tra sức khỏe, không thực hiện chỉ dẫn của bác
sĩ. Đây là một trong những khâu rất yếu của y học thể thao nước ta hiện nay. Hiện nay, nước ta
chưa có hệ thống y học thể thao rộng khắp để có thể tư vấn và hướng dẫn cho mọi người là mình
có được phép tập luyện hay khơng hoặc tập luyện ở mức độ nào thì có lợi cho sức khỏe của mỗi
người.
7. Tham gia tập luyện và thi đấu thể thao trong tình trạng chuẩn bị thể lực chưa tốt, chưa
đáp ứng được yêu cầu thực hiện các động tác khó, hoặc có biểu hiện rối loạn về khả nǎng định
hình động lực trong khơng gian, giảm sút các phản ứng bảo vệ và độ tập trung chú ý, có thể do
quá cǎng thẳng hoặc tập luyện quá sức cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến nguy cơ
chấn thương cao.
Các loại chấn thương thường gặp trong TDTT:
1. Trầy, xây sát da.

2. Vết thương: rách da và tổ chức dưới da (cơ, mạch máu), chảy máu.
3. Vết đụng dập: Do va chạm gây nên, tuy không rách da nhưng bị chảy máu trong do đứt
các mao mạch, nhanh chóng bị sưng tấy và bầm tím, tuy có đau, nhưng vẫn cử động được cơ,
khớp.
4. Bong gân: Là tổn thương thường gặp nhất đặc biệt là khớp cổ chân, khớp gối, cổ tay
và ngón tay. Khi có tác động mạnh, khớp sẽ bị vặn mạnh, khe khớp bị mở rộng, các dây chằng bị
kéo căng, giãn mạnh hoặc đứt hẳn. Đồng thời làm tổn thương bao khớp, gây chảy máu trong
nhiều, cảm giác rất đau.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 18


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

5. Tổn thương cơ (giãn, rách hoặc đứt cơ): Khi cơ co mạnh đột ngột có thể gây rách hoặc
đứt cơ, cảm giác đau dữ dội, chảy máu trong nhiều tạo thành các vết bầm tím.
6. Gãy xương: Là chấn thương nặng trong thể thao, có thể phân loại: gãy xương kín, gãy
xương hở, gãy hồn tồn và gãy xương khơng hồn tồn.
7. Sai khớp (trật khớp): là sự sai lệch các diện khớp, thay đổi vị trí giải phẫu của khớp do
đầu xương rời khỏi ổ khớp.
8. Chấn thương cột sống: Ít xảy ra trong TDTT, nhưng khi xảy ra thì gây hậu quả rất
nghiêm trọng.
9. Chấn thương sọ não: Thường gặp trong sinh hoạt cũng như trong hoạt động TDTT,
thường ở mức độ nhẹ, tỷ lệ chấn thương nặng chỉ chiếm khoảng 2% ở các môn Thể dục dụng cụ,
nhảy cầu, võ thuật, bóng đá.
Sơ cứu

Tùy theo tình hình chấn thương sẽ có những biện pháp sơ cứu khác nhau. Với các chấn
thương trầy da, chảy máu… cần làm sạch vết thương, sát trùng và cầm máu. Khi vết thương chảy
máu nhiều và nghiêm trọng, cần đưa đi bệnh viện kịp thời. Đối với các chấn thương nghiêm
trọng như: gãy xương hở, chấn thương cột sống, chấn thương sọ não… cần cấm không cho ai
đụng đến bệnh nhân, giữ nguyên tư thế, gọi cấp cứu càng sớm càng tốt.
Với chấn thương phần mềm như đụng dập, bong gân, tổn thương cơ, sai khớp… việc sơ
cứu ban đầu đúng phương pháp là rất cần thiết, giúp chỗ tổn thương ổn định và mau lành. Sử
dụng phương pháp RICE (Rest: ngưng tập luyện; Ice: chườm đá, Compression: băng ép cố định
chỗ chấn thương và Elevation: nâng cao chỗ chấn thương). Thực hiện bốn bước sau đây ngay sau
khi chấn thương xảy ra:
- Ngưng tập luyện: ngay sau khi bị chấn thương, cần ngưng ngay tập luyện hoặc thi đấu.
- Chườm lạnh: Có tác dụng làm co các mao mạch, mạch máu bị tổn thương, làm giảm phù nề do
lượng máu chảy ra giảm. Dùng túi đá ướp chườm lạnh ngay tại chỗ 10-15 phút, mỗi lần cách
nhau khoảng 1 giờ, lặp lại nhiều lần trong ngày. Có thể chườm lạnh trong 1-3 ngày đầu sau khi
bị thương. Không nên chườm một lần quá lâu hoặc chườm lạnh trực tiếp vì da sẽ bị bỏng.
- Băng ép: Dùng băng thun quấn ép vùng tổn thương nhằm cố định khớp, giảm chảy máu, sưng
bầm và đau nhức.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 19


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

- Kê cao vùng bị thương: Làm giảm sưng, đau. Rất hiệu quả khi vùng bị chấn thương được nâng
cao hơn độ cao của tim. Thí dụ, khi bị chấn thương gối hay cổ chân, khi nằm nên kê cao gối hay
cổ chân cao lên.

Lưu ý: Khi bị chấn thương, có thể dùng thuốc giảm đau, nhưng tuyệt đối khơng nên xoa
các loại dầu nóng. Nhiều người làm vậy vì lầm tưởng loại thuốc mà các vận động viên được xịt
khi bị chấn thương là dầu nóng. Thực ra, đó là một loại khí lạnh dễ bốc hơi, có công dụng giống
như chườm lạnh. Hoặc theo quan niệm xưa, bị đau thì xức dầu nóng. Khi mới bị chấn thương,
khơng được chườm nóng hoặc xoa bóp. Việc chườm nóng, xức dầu nóng hay xoa bóp sẽ làm tổn
thương nghiêm trọng hơn, các mao mạch vùng chấn thương nở lớn khiến máu chảy nhiều hơn,
gây phù nề nhiều hơn.
Thông thường, nếu tổn thương nhẹ, bệnh nhân sẽ hoàn toàn phục hồi sau khi điều trị
được 2-3 ngày. Nếu là chấn thương nặng hoặc đã qua sơ cứu mà hoạt động vẫn cịn khó khăn,
nên đến khám ở các bệnh việc chuyên khoa để được điều trị càng sớm càng tốt.
Giải pháp phịng ngừa

Để hạn chế và giảm thiểu tình trạng này, người tập TDTT cần lưu ý thực hiện một số giải
pháp sau:
1. Phải kiểm tra sức khỏe để phát hiện bệnh tật trước khi tham gia tập luyện TDTT.
2. Lựa chọn môn thể thao phù hợp với sức khỏe bản thân.
3. Tuân thủ hướng dẫn của HLV, Giáo viên về tổ chức, nguyên tắc và phương pháp tập
luyện trong quá trình tập luyện và thi đấu.
4. Tuân thủ các quy định về trang phục, giầy vớ, dụng cụ và vệ sinh tập luyện.
5. Luôn khởi động và thả lỏng đúng và đủ.
6. Không mạo hiểm khi không cần thiết với các động tác quá khó hay các dụng cụ thiết bị
tập luyện lạ.
7. Nêu cao tinh thần trung thực cao thượng và fair play trong thi đấu thể thao.
8. Tuân thủ chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi và hồi phục hợp lý khi tham gia tập luyện và
thi đấu thể thao.
9. Nắm kiến thức về nguyên nhân, biện pháp sơ cứu các chấn thương trong hoạt động
TDTT.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN


Trang 20


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

II. LÝ THUYẾT CHUN MƠN :
2.1.Nguồn gốc của mơn Võ Thuật Cổ Truyền :
Con người nguyên thủy từ thời Cổ Ðại, sinh sống dựa trên thu lượm, nhặt hái các thức ăn
có trong ở thiên nhiên và săn bắt thú rừng là chủ yếu. Những động tác, cách thức rình rập, rượt
đuổi đánh giết dần trở thành quen thuộc hàng ngày.
Tiếp đến là những trường hợp phải xử trí trong quan hệ giữa người và vật trong săn bắn,
giữa người và người để tự vệ, để chiến đấu gìn giữ các vật thực do thành quả lao động, hoặc
quyền sở hữu miếng đất, khoảnh rừng đang sinh sống. Tất cả các động tác, các cách thế đó, từ
đơn giản đến phức tạp, đã là cội nguồn của các đòn thế, bài bản của các trường phái võ thuật trên
thế giới.
Qua quá trình gian khổ dựng nước và giữ nước, từ thời khai nguyên dân tộc và kháng
chiến chống quân xâm lược, giữ yên bờ cõi, bảo vệ sự toàn vẹn lảnh thổ. Người dân Việt trưởng
thành từ vùng đất châu thổ sơng Hồng đã tự hình thành, phát triển và đúc kết được những kinh
nghiệm quý báu về kỷ thuật chiến đấu cá nhân và những cách thức, sách lược trong vận dụng và
huy động lực lượng quân sự vào cuộc chiến đấu tập thể "chiến tranh".
Kỹ thuật chiến đấu cá nhân, cơ sở cho một đội quân tự vệ quốc gia đó chính là nguồn gốc
sâu xa,đích thực của một nền võ học cổ truyền phong phú và đa dạng của đất nước Việt Nam anh
hùng, bất khuất. Ðặc thù của võ học cổ truyền Việt Nam.
Thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu
hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt
Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ
ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm
(Kungfu)...

Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: ba võ sư được mệnh
danh là "Tam Nhựt" gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có cơng lớn trong việc khôi phục truyền
thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngơ
Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Tổng Cục Quyền thuật Việt Nam. Ba võ sư có cơng lớn trong giai đọan này là: Trương
Thanh Đăng ( sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương ), Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai
(được mệnh danh là "Tam Nguyệt") tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 21


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngơ Đình Diệm lại tiếp
tục cấm các đồn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng
tham gia đảo chính Ngơ Đình Diệm thất bại đồn võ sĩ Judo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm
1964, võ thuật được tiếp tục họat động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật
Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái
Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Cam bốt... Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ
vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có cơng đào tạo
nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho
màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ
Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xn Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha
Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật
gọi bốn võ sư này là "Tứ Tú" (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp "Tam Nhựt" (ba mặt trời) và "Tam
Nguyệt" (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt
Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Bắc Kinh và quân
đội Khmer Đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật,
trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn
sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đồn võ thuật hình thành để quản lý phong trào
võ thuật, trong đó có Liên đồn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành ngày 19 tháng 8 năm
1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà
nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo,
Judo, Karatedo, Wushu, Pencat Silat, Boxing, Vovinam...
Trong khi đó, ở nước ngồi, nhiều người Việt đã âm thầm phát triển võ thuật Việt Nam
dưới nhiều tên gọi khác nhau, như: Vivodo (Australia), Võ Việt, Võ Thuật (Nguyễn Văn Trung,
Pháp quốc), Võ Việt Nam (Nguyễn Đức Mộc, Pháp quốc),Lâm sơn Võ Đạo, Quán Khí Đạo
(Phạm Xn Tịng, Pháp quốc), Thanh Long (Nguyen Dan Phu)...
Một nhược điểm lớn nhất của võ thuật cổ truyền Việt Nam là mỗi một võ sư đều muốn
trở thành chưởng môn nhân của một môn phái độc lập, mà quên mất đi nhiệm vụ cấp thiết là
cùng nhau xây dựng một "thương hiệu" có uy tín cho võ thuật Việt Nam, để sánh vai cùng các
môn võ thuật khác trong giới võ lâm quốc tế, điều này có nghĩa dù là võ đường nào đi nữa nhưng

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 22


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

nên cùng nhau thống nhất một cội nguồn là cùng một "mơn phái võ thuật Việt Nam" đó là "Võ
Thuật Cổ Truyền Việt Nam".


2.2. Sự hình thành và phát triển mơn Võ Thuật Cổ Truyền :
ĐẶC ĐIỂM CHUNG :
Có lẽ khơng một người dân Việt nào “chưa nhìn thấy” hoặc “chưa nghe nói” đến Võ cổ truyền
của dân tộc mình. Bởi nó gắn liền với cuộc sống và đi theo suốt chiều dài của lịch sử. Tuy có lúc
thăng, lúc trầm nhưng nó đã tồn tại và thấm sâu vào máu thịt, vào tư tưởng, vào hành động của
mọi người, là một mảng văn hóa tinh thần đầy tự hào của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Lịch sử đã ghi chép, chứng minh biết bao gương hy sinh dũng cảm đã nêu cao tinh thần thượng
võ, biết vận dụng tài năng, trí tuệ, đạo đức, lối sống để xây dựng mơn võ thành triết lý sống cho
dân tộc mình.
Từ khi lồi người thơng qua lao động cần cù, sáng tạo cùng với sự tồn tại và phát triển, sống
mưu sinh thoát hiểm chống lại thú dữ, thiên tai, địch họa, những động tác luyện tập, các công cụ
sử dụng đã tạo nên những bài võ đích thực và dần hồn chỉnh theo thời gian.
Soi rọi vào cơng lao, trí tuệ của tiền nhân chúng ta thấy chạnh lòng và vô cùng cảm phục, để tiếp
bước các thế hệ hiện tại và sau này phải gìn giữ phát huy, tài bồi cho nền võ học nước nhà thêm
cường thịnh vì mỗi dân tộc trên thế giới đều có những bản sắc, đặc thù của dân tộc mình, trong
đó có những môn truyền thống gắn liền với lịch sử, với lao động, với văn hóa lâu đời.
Dân tộc ta, đất nước ta, trải qua các thời kỳ giữ nước và dựng nước, mơn Võ cổ truyền đã có q
trình hình thành, phát triển, được các thế hệ tiếp tục truyền bá, học tập tài bồi. Nó là món ăn tinh
thần, là giấc ngủ n bình, là sự sống cịn, là sự cảm thơng chia sẻ thì hiển nhiên là của quốc gia
dân tộc, khơng có gì để luận bàn mà phải trân trọng bảo lưu với niềm tự hào đầy kiêu hãnh. Có
điều vốn quý phải được mài dũa như thế nào? dùng vào thời điểm thích hợp để có hiệu quả cao
nhất. Dân tộc ta vốn sống có hiếu đạo, làm việc trượng nghĩa, càng thấm nhuần đạo lý: Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Do vậy, Võ cổ truyền Việt Nam chính là của người Việt Nam.
“Việc tu dưỡng, rèn luyện võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con
người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến Chân - Thiện - Mỹ trong cuộc sống.
Võ là văn hóa, vì võ dạy cho con người biết ni dưỡng nhân tính, sống theo đạo lý làm người
trong một tôn chỉ giáo dục và rèn luyện nhân cách cao xa. Chỉ có những ai khơng đi hết trọn con
đường mới tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch.”

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN


Trang 23


ĐẠI HỌC TDTT TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Để tổng kết những hoạt động của môn võ cho cụ thể, rõ ràng hơn sau chặn đường 30 năm kể từ
ngày đất nước thống nhất (1975 – 2008) có thể chia làm 3 giai đoạn:
A. GIAI ĐOẠN I :
1975 – 1985: Sau ngày đất nước thống nhất, mọi hoạt động võ thuật dường như rơi vào sự im
lặng, nhưng thực tế ln sục sơi với khí thế mới ở một số Tỉnh, Thành như: TP. Hồ Chí Minh,
Khánh Hịa, Phú n, Bình Định, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Huế, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội,
Hải Phịng, Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Cà Mau v.v… đã có những hoạt động mang tính
tập hợp lại như: Tham gia hội diễn, huấn luyện nhiều môn võ trong cùng một câu lạc bộ. Các
phịng VHTT và các trung tâm bước đầu có sự quản lý chặt chẽ có kế hoạch phổ cập cơ bản, đã
có bộ mơn theo dõi các hoạt động và hướng dẫn phong trào.
Các võ sư, HLV đều mong ước được học tập, mở lớp huấn luyện nhằm truyền bá và đáp ứng các
yêu cầu thực tế của xã hội và cả sự khao khát yêu mến võ thuật của quần chúng.
B. GIAI ĐOẠN II :
Đến năm 1987 : Tổng cục TDTT cho phép các môn võ hoạt động chính thức. Thêm một
bước ngoặc lịch sử ra đời, đánh dấu một thời kỳ hưng thịnh mới, một nền võ học hoạt động theo
chiều hướng đồn kết, tập hợp trí tuệ, sức lực để xây dựng nền tảng võ học, võ thuật cho mọi
người.
Các ban chuyên môn ra đời nhằm bước đầu ổn định tổ chức, xây dựng chương trình kế
hoạch và định hướng phát triển – các cuộc hội diễn toàn Tỉnh, Thành được tổ chức, các võ phái
hăng say tập luyện, biểu diễn, thi tài cống hiến cho quần chúng những nét đẹp võ thuật. Bởi sự
ganh đua có tổ chức có mục đích rõ ràng là nhằm đáp ứng yêu cầu hưởng thụ của nhân dân, bảo
lưu phát triển, nâng tầm nền võ học tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dân tộc. Có lẽ chưa bao giờ

tâm tư giới võ mở rộng và mong muốn có những hoạt động mang tính đặc thù, có sự đồn kết
nhất trí cao như trong giai đoạn này, họ có rất nhiều kỳ vọng ước mơ nhưng tựu trung phải có
được hệ thống huấn luyện thống nhất, có quy chế hoạt động, có tổ chức vững mạnh mới thực
hiện được một nền võ thuật võ học đúng tầm trong chế độ xã hội mới Xã Hội Chủ Nghĩa.
Từ những thực tế đó, năm 1989 các Hội võ cổ truyền được thành lập. Ở một số địa
phương có phong trào võ sớm phát triển nhằm tăng cường nhân lực, có đủ trình độ, điều kiện để
tiến lên theo định hướng.
Đến năm 1991, Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam ra đời, đây là một thời điểm quan
trọng để đánh giá, rút kinh nghiệm tổng kết các hoạt động võ thuật tại các Tỉnh, Thành phố nhằm

BỘ MÔN VÕ CỔ TRUYỀN

Trang 24


×