Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Tiểu luận LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.49 KB, 29 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ QUẢNG NINH

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ GIẢI
PHÁP KIỀM CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Bảo Ngọc
Mã SV:2014815030
Lớp: Anh 13– KTKT – K59
Giảng viên hướng dẫn : Thạc Sĩ Hoàng Văn Vinh

Quảng Ninh, 6/2021


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................4
CHƯƠNG I:.......................................................................................................................5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM
PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ..........................................................................5
I. Khái niệm về lạm phát............................................................................................5
1) Lạm phát là gì?.....................................................................................................5
2) Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.....................5
3) Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh...................................................5
4) Nguyên nhân gây lạm phát..................................................................................6
5) Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế...........................................6
II. Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại....................................6
1) Quan niệm thứ nhất.............................................................................................7
2) Quan niệm thứ hai................................................................................................7
3) Quan niệm thứ ba.................................................................................................8
CHƯƠNG II:.....................................................................................................................9


THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM................................................................................9
I. Nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát....................................................................9
1) Lạm phát do cầu kéo............................................................................................9
2) Lạm phát do chi phí đẩy......................................................................................9
3) Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung.....10
4) Những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác...........................................10
II. Diễn biến tình trạng lạm phát ở nước ta hiện nay..............................................11
III. Nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta..........................................................12
1) Lạm phát do yếu tố tiền tệ.................................................................................12
2) Lạm phát do cầu kéo..........................................................................................13
3) Lạm phát do chi phí đẩy....................................................................................14
4) Một số nguyên nhân khác..................................................................................15
IV.

Tác động của lạm phát đến mọi mặt đời sống.................................................16

1) Thị trường tài chính...........................................................................................16
2) Doanh nghiệp......................................................................................................16
3) Nơng dân, người lao động nghèo.......................................................................17
4) Sinh viên..............................................................................................................17


CHƯƠNG III:.................................................................................................................18
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA CHÍNH PHỦ.......................18
I. Cách thức áp dụng để kiếm chề: giảm thuế nhập khẩu , giãn nợ, bù giá, ... cho
các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, …........18
II. Các biện pháp thắt chặt tiền tệ.............................................................................18
III. Chính phủ ban hành nghị quyết số 11/NQ – CP..............................................19
IV.


Một số biện pháp khác.........................................................................................20

KẾT LUẬN.....................................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................22


LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề của kinh tế học vĩ
mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và cơng chúng. Lạm phát đã
được đề cập rất nhiều trong các cơng trình nghiên cứu của các nhà kinh tế.
Để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cần phải
động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh cơng nghiệp hố,
hiện đại hố đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức độ thấp đó là những mục tiêu
hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Khơng có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi
có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã được
các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của nhiều
cuộc tranh luận về chính sách.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên
cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh
tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. Chúng ta phải tìm hiểu xem lạm phát
là gì? Do đâu mà có lạm phát? Tại sao người ta lại quan tâm đến lạm phát?
Bài viết này sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng chứng thực
nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như đưa
ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới.


CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MỐI

QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
I.

Khái niệm về lạm phát
1) Lạm phát là gì?
- Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức gia tăng lên được gọi là
lạm phát, khi mức giá giảm xuống thì được gọi là giảm phát. Vậy, lạm phát là
sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.
- Cố định lạm phát ở mức thấp là mơi trường kinh tế vĩ mơ thuận lợi để khuyến
khích tiết kiệm, mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cả lạm phát
quá cao và lạm phát quá thấp đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh
tế.

2) Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền kinh tế đang tăng
trưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối mang tính cơ cấu. Các nhà
cơ cấu tin rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đánh đổi
lẫn nhau. Những nỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm tăng thất
nghiệp và gây ra tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng trưởng
kinh tế. Một xã hội dành cho ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạm
phát đi kèm với nó.

3) Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh
- Để phản ánh tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP – một
chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế
- Để phản ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế, người ta thiết lập mơ hình tăng
trưởng kinh tế có tên là: “ mơ hình solow ”. Mơ hình solow chỉ ra ảnh hưởng
của tiết kiệm, tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo
thời gian của sản lượng. Mơ hình cịn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự

khác biệt lớn về mức sống giữa các nước.


- Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc nào dương mà trong thời kì
khủng hoảng, nền kinh tế suy thối thì mức tăng trưởng kinh tế đạt giá trị âm.

4)
-

Nguyên nhân gây lạm phát
Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Chi tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát
Thâm hụt ngân sách và lạm phát
Lạm phát theo tỷ giá hối đoái

5) Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế
trong nền kinh tế. Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng
nó lại là hai vấn đề ln tồn tại song song
- Trong thực tế, không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không tránh
khỏi lạm phát. Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua
các cuộc khủng hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng những quy mô khác nhau.
Tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương
danh nghĩa của các cơng nhân khơng tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ
giảm đi. Để tồn tại các công nhân sẽ đấu tranh, bãi cơng địi tăng lương và cho
sản xuất trì trệ, đình đốn khiến cho các nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ
tăng trưởng kinh tế giảm. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, suy thối sẽ làm thâm
hụt ngân sách và đó là điều kiện, nguyên nhân gây ra lạm phát.
- Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất nhanh, khi đó
người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham nhũng tăng cao, nạn

bn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế và
thuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước bị tổn hại
nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm phát
cao.

II.

Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại
- Trong lịch sử, tình trạng làm phát được coi là xảy ra khi nào khối tiền tệ lưu
hành quá thưa đối với nhu cầu của nền kinh tế. Để xét đốn tình trạng đó, các


nhà kinh tế đã có ba quan niệm kế tiếp nhau trong thời gian. Ba quan niệm nay
phù hợp với trình độ hiểu biết càng ngày cao hơn về mối tương quan giữa tiền
tệ và kinh tế.

1) Quan niệm thứ nhất
- Cho rằng có lạm phát khi số tiền lưu hành so với trữ kim của ngân hàng phát
hành quá nhiều. Tuy quan niệm ngày nay đã lỗi thời, chúng ta cần xem xét nó.
Vào nửa sau thế kỉ 19, khi chế độ kim bản vị thỉnh hàng, quan niệm lạm phát
này là một quan niệm thông thường.
- Quan niệm này quá đơn giản, bởi vì tỷ lệ bảo đảm là một tiêu chuẩn quá cứng
rắn. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tơn
trọng mà lạm phát vẫn xảy ra, bởi vì giá cả mọi thứ đều lên cao, hàng hoá khan
hiếm, …

2) Quan niệm thứ hai
- Là một quan niệm đã được phổ biến sau cuộc thế chiến thứ nhất kể từ cuộc
khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, quan niệm này có thể coi là một quan niệm
tĩnh, về lạm phát, người ta so sánh hai khối: khối hàng hoá và dịch vụ có thể

đem bán trên thị trường và khối tiền tệ mà nhân dân có thể sử dụng mua hàng.
- Nếu hai khối này có giá trị ngang nhau, tính theo mức giá cả hiện hữu, thì
khơng có lạm phát hay giảm phát. Nếu vì lý do gì đó khối tiền tệ tăng thêm
trong khi khối hàng hố và dịch vụ vẫn không thay đổi, tức là áp lực lạm phát
xuất hiện. Khối tiền tệ càng tăng thêm thì áp lực lạm phát ngày càng nặng hơn,
tình trạng này khiến cho giá mọi hàng hoá, dịch vụ đều tăng cao. Nếu giá đó
tiếp tục tăng thì dân cư lại cần nhiều tiền hơn để sản xuất, trao đổi, … Do đó
ngân hàng lại phát hàng thêm tiền, các nhà kinh tế gọi là nạn “lạm phát tự
dưỡng”.
- Quan niệm tĩnh về lạm phát tuy giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng
không cho biết rõ nguyên nhân của lạm phát. Chính vì thế mà từ sau cuộc
khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã xuất hiện một quan niệm mới có tính cách
động về lạm phát.


3) Quan niệm thứ ba
- Trong sự tung thêm tiền vào bộ máy kinh tế, cần phân biệt 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Trong đó nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng. Trong giai đoạn
này, sự tung tiền không hề đưa tới lạm phát, nhưng tới một lúc nào đó sự tắc nghẽn
có thể xuất hiện trong một vài lĩnh vực hay trong tất cả các lĩnh vực. Lúc đó người
ta bước vào giai đoạn hai, tức là giai đoạn nền kinh tế đã toàn dụng.
+ Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này, nếu người ta tiếp tục tung thêm tiền vào bộ
máy kinh tế tất nhiên khối hàng hố và dịch vụ sẽ khơng sao tăng bằng khối tiền
tệ. Nạn lạm phát lúc đó xảy ra và dấu hiệu của nó là sự tăng gia của mọi giá cả, giá
trị của tiền ngày càng giảm bớt.


CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM
PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

I.

Nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát
- Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại, mọi
nền kinh tế tiền tệ. Chừng nào cịn tồn tại nền kinh tế tiền tệ, thì cịn lạm phát,
người ta chỉ có thể kiềm chế mức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển
nền kinh tế, mà ít gây ra những hậu quả tai hại. Từ đó, có thể phân định nhiều
mức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, từ lạm phát
“nước kiệu” (chung quanh 10%) tới lạm phát “phi mã”, thậm chí là siêu tốc, tức
là tình trạng bùng nổ giá cả hồn tồn khơng thể kiểm soát được, trong trường
hợp này dấu hiệu tiền tệ hầu như khơng cịn ý nghĩa nữa.

1) Lạm phát do cầu kéo
- Khi nền kinh tế đạt tới hay vượt quá sản lượng tiềm năng, việc tăng tổng mức
cầu dẫn tới lạm phát được gọi là lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu.
- Số cầu tăng là do tổng khối lượng tiền lưu hàng (M) tăng hoặc do tốc độ lưu
thông tiền tệ (V) tăng. số lượng tiền tệ tăng do nhiều yếu tố, trong đó quan
trọng hơn hết và thường xảy ra hơn hết là do thiếu hụt ngân sách nhà nước.
Thiếu hụt này được tài trợ bằng nhiều cách: phát hành trái phiếu, vay mượn
ở nước ngoài và nay mượn ở ngân hàng trung ương.

2) Lạm phát do chi phí đẩy
- Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các
yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, chúng ta gọi đó là lạm phát do chi
phí đẩy. vấn đề đặt ra là tại sao chi phí tăng lên? Nhiều nhà kinh tế cho rằng
tiền lương tăng lên là một nguyên nhân đẩy chi phí tăng lên khi tốc độ tăng
tiền ltrong cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Một số nhà kinh tế cho


rằng việc đẩy chi phí tiền ltrong tăng lên là do các cơng đồn gây sức ép. Tuy

nhiên một số nhà kinh tế khác lại cho rằng chính cơng đồn đã đóng vai trị
quan trọng trong việc làm giảm tốc độ tăng của lạm phát và giữ cho lạm phát
không giảm xuống quá nhanh vì các họp đồng ltrong của cơng đồn thường
là dài hạn và khó thay đổi. Ngồi ra, các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu,
nguyên vật liệu cơ bản như dầu mỏ, sắt thép... cũng làm cho giá cả của nó
tăng lên và đẩy chi phí sản xuất tăng lên, dẫn đến sức ép đòi tăng giá bán.

3) Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung
- Khi nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng, nghĩa là các yếu tố sản xuất: nhân
cơng, ngun vật liệu, máy móc thiết bị... gần như đã được khai thác tối ưu.
Khi đó, mức cung hàng hóa và dịch vụ trên thị trường có khuynh hướng giảm
dần. Bên cạnh đó, tình trạng tắt nghẽn của thị trường cũng làm giới hạn mức
cung hàng hóa. Đó là tình trạng mất cân đối các yếu tố sản xuất giữa các khu
vực nhưng thị trường lại không tạo ra cơ chế điều phối có hiệu quả, khiến cho
khối lượng hàng hóa khơng đáp ứng tốt nhu cầu tăng lên của thị trường.
Hàng hóa khan hiếm làm cho giá cả tăng lên, đó là hậu quả tất yếu. Cũng
cần lưu ý rằng, ngay lúc nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng nhưng nếu cơ
cấu kinh tế tổ chức bất họp lý thì cũng khơng cho phép tạo ra khối lượng hàng
hóa và dịch vụ đầy đủ để thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường.
Trường họp này cũng làm nảy sinh hiện tượng lạm phát.

4) Những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác
* Nguyên nhân chủ quan: chính sách quản lý kinh tế khơng phù họp của nhà
nước như chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất... làm cho nền kinh tế
quốc dân bị mất cân đối, kinh tế tăng trưởng chậm ảnh hưởng đến nền tài
chính quốc gia. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì điều tất yếu là
nhà nước phải tăng chỉ số phát hành tiền. Đặc biệt đối với một số quốc gia,
trong những điều kiện nhất định, nhà nước chủ trương dùng lạm phát như một



cơng cụ để thực thi chính sách phát triển kinh tế.
* Nguyên nhân khách quan: thiên tai, chiến tranh, tình hình biến động của
thị trường nguyên vật liệu, nhiên liệu trên thế giới...

II.

Diễn biến tình trạng lạm phát ở nước ta hiện nay
- Nền kinh tế Việt Nam hiện đang đứng trước nguy cơ lạm phát phi mã, với
tỷ lệ thuộc hàng cao nhất trong khu vực. Bốn tháng liền, chỉ số CPI ở Việt
Nam đều ở mức hai chữ số. Tỷ lệ lạm phát tháng Hai lên tới 12,31%, cao nhất
trong hai năm nay. So với tháng Một, chỉ số CPI vào tháng Hai tăng 2,1%,
mức tăng nhanh nhất tính theo từng tháng kể từ tháng Sáu năm 2008. Vào
tháng Một, chỉ số CPI tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước, và đã tăng
1,74% so với tháng 12 năm 2010. Tính từ đầu năm, biểu đồ CPI chưa hề ghi
nhận con số âm nào.
-

Nhìn lại diễn biến CPI 6 tháng đầu năm 2011, có 2 điểm đáng lưu ý: một là
CPI không giảm hoặc tăng thấp ở tháng sau Tết Nguyên đán mà lên đến đỉnh
của nửa đầu năm; hai là CPI giảm tốc rất nhanh, Cùng lúc Chính phủ “bung
ra” một loạt chính sách điều chỉnh giá cả điện, xăng dầu, than… Sau giai
đoạn dài kìm nén, CPI tháng 4-2011 tăng đột biến và cao hơn cả tháng Tết
nguyên đán trước đó. Tuy nhiên, ngay lập tức các giải pháp thắt chặt tiền tệ,
tài khóa đã được áp dụng để hỗ trợ kiểm soát lạm phát. CPI tháng 9 chỉ tăng
0.82% mức thấp nhất trong 12 tháng qua kể từ 9/2010. Điều này phát đi tín
hiệu cho thấy chính sách thắt chặt của chính phủ đã phát huy tác dụng.

- Trong các nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, chỉ có giá bưu chính viễn thơng
do cơng nghệ tiến bộ nhanh, có cạnh tranh mạnh giữa các doanh nghiệp nên
giá có giảm (1.68%) , cịn tất cả các nhóm khác giá đều tăng. Điều đó chứng

tỏ yếu tố tiền tệ vẫn còn tác động mạnh đến lạm phát, nên mới làm cho giá
của tất cả các nhóm hàng đều tăng. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng cao chứng tỏ
tiền từ ngân hàng ra lưu thông tăng cao, tạo áp lực cho lạm phát.
- Nhìn chung giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao 3,01% (trong đó lương


thực tăng 1,77%; thực phẩm tăng 3,53%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,67%)
Nhóm hàng này tăng cao khơng chỉ bởi khó khăn trong nước (thiên tai, thay
đổi khí hậu, diện tích đất canh tác giảm, dịch bệnh, chi phí đầu vào tăng) mà
còn bởi giá thế giới tăng cao, kéo theo giá trong nước tăng lên. Theo tính tốn
của Liên hợp quốc, Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) và Ngân
hàng thế giới, bước sang năm 2011, chỉ số giá lương thực trên thế giới tăng
28.3% so với giữa năm 2010. Do nhóm hàng này chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng của dân cư nên đã tác động lớn đến tốc
độ tăng giá chung.
- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở,điện, nước, chất đốt và
vật liệu xây dựng) giá tăng cao nhất với 3.19% càng làm cho mong muốn cải
thiện về nhà ở của những người có nhu cầu thực, nhất là những người có thu
nhập thấp trở lên xa vời.

III. Nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta
- Chúng ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế. Nguyên
nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nội
tại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phát
Việt Nam năm 2011 chính là yếu tố tiền tệ.

1) Lạm phát do yếu tố tiền tệ
- Có thể nhận định, nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam khơng
phải do các yếu tố bên ngồi. Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam
luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đối

thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự.
- Ở các nước này, nhìn chung mức lạm phát ln thấp hơn mức tăng trưởng
GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%), trong khi từ năm 2004 đến nay, lạm
phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP. Cá biệt năm 2008 lên đến
23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở mức 11,75%, gấp gần 2
lần mức tăng GDP; và chỉ mới 4 tháng đầu năm 2011 lạm phát đã gần 2 con


số.
- Mức tăng tiền quá cao so với mức tăng hàng hóa đã dẫn đến lạm phát. Nói
một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do ba nguyên
nhân cơ bản sau:
 Do đầu tư công quá mức: Không thể phủ nhận sự cần thiết của đầu tư công.

Nhưng nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực đem lại lợi ích lớn
cho cả nền kinh tế nhưng tư nhân khơng có động cơ để làm hoặc làm khơng
có hiệu quả. Trên thực tế nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt động
kinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân. Với mức
chi tiêu của khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư)
trong những năm vừa qua luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nước
bằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu tư toàn xã hội) là một mức quá
cao. Mức chi tiêu này ắt hẳn là một mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng và
những hợp đồng có nhiều ưu ái cho một số đối tượng như phân tích dưới đây.
 Sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp (khu vực thị
trường). Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một
số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự
ưu ái trong việc phân bổ vốn. Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí
trong thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví
dụ rất điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước.
 Việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát

luôn cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Như nhiều
lần tơi đã phân tích, khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóa
của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) trở
nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho một lượng hàng
hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút. Bên cạnh đó, việc nền kinh tế quá
mở: kim ngạch nhập khẩu có lúc chiếm tới 80% GDP, gây ra nhập siêu là một
căn ngun dẫn tới lạm phát. Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với
chính sách điều hành tỷ giá như trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong
nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách luôn


dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn ở mức rất cao.

2) Lạm phát do cầu kéo
- Bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền –
hàng với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loại
hàng hóa), đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúng
lúc, đúng địa chỉ..., giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêu
dùng. Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng
cuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10%
hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp. Khi tổng
cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam khơng chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất
dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngồi (khủng hoảng, lạm
phát...) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô...).
-

Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1%
trong thời kỳ 2001- 2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010. Tiêu dùng
cuối cùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005

lên 72,2% thời kỳ 2006-2010. Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009
của Việt Nam là 72,8%, trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%,
Singapore 52,4%, Malaysia 64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ
69,6%, Hàn Quốc 70,3%...). Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và
tăng lên, có một phần do quy mơ GDP bình qn đầu người thấp, có một phần
do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; nhưng có một phần do đã xuất hiện tình
trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của một bộ phận dân cư.

- Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên
qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1
tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010).
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó
đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập
khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực
vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu,


đường, thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có
tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia cơng, lắp ráp cao mà nhập khẩu
nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên
liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có
kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ơ tơ ngun chiếc, xe máy
ngun chiếc,hố mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD.

3) Lạm phát do chi phí đẩy
- Riêng với ngành chế biến, Việt Nam gần như là cơng xưởng gia cơng cho
nước ngồi, bởi ngun liệu chính cho các ngành giầy da, dệt, may mặc,
nhựa,... hầu hết phụ thuộc vào nhập khẩu, đặc biệt 100% nhiên liệu lỏng đã
chế biến (xăng dầu) phải nhập khẩu. Vì vậy giá cả phụ thuộc rất nhiều vào
phía đối tác. Trong tình hình, giá cả thế giới đang tăng cao, khơng tránh khỏi

chi phí sản xuất, gia cơng của các doanh nghiệp trong nước cũng tăng cao.
- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá
cao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm
2005 đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn),
tức là có độ mở khá cao, đứng thứ 5 thế giới nên biến động giá cả trên thế
giới sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác. Giá
thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép:
vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.

4) Một số nguyên nhân khác
-

Hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp. Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện
ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần,
thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ 2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi
nhiều nước trong khu vực). Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt
Nam từ năm 2003 trở về trước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống
nhưng vẫn ở mức trên dưới 40%, trong khi ICOR của khu vực này cao gấp


rưỡi hệ số chung của cả nước. Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm
2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so
với các con số tương ứng của một số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824
USD, Brunei 72.500 USD, Singapore 62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD,
Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915 USD, Trung Quốc 5.460 USD,
-

Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD...).
Tình trạng vàng hóa và Đơ la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm
phát trên 4 mặt.

+ Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực
tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
+ Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương
tiện thanh toán tăng lên.
+ Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới,
tác động tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ
giá tăng cao lại tác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ...
+ Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại
lạm phát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam
cao hơn lạm phát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng
VND.

-

Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị trường là
tất yếu, đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới.
Tuy nhiên, kết quả của việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập
cùng một lúc sẽ tạo ra mặt bằng giá mới cao, như đã từng xảy ra trong thời kỳ
lạm phát phi mã, hay vào tháng 2 – 3 vừa qua.

IV.

Tác động của lạm phát đến mọi mặt đời sống
1) Thị trường tài chính
-

Thị trướng chứng khốn hiện đang giảm liên tục, các phiên giao dịch cũng ít
dần, làm cho tình hình ngày càng xấu đi. Thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ tăng



lên, thặng dư tài khoản thanh toán giảm, thặng dư cán cân thanh toán giảm.
Từ đầu năm đến nay, luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp sau khi Việt
Nam gia nhập WTO đã tăng lên nhanh chóng đã tạo sức ép tăng giá tiền
đồng và một mặt gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ và giám
sát tài chính, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán tăng trưởng rất
khả quan.

2) Doanh nghiệp
-

Để bù đắp quỹ lương tăng do lạm phát, các công ty phải tăng cường cắt giảm
chi phí từ hoạt động khơng trực tiếp tạo ra lợi nhuận, hạn chế tuyển dụng
nhân viên mới, sa thải những nhân viên không đáp ứng được yêu cầu của
công việc. Lạm phát thúc đẩy các doanh nghiệp để giảm chi phí, quản lý tốt
hơn quá trình hoạt động kinh doanh.

3) Nơng dân, người lao động nghèo
-

Giá lương thực - thực phẩm do nông dân làm ra tăng cao hơn nhiều so với tốc
độ tăng của 9 nhóm hàng hóa. Đây là tình trạng chung trên thế giới. Chỉ số
CPI tăng cao làm cho đời sống người nghèo ngày càng khó khăn. Khoảng
cách giàu nghèo ngày càng mở rộng.

4) Sinh viên
-

Đời sống sinh viên ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn khi mà giá cả leo
thang. Các chi phí sinh hoạt hằng ngày tăng cao: tiền ăn, ở, đi lại, sách vở...
càng làm cho giới sinh viên càng lo âu.


-

Một vài dẫn chứng thực tế về đời sống sinh viên trước cơn bão giá:
+ Giá thuê nhà ở thành phố Hồ Chí Minh tăng trung bình từ 100.000 –
200.000đ so với năm trước


+ Giá gửi xe cũng tăng từ 1000 – 2000đ, có nơi chủ nhà tăng giá thu tiền điện
lên đến 3500đ kw
+ Giá nước cũng được thu 40.000 – 50.000đ/1 người. Cao hơn rất nhiều so với
giá nước sạch của tổng cơng ty cấp nước Hả Nội
Tóm lại: Hậu quả của lạm phát rất nặng nề và nghiêm trọng. Lạm phát gây ra
hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của môi nước. Lạm phát làm cho việc
phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập trong nền kinh tế qua giá cả đều khiến quá
trình phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng hơn. Lạm phát làm cho một nhóm này nhiều
lợi nhuận trong khi nhóm khác bị thiệt hại nặng nề. Nhưng suy cho cùng, gánh nặng
của lạm phát lại đè lên vai của người lao động, chính người lao động là người gánh
chịu mọi hậu quả của lạm phát. Chính vì các tác hại trên, việc kiểm soát lạm phát, giữ
lạm phát ở mức độ hợp lý trở thành một trong những mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không đồng nghĩa với việc đưa tỷ lệ lạm phát
bằng khơng. Bởi lẽ, lạm phát khơng hồn tồn tiêu cực, nếu duy trì lạm phát ở một
mức độ vừa phải nó lại trở thành một cơng cụ điều tiết kinh tế.

CHƯƠNG III:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA
CHÍNH PHỦ
I. Cách thức áp dụng để kiếm chề: giảm thuế nhập khẩu , giãn nợ, bù giá, ...
cho các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng nguyên, nhiên liệu nhập
khẩu, …

-

Tác động: đây cũng được coi là nguyên nhân chính đẩy CPI lên. Các biện
pháp liên quan đến lạm phát chi phí đẩy, trong thực tế ít hiệu lực, vì khi giảm
thuế nhập khẩu cịn có độ trễ nhất định về thời gian (không phải giảm thuế


nhập khẩu, các sản phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu nhập khẩu này
có thể giảm giá ngay được), mặt khác Nhà nước khơng kiểm sốt được các
Doanh nghiệp có giảm giá đúng với mức độ giảm thuế nhập khẩu, trong khi
đó lại có doanh nghiệp tuy được hưởng chính sách giảm thuế nhập khẩu,
nhưng giá sản phẩm sản xuất ra khơng những khơng giảm mà lại cịn tăng;
và trên một mức độ nhất định, Nhà nước hơi quá kỳ vọng vào biện pháp này,
trong khi đã khơng tính toán được mức độ sẽ giữ giá hoặc giảm giá khơng
phải chỉ với một nhóm sản phẩm mà tồn bộ nền kinh tế. Mặt khác, dùng
biện pháp bù giá, đây là biện pháp khơng lâu dài, khơng có tính cơ bản vì
khơng phù hợp với kinh tế thị trường, khơng làm trên phạm vi rộng (ngân
sách Nhà nước không đủ sức làm việc này),... thay vì bằng trợ cấp cho nhân
dân các vùng thiên tai, dịch bệnh, ...

II.

Các biện pháp thắt chặt tiền tệ
-

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ngân hàng nhà nước đã ra quyết
định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng
them 1%. Như vậy, việc tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ sẽ
trực tiếp tác động đến chi phí huy động vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức
tín dụng; lãi suất cho vay ngoại tệ theo đó dự báo sẽ tăng trong thời gian tới,

hạn chế nhất định cầu và tăng trưởng tín dụng ngoại tệ sau khi đã tăng rất
mạnh kể từ đầu năm (trên 18%).

-

Đây là lần thứ 3 kể từ đầu năm nay, NHNN có quyết định điều chỉnh tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mỗi lần điều chỉnh tăng thêm 1%. Đây là một trong
những động thái của NHNN nhằm chống tình trạng đơ la hóa, giảm áp lực tỷ
giá, kiềm chế lạm phát trong bối cảnh, gần đây, nhiều ngân hàng đẩy lãi suất
đồng USD "vượt trần" nhằm thu hút nguồn vốn huy động.

III.
-

Chính phủ ban hành nghị quyết số 11/NQ – CP
Ngày 24/02/2011, chính phủ đã ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP về


những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,
bảo đảm an sinh xã hội. Với những nội dung chính sau đây:
-

Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, Chính phủ đề nghị Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các cơng cụ
chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt chẽ tổng phương
tiện thanh tốn và tổng dư nợ tín dụng. Các hoạt động của ngân hàng thương
mại về huy động, cho vay, tín dụng cần được giám sát chặt chẽ, đảm bảo
đúng quy định.

-


Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi
ngân sách nhà nước. Chính phủ sẽ điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng
kiểm sốt chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu cơng gồm tăng thu ngân sách
vượt dự tốn, giảm chi phí hành chính. Các hạng mục đầu tư sẽ được rà sốt
chặt chẽ. Cắt bỏ cơng trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn cho những
cơng trình sắp hồn thành. Bộ Tài chính sẽ đảm trách việc rà soát, đề xuất
biện pháp chấn chỉnh hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, tập
đoàn kinh tế, tổng công ty lớn. Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011
xuống dưới 5% GDP. Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các
doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Thực hiện rà sốt nợ Chính phủ, nợ quốc
gia, hạn chế nợ dự phịng, khơng mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của
Chính phủ. Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ cơng, dư nợ nước ngoài trong
giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.

-

Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu,
sử dụng tiết kiệm năng lượng.

-

Điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo: hộ Tài chính chủ
động điều hành linh hoạt giá xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định số
84/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh
xăng dầu, bảo đảm giá xăng dầu trong nước bám sát giá xăng dầu thế giới.

-

Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội: Thực hiện đồng bộ các chính sách an

sinh xã hội theo các chương trình, dự án, kế hoạch đã được phê duyệt; đẩy
mạnh thực hiện các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số


02/NQ-CP của Chính phủ. Các biện pháp thích hợp tiếp theo sẽ được đề ra
tùy thuộc vào diễn biến của lạm phát.
-

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền: Các phương tiện thông tin đại
chúng cần đẩy mạnh thông tin và tuyên truyền một cách chính xác, ủng hộ các
chủ trương,chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực nhạy cảm này, tránh thơng
tin sai sự thật có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội.

IV. Một số biện pháp khác
- Bảo đảm cân đối cung-cầu hàng hoá, dịch vụ trong mọi tình huống, trước
hết là các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, không để xảy ra
thiếu hàng sốt giá. Sắp xếp lại tổ chức mạng lưới lưu thông hợp lý, tránh đẩy
chi phí lưu thơng tăng cao. Rà sốt, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc và
có các giải pháp hỗ trợ phù hợp về tiếp cận vốn, lãi suất, thuế…cho sản
xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển để tăng cung cho thị
-

trường, giảm chi phí tạo ra cơ hội giảm sức ép đẩy giá tăng.
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hành
vi gian lận thương mại, đầu cơ găm hàng thao túng thị trường giá cả. Tiếp tục

-

thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng, thị trường ngoại hối.
Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; tiếp tục có lộ trình thích hợp để xố

bao cấp qua giá đối với các loại hàng hố dịch vụ cịn bao cấp và phù hợp
với mục tiêu kiềm chế lạm phát như: điện, xăng dầu, nước sạch, than bán cho
điện…


KẾT LUẬN
Lạm phát không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt đời
sống của xã hội. Trong thời gian lạm phát tăng cao như hiện nay, chính phủ cũng đã
có những biện pháp hết sức cấp bách nhằm kiềm chế lạm phát. Nhưng bên cạnh đó,
cũng có những tác động tiêu cực khơng nhỏ đến thị trường tài chính – tiền tệ. Tuy
nhiên, để có thể thực hiện tốt vai trị quản lý vĩ mơ của mình, chính phủ nên kết hợp
nhiều chính sách với nhau để có kết quả tốt nhất, bao gồm: chính sách tài khóa,
chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư… Mỗi chính sách có những ưu nhược điểm
riêng và có những hiệu quả nhất định, và qua các chính sách này, chúng ta đã, đang và
sẽ cố gắng thực hiện những biện pháp trung và dài hạn nhằm ổn định tình hình kinh tế
để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP và kiềm chế được lạm phát như mong
muốn.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 PGS.TS Lê Thị Cúc, Diễn biến lạm phát ở Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh
hoạt
 TS Nguyễn Trọng Hoài , Ổn định lạm phát: Cái giá phải trả
 TS Đinh Thế Hiển, Lạm phát 2011 và bài toán đầu tư
 Nghị quyết 11/NQ-CP của chính phủ
 Giáo trình Triết Học Kinh Tế Chính Trị





×