Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Thực trạng phát triển du lịch có trách nhiệm ở huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (632.01 KB, 10 trang )

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CÓ TRÁCH NHIỆM
Ở HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG
NGUYỄN TRỌNG NHÂN
HUỲNH VĂN ĐÀ, PHAN VIỆT ĐUA

Tóm tắt: Kiên Hải là đơn vị hành chính cấp huyện ở tỉnh Kiên Giang, nằm trên vùng biển Tây Nam
của Việt Nam, với diện tích 24,61 km2 và dân số 17.591 người (2019). Địa hình đa dạng và tương
phản cao, phong cảnh hoang sơ, nhiều bãi biển thoải và được bao phủ bởi cát trắng, nước biển trong
xanh, khí hậu trong lành và ấm áp quanh năm, văn hóa bản địa đa dạng, người dân thân thiện và mến
khách là những nguồn lực quan trọng để địa phương phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du
lịch sinh thái, du lịch biển đảo theo hướng có trách nhiệm. Để phân tích, đánh giá thực trạng phát
triển du lịch có trách nhiệm ở huyện Kiên Hải, các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, quan sát thực
địa và tham khảo tài liệu thứ cấp đã được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, còn một số tồn tại
trong phát triển du lịch có trách nhiệm ở địa bàn nghiên cứu trên phương diện phát triển sản phẩm du
lịch, quản lý hành vi của du khách, hoạt động cung cấp thông tin cho du khách, việc đảm bảo quyền
lợi và phát triển nghề nghiệp cho nhân viên lao động, quản lý giá cả dịch vụ, thu gom và xử lý chất
thải, an toàn trong tham gia giao thơng, sử dụng nước ngọt trong du lịch.
Từ khóa: du lịch, du lịch có trách nhiệm, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang
THE CURRENT SITUATION OF RESPONSIBLE TOURISM DEVELOPMENT
IN KIEN HAI DISTRICT, KIEN GIANG PROVINCE
Abstract: Kien Hai is a district-level administrative unit in Kien Giang province, located on the
southwest coast of Vietnam, with an area of 24.61 km2 and a population of 17,591 people (2019).
High-contrast and diverse terrain, unspoiled scenery, many gentle beaches covered with white sand,
clear blue sea water, clean and warm climate all year round, diverse indigenous cultures, friendly and
hospitable people are all important resources for the locality to develop many types of tourism,
especially ecotourism and island tourism in responsible and sustainable direction. To analyze and
evaluate the current situation of responsible tourism development in Kien Hai district, methods
including surveys by questionnaire, field trips and secondary documentary reference were used. The
research results show that there are still some shortcomings in developing responsible tourism in the
study area in terms of tourism product development, visitor behavior management, activities to
provide information to tourists, benefit measurement and career development for employees, service


price management, waste collection and treatment, safety in traffic and fresh water use in tourism.
Keywords: tourism, responsible tourism, Kien Hai district, Kien Giang province
1. Đặt vấn đề
Phát triển du lịch có trách nhiệm là xu hướng
mới của ngành cơng nghiệp du lịch nói chung và
ở nhiều quốc gia, điểm đến du lịch nói riêng. Du

lịch có trách nhiệm là hình thức du lịch tôn trọng
và bảo tồn tài nguyên, môi trường của điểm đến,
tạo ra những lợi ích kinh tế trực tiếp cho cộng
đồng địa phương, đảm bảo hài hịa lợi ích của

69


Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Tháng 3/2021

các chủ thể tham gia hoạt động du lịch và duy trì
sự tương tác tích cực giữa nhiều bên liên quan.
Thực hành tốt du lịch có trách nhiệm có thể giảm
thiểu các tác động tiêu cực và gia tăng các tác
động tích cực của du lịch, phân phối lợi ích cơng
bằng cho người dân địa phương cũng như góp
phần bảo vệ tự nhiên và văn hóa, nâng cao sự
thỏa mãn và lòng trung thành của du khách, tạo
ra lợi thế cạnh tranh cho điểm đến du lịch, thúc
đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch
và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Kiên Hải là đơn vị hành chính cấp huyện nhỏ
nhất của tỉnh Kiên Giang, được tạo thành bởi 23

hòn đảo lớn nhỏ với diện tích tự nhiên 24,61
km2, gồm 4 xã Hịn Tre, Lại Sơn, An Sơn và
Nam Du, có đặc điểm tự nhiên là được bao bọc
xung quanh bởi biển, diện tích nhỏ, khí hậu nhiệt
đới gió mùa, đất đỏ vàng trên đất cát chiếm ưu
thế, khơng có sơng mà chỉ có suối và khe nước
chảy tràn, thảm thực vật chủ yếu là rừng thứ
sinh, rừng trồng, cây trồng và cây bụi, sinh vật
biển đa dạng và phong phú. Năm 2019, tổng dân
số của huyện là 17.591 người, mật độ dân số
714,79 người/km2, dân tộc Kinh chiếm đa số.
Các ngành kinh tế chính của huyện gồm thủy
sản, cơng nghiệp, dịch vụ, nơng nghiệp và lâm
nghiệp. Trong đó, 3 ngành kinh tế thủy sản, cơng
nghiệp và dịch vụ đóng góp phần lớn đối với
tổng giá trị sản xuất ở huyện (5.427.379 triệu
đồng, chiếm 99,5%), hai ngành kinh tế cịn lại
có giá trị sản xuất không đáng kể (22.914 triệu
đồng, chiếm 0,5%) (Chi cục Thống kê huyện
Kiên Hải, 2020).
Huyện Kiên Hải có nhiều thế mạnh về tự
nhiên và văn hóa để phát triển du lịch. Tuy
nhiên, là một bộ phận của Khu dự trữ sinh quyển
thế giới Kiên Giang; tài nguyên, môi trường dễ
bị tổn thương do sự tác động của hoạt động du
lịch; thiếu nước ngọt và điện cho sinh hoạt, sản
xuất; cơng tác xử lý chất thải gặp nhiều khó
khăn; nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang có xu

70


hướng cạn kiệt; ít thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp và lâm nghiệp; vì lẽ đó, phát triển du lịch
có trách nhiệm sẽ là hướng đi phù hợp với điều
kiện đặc thù của địa phương. Nghiên cứu này
được thực hiện nhằm nhận diện những thành tựu
cũng như hạn chế đối với sự phát triển du lịch
có trách nhiệm ở Kiên Hải. Kết quả nghiên cứu
gợi ý cho địa phương trong việc thực thi những
giải pháp nhằm phát triển du lịch có trách nhiệm
hơn trong tương lai.
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu chính của nghiên cứu được thu thập
qua hoạt động quan sát thực tế của nhóm nghiên
cứu. Ngoài ra, điều tra du khách, doanh nghiệp
dịch vụ du lịch, nhân viên lao động trong ngành
du lịch, chính quyền địa phương cũng là cách
thức để có được thơng tin phong phú về vấn đề
nghiên cứu. Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho nghiên
cứu, dữ liệu thứ cấp như các tài liệu được công
bố, đề án, báo cáo, số liệu và niên giám thống kê
cũng được sử dụng.
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này là phát triển
du lịch có trách nhiệm ở huyện Kiên Hải.
Nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích, đánh giá
thực trạng để phát hiện những thành tựu cũng
như tồn tại trong phát triển du lịch có trách
nhiệm ở địa bàn nghiên cứu.

2.3. Phương pháp nghiên cứu
Kết quả của bài báo này là sản phẩm của sự
kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu. Để có
cái nhìn tổng quan về địa bàn và hiểu sâu sắc
hơn về vấn đề nghiên cứu, phương pháp quan
sát thực tế được sử dụng. Các vấn đề trọng tâm
được quan sát là sản phẩm du lịch, sự vận hành
cơ sở lưu trú và ăn uống, hoạt động truyền thơng
du lịch ở các xã Hịn Tre, Lại Sơn, An Sơn và
Nam Du. Hoạt động quan sát được thực hiện từ
ngày 23/7/2020 đến ngày 1/8/2020. Không thể
đánh giá đầy đủ về phát triển du lịch có trách


Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà, Phan Việt Đua - Thực trạng phát triển du lịch…

nhiệm ở Kiên Hải nếu bỏ qua việc điều tra nhiều
bên liên quan. Vì lẽ đó, 195 du khách, 46 doanh
nghiệp dịch vụ du lịch, 16 nhân viên lao động
trong ngành du lịch, 4 đại diện chính quyền địa
phương cấp xã được phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Nội dung chính của phiếu điều tra xoay quanh
sự đánh giá của du khách đối với một số phương
diện thể hiện thực trạng phát triển du lịch có
trách nhiệm ở Kiên Hải, việc thực hành du lịch
có trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ du lịch
và những hoạt động quản lý phát triển du lịch có
trách nhiệm của chính quyền địa phương. Bảng
hỏi gồm 31 câu hỏi dành cho du khách, 14 câu
hỏi dành cho doanh nghiệp dịch vụ du lịch, nhân

viên lao động trong ngành du lịch và chính
quyền địa phương. Câu hỏi được thiết kế dưới
dạng đóng và mở. Các đối tượng trên được
phỏng vấn từ ngày 23/7/2020 đến 1/8/2020 ở xã
Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du. Sau khi
sàng lọc, chỉ 160 phiếu điều tra du khách được
sử dụng (35 phiếu bị loại do có nhiều thơng tin
trống hoặc chỉ chọn 1 mức đánh giá), trong khi
đó, tất cả các phiếu điều tra doanh nghiệp dịch
vụ du lịch, nhân viên lao động trong ngành du
lịch và chính quyền địa phương đều đạt yêu cầu.
Dữ liệu từ bảng hỏi được phân tích dưới dạng
thống kê mơ tả (phần trăm, giá trị trung bình).
Đối với số liệu thống kê kiểu trung bình, mức
hồn tồn khơng đồng ý có giá trị từ 1-1,5, mức
khơng đồng ý có giá trị từ 1,51-2,5, mức trung
lập có giá trị từ 2,51-3,5, mức đồng ý có giá trị
từ 3,51-4,5, mức rất đồng ý có giá trị từ 4,515,0. Ngồi ra, nhiều dữ liệu thứ cấp liên quan
đến vấn đề nghiên cứu cũng được thu thập, phân
tích, tổng hợp phục vụ cho bài báo này.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Lý thuyết về du lịch có trách nhiệm
Du lịch có trách nhiệm ra đời vào thập niên
80 của thế kỉ XX nhằm đáp ứng kỳ vọng của
nhân loại về việc cần có một hình thức du lịch
thay thế cho du lịch đại chúng, ít gây tiêu cực

đối với mơi trường và có trách nhiệm hơn đối
với cộng đồng.
Theo Tun ngơn Cape Town (The Cape

Town Declaration, 2002), du lịch trách nhiệm có
những đặc điểm: tối thiểu những tác động tiêu
cực đối với mơi trường, xã hội và văn hóa; tạo
ra lợi ích kinh tế lớn hơn cho người dân địa
phương và nâng cao phúc lợi của cộng đồng địa
phương thông qua cải thiện điều kiện làm việc
và khả năng tiếp cận ngành công nghiệp; thu hút
người dân địa phương tham gia vào các quyết
định ảnh hưởng đến cuộc sống và cơ hội sống
của họ; tạo ra những đóng góp tích cực đối với
bảo tồn di sản tự nhiên, văn hóa và duy trì sự đa
dạng của thế giới; cung cấp trải nghiệm thú vị
hơn cho du khách thông qua sự kết nối ý nghĩa
hơn với người dân địa phương và sự hiểu biết
lớn hơn những vấn đề môi trường và văn hóa địa
phương; cung cấp khả năng tiếp cận cho những
người gặp khó khăn về thể chất; tạo ra sự tơn
trọng giữa khách du lịch và quốc gia đón khách,
xây dựng niềm tự hào và niềm tin địa phương.
Du lịch có trách nhiệm bao hàm nhiều hình
thức du lịch thân thiện với mơi trường, mang lại
nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương, hỗ trợ
bảo tồn, ít tác động tiêu cực đối với tài nguyên.
Phát triển du lịch có trách nhiệm nhằm hướng
tới việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên tự
nhiên và văn hóa nhưng vẫn bảo tồn và tơn trọng
tính ngun vẹn của những tài ngun đó; thúc
đẩy những lợi ích kinh tế dài hạn và có thể thực
hiện được cho tất cả các đối tượng hưởng lợi một
cách cơng bằng; duy trì sức hấp dẫn về mơi

trường và văn hóa, thu hút lượng khách du lịch
ổn định hơn; thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế địa
phương và tạo nên xã hội hạnh phúc hơn; cổ vũ
doanh nghiệp du lịch tơn trọng và hỗ trợ tích cực
cho cộng đồng và môi trường địa phương.
3.2. Tiềm năng phát triển du lịch ở huyện
Kiên Hải

71


Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Tháng 3/2021

Thời gian qua, huyện Kiên Hải đã thu hút
nhiều du khách bởi những thế mạnh nội tại của
địa phương. Trên phương diện vị trí địa lý, Kiên
Hải dễ dàng tiếp nhận luồng khách từ một số địa
bàn lân cận qua hệ thống đường biển.
Kiên Hải có tài nguyên du lịch tự nhiên và
văn hóa đa dạng là nguồn lực quan trọng để khai
thác phát triển du lịch. Về tài ngun du lịch tự
nhiên, huyện có địa hình đa dạng (biển, bãi biển,
thung lũng, núi) và có sự tương phản cao, thuận
lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch tắm
biển, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng, thể thao trên biển,
leo núi, cắm trại, mạo hiểm… Khí hậu ở Kiên
Hải khơng q nóng (nhiệt độ cao nhất 37,80C)
cũng khơng lạnh (nhiệt độ thấp nhất 14,80C) và
quanh năm tương đối ổn định (24,40C-31,10C),
đặc biệt ở địa phương ít xảy ra bão và áp thấp

nhiệt đới, thuận lợi cho hoạt động tắm biển và
tham quan trên biển. Tài nguyên sinh vật ở Kiên
Hải đa dạng và phong phú. Về thảm thực vật
rừng, có 1.284 ha rừng tự nhiên và 116 ha rừng
trồng. Rừng ở Kiên Hải có tác dụng điều hịa khí
hậu và tạo cảnh quan cho phát triển du lịch. Biển
ở Kiên Hải có sự đa dạng sinh học cao (496 lồi
cá, 9 lồi cỏ biển, 269 lồi san hơ, 50 lồi tơm)
thích hợp cho hoạt động du lịch câu cá, lặn ngắm
cá, cỏ biển và san hô, ẩm thực hải sản.
Về tài nguyên du lịch văn hóa, Kiên Hải có
nhiều cơ sở thờ tự (chùa Phật, dinh/lăng cá ông,
miếu bà, đình thần), nghề truyền thống (đánh bắt
hải sản, ni cá lồng bè, sản xuất nước mắm,
làm khơ, đan lưới) có khả năng thu hút những
du khách đi du lịch vì mục đích tìm hiểu, nghiên
cứu văn hóa bản địa xứ đảo. Bên cạnh những
điều kiện thuận lợi trên, Kiên Hải thu hút nhiều

du khách còn nhờ vào sự thân thiện và mến
khách của người dân. Khảo sát động cơ đến
Kiên Hải du lịch của 160 du khách, rất nhiều ý
kiến cho rằng sự thân thiện, nhiệt tình, chân thật,
hiếu khách của người dân là yếu tố hấp dẫn quan
trọng đối với họ.
Khơng phải là thế mạnh nhưng góp phần
quan trọng vào sự phát triển du lịch ở địa
phương thời gian qua là cơ sở hạ tầng. Ở Kiên
Hải, các xã Hịn Tre, Lại Sơn và An Sơn đều có
hệ thống đường nhựa, bê tông quanh đảo, ngang

đảo với độ rộng làn đường và chất lượng mặt
đường đáp ứng được nhu cầu đi lại bằng xe máy
và ô tô tải trọng nhỏ của du khách. Bên cạnh đó,
3 xã cũng có bến cập tàu tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động du lịch. Xã Hịn Tre và Lại Sơn
đã có lưới điện quốc gia và đã đáp ứng được nhu
cầu phát triển du lịch; xã An Sơn và Nam Du sử
dụng điện từ máy phát điện dùng dầu diesel
(phát 23/24 giờ ngày đêm).
3.3. Thực trạng phát triển du lịch có trách
nhiệm ở huyện Kiên Hải
Với những nguồn lực sẵn có cùng sự đầu tư
của địa phương trong lĩnh vực du lịch đã và đang
thu hút nhiều du khách đến Kiên Hải. Theo số
liệu cung cấp từ Phịng Văn hóa và Thơng tin
huyện Kiên Hải (2020), lượt khách du lịch đến
địa phương khơng ngừng gia tăng theo thời gian,
nhờ đó, doanh thu du lịch của địa phương cũng
luôn tăng (Bảng 1) và giải quyết được khoảng
950 lao động trực tiếp. Mặc dù ngành du lịch ở
Kiên Hải đã đạt được những thành tựu đáng kể
nhưng để phát triển bền vững, địa phương cần
phát triển du lịch theo hướng có trách nhiệm.

Bảng 1. Số lượt khách và doanh thu du lịch của huyện Kiên Hải (2015-2019)
Chỉ tiêu
Số lượt khách (lượt)
Doanh thu du lịch (tỷ đồng)

Năm

2015

2016

2017

2018

2019

34.900

113.000

194.290

271.433

441.659

102

147

200

434

637


Nguồn: Số liệu cung cấp từ Phịng Văn hóa và Thông tin huyện Kiên Hải, 2020

72


Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà, Phan Việt Đua - Thực trạng phát triển du lịch…

Những phương diện phát triển du lịch có
trách nhiệm được soạn thảo bởi Chương trình
Phát triển Năng lực Du lịch có trách nhiệm với
Mơi trường và Xã hội (2013), một số khía cạnh
có thể đánh giá được thơng qua quan sát của
nhóm nghiên cứu, đánh giá của du khách, phản
hồi của doanh nghiệp, nhân viên lao động trong
ngành du lịch và chính quyền địa phương. Các
phương diện đó là phát triển sản phẩm du lịch
có trách nhiệm, quảng bá và truyền thơng có
trách nhiệm trong du lịch, sử dụng lao động có
trách nhiệm trong du lịch, hỗ trợ điểm đến du
lịch có trách nhiệm, quản lý du lịch có trách
nhiệm, vận hành cơ sở lưu trú có trách nhiệm,
điều hành cơ sở ăn uống có trách nhiệm.
Phát triển sản phẩm du lịch có trách nhiệm:
Phát triển sản phẩm du lịch là việc khai thác
những nguồn lực có khả năng đáp ứng nhu cầu
của du khách ở điểm đến để biến chúng thành
các dịch vụ. Sản phẩm du lịch có trách nhiệm
khơng những đáp ứng được nhu cầu của du
khách, mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho cộng
đồng mà cịn ít gây tác động tiêu cực đến xã hội,

văn hóa và mơi trường của điểm đến.
Các sản phẩm du lịch đã được khai thác ở
Kiên Hải gồm tham quan, tìm hiểu biển, rừng,
núi, nghề truyền thống, cơ sở thờ tự, sinh kế của
người dân bằng xe gắn máy; leo núi; tắm biển;
đi ghe, tàu trên biển; lặn ngắm san hô; câu cá,
câu mực; bắt nhum; ẩm thực hải sản. Các loại
hình du lịch này chủ yếu được khai thác trên nền
tảng những nguồn lực tự nhiên và văn hóa sẵn
có, do người dân địa phương đứng ra tổ chức và
phục vụ.
Theo đánh giá của du khách, những loại hình
du lịch trên đáp ứng được nhu cầu của họ
(3,78/5), mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng
địa phương (4,03/5), thân thiện với môi trường
(3,92/5) và du khách cảm thấy hài lòng khi tham
gia các loại hình du lịch ở Kiên Hải (3,84/5).
Tuy nhiên, nhiều du khách cho rằng, huyện Kiên
Hải chưa phát triển sản phẩm du lịch tương xứng

với tiềm năng; loại hình du lịch vui chơi giải trí
cịn rất hạn chế; một bộ phận du khách chưa có
ý thức bảo vệ san hơ.
Từ những phân tích trên cho thấy, địa phương
đã có nhiều nỗ lực trong việc khai thác, sử dụng
hợp lý tài nguyên du lịch, mang lại lợi ích cho
người dân, doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu du
lịch đa dạng của du khách. Vấn đề tồn tại hiện
nay là loại hình du lịch chưa thật sự đa dạng so
với tiềm năng; hoạt động vui chơi giải trí chưa

có gì đáng kể; khơng ít du khách cịn xâm hại
san hơ.
Quảng bá và truyền thơng có trách nhiệm
trong du lịch:
Quảng bá và truyền thơng có trách nhiệm
trong du lịch có thể hiểu là quá trình truyền đạt
thơng điệp về điểm đến với mục tiêu cung cấp
thông tin cho du khách và giáo dục ý thức cho
du khách, cộng đồng nhằm thay đổi thái độ và
hành vi của họ theo hướng có lợi cho kinh tế, xã
hội, văn hóa và mơi trường của điểm đến. Những
ngun lý cơ bản của quảng bá và truyền thơng
có trách nhiệm trong du lịch là trung thực, quan
tâm đến trách nhiệm xã hội và mơi trường,
khuyến khích sử dụng nguồn tài nguyên du lịch
bền vững.
Về phương diện quảng bá, thời gian qua,
huyện Kiên Hải đã đẩy mạnh công tác quảng bá
du lịch của địa phương trên cổng thông tin điện
tử của huyện; phát hành sách hướng dẫn du lịch
Kiên Hải bằng ngôn ngữ Việt, Anh; phối hợp
với các báo, đài của Trung ương quay phim, ghi
hình, viết bài về du lịch Kiên Hải; giới thiệu du
lịch thông qua các sự kiện quan trọng và lễ hội
dân gian tại địa phương (Huyện ủy Kiên Hải,
2020). Theo tìm hiểu của nhóm nghiên cứu, du
lịch Kiên Hải đã được đưa tin trên Internet dưới
dạng hình ảnh, video, tin tức nhưng chủ yếu
bằng tiếng Việt. Ngồi ra, du khách cịn biết đến
Kiên Hải qua sách, báo, tạp chí (23,1%), truyền

hình (15%), mạng xã hội (7,5%), radio (0,6%)
và những kênh khác (người thân bạn bè, công ty

73


Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Tháng 3/2021

du lịch…). Theo sự phản hồi của du khách, sức
hấp dẫn của du lịch Kiên Hải đúng với thông tin
quảng bá (3,84/5).
Trên lĩnh vực truyền thông, thời gian qua,
huyện Kiên Hải đã thực hiện một số hoạt động
truyền thông nhằm bảo vệ tài nguyên, môi
trường và đảm bảo an ninh trật tự du lịch ở địa
phương như thiết lập bảng thông tin ở những
tuyến, điểm du lịch và đưa tin trên đài phát
thanh. Các thông điệp tuyên truyền điển hình
như “giữ vệ sinh bãi biển, nước biển và không
xả rác, vứt rác bừa bãi, phải thu gom và đổ rác
đúng nơi quy định”; “không đốt lửa tại các khu
rừng khô dễ cháy xung quanh bãi tắm”; “không
được đánh bắt hải sản, neo đậu các phương tiện
đánh bắt hải sản và các phương tiện vận tải thủy
trong khu vực bãi tắm”; “xin giữ rừng sạch xanh”; “hãy chung tay bảo vệ môi trường biển
đảo”; “lặn ngắm san hô, không được bẻ hái, nếu
bẻ hái thì sẽ bị Nhà nước phạt 5.000.000 đồng”;
“không được sử dụng đồ nhựa, túi nilon gây hại
cho sức khỏe sinh vật”; “không được làm những
điều trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc

Việt Nam tại các bãi tắm”; “những người mắc
các chứng bệnh tim mạch, tâm thần, những
người say rượu không được tắm biển”; “trẻ em
dưới 13 tuổi và người không biết bơi khi tắm
biển phải mặc áo phao, có người trơng coi và
khơng nên bơi quá xa”; “du khách không nên
tắm biển riêng lẻ ở khu vực bãi biển ít người”;
“khơng bn bán hàng rong tại khu du lịch”;
“mặc áo phao khi đi tham quan du lịch trên
biển”. Trong khi đó, địa phương chưa quan tâm
đến việc cung cấp thông tin về nơi đến du lịch
cho du khách thông qua bảng diễn giải hoặc tờ
gấp, tờ rơi. Kết quả phỏng vấn 160 du khách cho
thấy, họ đồng ý với ý kiến cho rằng địa phương
có những hoạt động tuyên truyền nhằm bảo vệ
tài ngun (3,68/5) và mơi trường (3,71/5) du
lịch. Bên cạnh đó, du khách cũng đánh giá cao
hoạt động tuyên truyền nhằm đảm bảo an ninh
trật tự trong du lịch (3,9/5) nhưng lại đánh giá

74

thấp khả năng có được sự hiểu biết về điểm đến
qua bảng thông tin, tờ gấp, tờ rơi (3,45/5).
Đã có nhiều hoạt động quảng bá hình ảnh
điểm đến chân thực, truyền thông bảo vệ tài
nguyên, môi trường, văn hóa địa phương và du
khách nhưng thiếu những phương tiện cung cấp
thông tin, kiến thức về những điểm du lịch.
Sử dụng lao động có trách nhiệm trong du

lịch:
Sử dụng lao động có trách nhiệm liên quan
tới việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động nhằm
tạo cơ hội cho cả nam và nữ có thể có được cơng
việc tốt và hiệu quả trong điều kiện tự do, bình
đẳng, an tồn và tơn trọng. Sử dụng lao động có
trách nhiệm nhằm tạo ra lợi ích cho cả người sử
dụng lao động và người lao động. Các biểu hiện
trong sử dụng lao động có trách nhiệm gồm có
hợp đồng lao động, trả lương ở mức tối thiểu hay
cao hơn mức quy định của nhà nước, có tiền
thưởng và những ưu đãi, khơng phân biệt đối xử,
đảm bảo môi trường làm việc vệ sinh và an tồn,
thực hiện bình đẳng giới, tn thủ cách thức
tuyển dụng có trách nhiệm, cung cấp chương
trình đào tạo kỹ năng phù hợp, ưu tiên sử dụng
lao động địa phương, không sử dụng lao động
trẻ em.
Đối tượng sử dụng nhiều lao động và phản
ánh đúng thực trạng sử dụng lao động có trách
nhiệm hay khơng ở địa phương là doanh nghiệp
dịch vụ lưu trú, ăn uống và tham quan. Qua khảo
sát 46 doanh nghiệp ở Kiên Hải, có 91,3% số
doanh nghiệp được hỏi cho rằng họ không sử
dụng lao động trẻ em. Một tỷ lệ rất đáng kể
doanh nghiệp ưu tiên sử dụng lao động địa
phương và trả lương cho nhân viên ở mức tối
thiểu hoặc cao hơn mức quy định của nhà nước
(lần lượt là 87% và 82,6%). Không phân biệt đối
xử đối với nhân viên và đảm bảo mơi trường làm

việc vệ sinh và an tồn cho nhân viên được
78,3% và 73,9% doanh nghiệp chọn. Trong khi
đó, có tiền thưởng và những ưu đãi khác cho
nhân viên, có hợp đồng lao động với nhân viên,


Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà, Phan Việt Đua - Thực trạng phát triển du lịch…

tuyển dụng theo quy trình (xây dựng bản mơ tả
vị trí cơng việc, đăng thơng tin tuyển dụng, áp
dụng các tiêu chí để tuyển dụng), cung cấp
chương trình đào tạo kỹ năng phù hợp với việc
làm cho nhân viên được rất ít doanh nghiệp chọn
(tương ứng là 26,1%, 8,7%, 4,3%, 0%).
Để có dữ liệu đối chứng với những phản hồi
của doanh nghiệp dịch vụ du lịch, 16 nhân viên
lao động trong ngành du lịch được phỏng vấn
với những nội dung gần tương đồng với nội
dung phỏng vấn doanh nghiệp. Vấn đề được
nhiều nhân viên đồng ý nhất là họ được trả lương
ở mức tối thiểu hoặc cao hơn mức quy định của
nhà nước (75%). Một tỷ lệ đáng kể cho rằng họ

không bị phân biệt, đối xử và lạm dụng (62,5%).
Có 62,5% ý kiến cho rằng doanh nghiệp đảm
bảo nơi làm việc của họ vệ sinh và an tồn. Mặc
dù doanh nghiệp rất ít tuyển dụng nhân viên theo
quy trình nhưng nhân viên lại phản hồi khơng
tiêu cực đối với vấn đề này bởi có 50% cho rằng
họ được tuyển dụng công bằng và minh bạch. Ít

nhân viên trả lời họ có hợp đồng lao động, có
tiền thưởng và những ưu đãi khác, được doanh
nghiệp đào tạo kỹ năng phù hợp với việc làm
(lần lượt là 37,5%, 25%, 12,5%). Khi được hỏi
về mức độ hài lịng đối với cơng việc, 50% nhân
viên trả lời cảm thấy hài lòng.

Bảng 2. Sử dụng lao động của doanh nghiệp dịch vụ du lịch ở Kiên Hải
Phần trăm chọn
của doanh nghiệp

Phần trăm chọn
của nhân viên

Có hợp đồng lao động

8,7

37,5

Trả lương ở mức tối thiểu hoặc cao hơn mức quy định của nhà nước

82,6

75,0

Có tiền thưởng và những ưu đãi khác

26,1


25,0

Không phân biệt, đối xử, lạm dụng

78,3

62,5

Đảm bảo môi trường làm việc vệ sinh và an toàn

73,9

62,5

0

12,5

4,3

50

Nội dung

Cung cấp chương trình đào tạo kỹ năng phù hợp với việc làm
1

Tuyển dụng theo quy trình ; được tuyển dụng cơng bằng và minh bạch

2


Nguồn: Phỏng vấn của nhóm nghiên cứu, 2020
Bên cạnh những việc làm được như trả lương,
tôn trọng và đảm bảo mơi trường làm việc cho
nhân viên, vẫn cịn những khoảng trống đáng kể
về đào tạo, khen thưởng, hợp đồng lao động, quy
trình tuyển dụng nhân sự của doanh nghiệp dịch
vụ du lịch ở Kiên Hải.
Hỗ trợ điểm đến du lịch có trách nhiệm:
Hỗ trợ điểm đến du lịch có trách nhiệm là
việc các tổ chức khơng chỉ khai thác điểm đến
vì các lợi ích kinh tế của họ mà cịn đóng vai trị
tích cực trong việc nâng cao các giá trị văn hóa
xã hội, bảo vệ mơi trường địa phương, mang lại
và phân phối các lợi ích kinh tế công bằng cho
cộng đồng địa phương. Hỗ trợ điểm đến du lịch
1

Dành cho doanh nghiệp

có trách nhiệm bao gồm sử dụng hàng hóa và vật
liệu địa phương, chi trả thích đáng cho hàng hóa
và dịch vụ của nhà cung cấp địa phương, sử
dụng lao động địa phương, hỗ trợ đào tạo nguồn
nhân lực du lịch của địa phương, cung cấp kinh
phí cho hoạt động bảo vệ mơi trường và bảo tồn
tài nguyên…
Khảo sát 46 doanh nghiệp dịch vụ du lịch ở
Kiên Hải cho thấy, ý kiến được nhiều doanh
nghiệp chọn nhất là sử dụng lao động địa

phương (65,2%). Con số này cao hơn chút ít so
với phản hồi của nhân viên lao động trong ngành
du lịch (62,5%). Trên 50% doanh nghiệp cho
rằng họ sử dụng hàng hóa và vật liệu ở địa
2

Dành cho nhân viên

75


Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Tháng 3/2021

phương (56,5%) và chi trả thích đáng cho hàng
hóa của nhà cung cấp ở địa phương (52,2%).
Việc cung cấp kinh phí cho hoạt động bảo vệ
mơi trường và bảo tồn tài nguyên, hỗ trợ đào tạo
nguồn nhân lực du lịch của địa phương ít được
doanh nghiệp thực hiện (tương ứng là 21,7% và
17,4%).
Đã có sự hỗ trợ tương đối tích cực của doanh
nghiệp du lịch đối với sự phát triển kinh tế (sử
dụng lao động, hàng hóa và vật liệu) nhưng ít
doanh nghiệp đóng góp tình nguyện cho việc
bảo tồn tài nguyên, môi trường và đào tạo phát
triển nguồn nhân lực du lịch ở địa phương.
Quản lý du lịch có trách nhiệm:
Quản lý du lịch có trách nhiệm là việc tổ
chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động
nhằm đảm bảo hài hịa lợi ích cho nhiều bên liên

quan ở nơi đến du lịch. Một số biểu hiện cơ bản
của quản lý du lịch có trách nhiệm là tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, phát
triển nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành
chính, thống nhất và niêm yết giá phòng nghỉ,
xử lý vi phạm trong lĩnh vực hoạt động du lịch,
thu gom rác thải và xử lý chất thải, đảm bảo an
tồn giao thơng.
Theo sự phản hồi của chính quyền địa
phương, để phát triển du lịch có trách nhiệm,
thời gian qua, địa phương có những hoạt động
quản lý như “gặp gỡ doanh nghiệp và hướng
dẫn, hỗ trợ hoạt động kinh doanh của họ”; “tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho
các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”; “khuyến
khích doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, đa dạng
hóa các loại hình, sản phẩm du lịch phù hợp với
đặc thù biển đảo”; “tạo điều kiện thuận lợi để
người dân trực tiếp tham gia kinh doanh và
hưởng lợi từ du lịch”; “mở 20 lớp tập huấn, đào
tạo nghề du lịch tại địa bàn các xã”; “triển khai
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lưu
trú du lịch”; “để các cơ sở lưu trú tự quyết định
giá phòng theo cơ chế thị trường dựa trên chất

76

lượng sản phẩm, dịch vụ nhưng phải niêm yết
công khai và đăng ký giá với cơ quan thuế”;
“hướng dẫn các tổ chức, cá nhân kinh doanh du

lịch đảm bảo môi trường du lịch an toàn, chất
lượng và thân thiện”; “giải quyết triệt để tình
trạng cị mồi, lơi kéo khách”; “tổ chức 14 đợt
kiểm tra về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
trên địa bàn huyện”.
Mặc dù chính quyền địa phương đã thực hiện
nhiều hoạt động quản lý nhưng tình trạng “chặt
chém” du khách vẫn còn diễn ra. Nhiều du
khách cho rằng “một số quầy hàng, quán ăn chặt
chém du khách”; “có những điểm du lịch tự ý
lên giá”; “giá cả ở một vài khu du lịch còn khá
cao so với mặt bằng chung”; “một số khu du lịch
làm tiền du khách” và đây chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm mức
độ hài lòng của du khách đối với du lịch ở Kiên
Hải.
Bên cạnh đó, rất nhiều du khách cảm thấy
khơng hài lịng khi đi du lịch ở Kiên Hải là tình
trạng xả rác thải. Mặc dù ở xã Lại Sơn và An
Sơn đã có lị đốt rác nhưng rác thải còn rất phổ
biến ở các xã của Kiên Hải. Ngoài ra, một số du
khách cảm thấy lo lắng khi khơng ít cơ sở lưu
trú xả nước thải trực tiếp xuống biển.
Ở xã Lại Sơn, địa phương đã thiết lập bảng
cảnh báo giao thông “phải đội mũ bảo hiểm và
không chở quá số người quy định khi tham gia
giao thông” nhưng một số du khách vẫn không
thực hiện và bị cảnh sát giao thông xử phạt.
Nguyên nhân dẫn đến sai phạm có thể do du
khách nghĩ rằng sẽ khơng có cảnh sát giao thơng

túc trực hoặc khơng chú ý bảng cảnh báo giao
thơng.
Khơng ít những cố gắng đã được tạo ra nhằm
đảm bảo mơi trường du lịch an tồn, chất lượng,
thân thiện và chun nghiệp nhưng vẫn cịn tình
trạng không niêm yết giá cả dịch vụ, thách giá
và “chặt chém” du khách, thiếu khả năng trong


Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà, Phan Việt Đua - Thực trạng phát triển du lịch…

việc thu gom và xử lý chất thải, vi phạm khi
tham gia giao thông của du khách.
Vận hành cơ sở lưu trú có trách nhiệm:
Mục tiêu bao trùm của ngành dịch vụ lưu trú
là đem lại cho khách hàng sự thoải mái trong kỳ
nghỉ. Để làm được điều đó, một lượng đáng kể
nguồn tài nguyên được sử dụng để phục vụ nhu
cầu của du khách về sưởi ấm, làm mát, giặt là,
tắm rửa, thông tin liên lạc, ăn uống, giải trí...
Cộng hưởng của việc tiêu thụ nhiều nguồn lực
và tăng lượng chất thải là những tác động tiêu
cực tới môi trường, cộng đồng địa phương và lợi
nhuận kinh doanh ở mức nào đó của cơng ty. Để
giảm thiểu những tác động này tới kinh tế, xã
hội và môi trường, ngành kinh doanh dịch vụ lưu
trú phải lưu tâm đến việc khuyến khích du khách
sử dụng tiết kiệm nước, điện và giữ gìn vệ sinh
mơi trường.
Khảo sát nhiều cơ sở lưu trú ở Kiên Hải,

chúng tôi nhận thấy rằng, chủ cơ sở đã quan tâm
đến việc khuyến khích du khách sử dụng tiết
kiệm điện và giữ gìn vệ sinh, bảo vệ mơi trường
thơng qua bảng nội quy, bảng hoặc giấy dán
tường với các thông điệp như “vui lòng tắt hết
thiết bị điện khi ra khỏi phòng”; “vui lịng rút
thẻ chìa khóa ra khỏi ổ điện khi ra khỏi phịng”;
“xin q khách giữ vệ sinh chung”; “khơng hút
thuốc trên giường ngủ, không vứt giấy vệ sinh,
rác thải vào thiết bị vệ sinh gây tắc cống”;
“không mang chai nhựa, hộp nhựa, túi nilon
xuống bãi tắm”; “vui lịng khơng vứt rác xuống
biển”… Vấn đề còn bỏ ngỏ hiện nay ở hầu hết
các cơ sở lưu trú của Kiên Hải là việc khuyến
khích du khách sử dụng tiết kiệm nước, trong
khi nước ngọt là nguồn tài nguyên quý hiếm ở
Kiên Hải.
Khảo sát 160 du khách đến du lịch ở Kiên Hải
liên quan đến những vấn đề trên, phương diện
du khách đánh giá cao nhất là cơ sở lưu trú có
những cách thức khuyến khích du khách giữ gìn
vệ sinh và bảo vệ môi trường (3,81/5). Ý kiến

cũng được nhiều du khách đánh giá cao là cơ sở
lưu trú có những cách thức khuyến khích du
khách sử dụng tiết kiệm điện (3,79/5). Trong khi
đó, du khách chưa đồng ý với phát biểu cơ sở
lưu trú có những cách thức khuyến khích du
khách sử dụng tiết kiệm nước (3,44/5).
Như vậy, nhiều doanh nghiệp lưu trú đã thực

hiện một số biện pháp khuyến khích du khách
sử dụng tiết kiệm điện và giữ gìn vệ sinh mơi
trường; tuy nhiên, việc khuyến khích du khách
sử dụng nước ngọt chưa được doanh nghiệp
quan tâm.
Điều hành cơ sở ăn uống có trách nhiệm:
Trong du lịch, cơ sở ăn uống là một phần
không thể thiếu của bộ sản phẩm tại điểm đến và
điều hành cơ sở ăn uống có trách nhiệm đồng
nghĩa với việc chủ cơ sở ăn uống thực hiện tốt
vệ sinh môi trường và vệ sinh an tồn thực
phẩm, đảm bảo mơi trường an ninh và an tồn,
mua sản phẩm thực phẩm được canh tác khơng
trái đạo đức và được trồng tại địa phương, chi
trả thích đáng cho hàng hóa của nhà cung cấp
địa phương, sử dụng lao động địa phương…
Hiện tại, du lịch phát triển mạnh nhất ở xã Lại
Sơn và An Sơn nên cơ sở ăn uống chủ yếu tập
trung ở hai địa phương này. Hai bên cầu cảng,
những bãi biển đẹp, khu nuôi cá lồng bè là nơi
phát triển cơ sở ăn uống mạnh nhất ở huyện Kiên
Hải. Nguyên liệu chế biến tương đối đa dạng
nhưng chủ lực là hải sản. Về vấn đề vệ sinh, an
ninh và an toàn, du khách đồng ý cao nhất với ý
kiến: cơ sở ăn uống đảm bảo trật tự và an tồn
(4,11/5). Bên cạnh đó, khn viên cơ sở ăn uống
sạch cũng được du khách đánh giá cao (4,0/5).
Ngoài ra, việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm ở cơ sở lưu trú cũng được du khách đánh
giá cao (3,95/5).

Điều hành cơ sở ăn uống có trách nhiệm ở
Kiên Hải còn được thể hiện qua mua thực phẩm
được canh tác không trái đạo đức (87%) và được
trồng tại địa phương (60,9%), sử dụng lao động

77


Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Tháng 3/2021

địa phương (65,2%). Bên cạnh đó, trên 52,2%
doanh nghiệp thừa nhận chi trả thích đáng cho
hàng hóa của nhà cung cấp địa phương.
4. Kết luận và khuyến nghị
Là điểm đến du lịch mới nổi nhưng Kiên Hải
rất có triển vọng phát triển du lịch ở tương lai.
Sự phát triển du lịch luôn tạo ra tác động kép đối
với huyện Kiên Hải trên phương diện kinh tế, xã
hội, văn hóa và mơi trường. Để giảm thiểu
những tác động tiêu cực và tối đa những tác
động tích cực của du lịch, huyện Kiên Hải cần
phải phát triển du lịch có trách nhiệm. Phát triển
du lịch có trách nhiệm có thể bảo vệ sinh thái và
tốt cho kinh tế, xã hội, văn hóa của điểm đến
(Leslie, 2012).
Huyện Kiên Hải đã thực hiện nhiều hoạt động
có lợi cho sự phát triển du lịch nói chung và du
lịch có trách nhiệm nói riêng, hướng đến sự phát
triển bền vững ngành du lịch. Tuy nhiên, vẫn
còn một số rào cản đối với sự phát triển du lịch

có trách nhiệm ở địa phương trên khía cạnh sản

phẩm du lịch, thông tin điểm đến, phát triển
nguồn nhân lực, đóng góp tài chính tình nguyện
cho bảo tồn, giá cả dịch vụ, an toàn cho du
khách, thu gom và xử lý chất thải, sử dụng nước
ngọt.
Để giảm thiểu những rào càn, thúc đẩy sự
phát triển du lịch có trách nhiệm, một số biện
pháp địa phương có thể thực hiện như phát triển
loại hình, dịch vụ du lịch thân thiện với mơi
trường và có trách nhiệm đối với cộng đồng; đẩy
mạnh hoạt động cung cấp thông tin về điểm đến;
quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi của nhân viên
lao động trong ngành du lịch; tạo nguồn tài
chính phục vụ bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi
trường; hạn chế sự tác động tiêu cực của du
khách đối với sinh vật biển; tích cực giải quyết
vấn đề chất thải từ hoạt động du lịch; đảm bảo
quyền lợi và sự an toàn cho du khách; tăng
cường hoạt động diễn giải khuyến khích du
khách sử dụng tiết kiệm nước ngọt ở cơ sở lưu
trú.

Bài báo này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Đại học Cần Thơ; có
mã số: T2020-32.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Mơi trường và Xã hội (2013), Bộ cơng cụ Du lịch có trách
nhiệm tại Việt Nam, Hà Nội.

2. Chi cục Thống kê huyện Kiên Hải (2020), Niên giám thống kê năm 2019, Huyện Kiên Hải.
3. Huyện ủy Kiên Hải (2020), Báo cáo tổng kết chuyên đề thực hiện phát triển du lịch theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
huyện lần thứ VIII nhiệm kỳ 2015-2020, Kiên Hải.
4. Leslie, D. (2012), Responsible tourism: Concepts, Theory and Practice, CABI Publishing house, London.
5. The Cape Town Declaration (2002), International Conference on Responsible Tourism in Destinations, Cape Town,
truy cập vào 4/7/2020.

Thơng tin tác giả:

Nhật ký tịa soạn:

Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà - Trường Đại học Cần Thơ
Phan Việt Đua - Trường Đại học Bạc Liêu
Khu 2, đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
ĐT: 039.7272.801; Email:

Ngày nhận bài: 15/01/2021
Biên tập: 03/2021

78



×