Tải bản đầy đủ (.pdf) (50 trang)

Nghiên cứu sự biến đổi trong các tổ chức cơ quan của tôm hùm bông (panulirus ornatus, fabricius 1789) bị bệnh sữa bằng phương pháp mô bệnh học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.24 MB, 50 trang )

i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình
của rất nhiều cá nhân và tập thể. Trước hết em xin được gửi lời cám ơn đến nhà
trường và khoa Nuôi trồng thủy sản đã cho phép em được thực hiện đề tài này.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cám ơn và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS. Đỗ Thị Hòa đã quan tâm, giúp đỡ và chỉ bảo cho em rất tận tình trong
suốt thời gian thực hiện nghiên cứu.
Cám ơn các thầy cô giáo trong bộ môn bệnh học thủy sản đã tạo điều kiện
cho em về trang thiết bị cũng như địa điểm nghiên cứu.
Cám ơn các anh và các chú chủ bè nuôi tôm hùm tại khu vực Hòn Một,
Nha Trang đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thu mẫu.
Cám ơn các bạn trong tập thể lớp 46BH thực tập tại phịng thí nghiệm bộ
môn Bệnh học thủy sản đã hỗ trợ và giúp đỡ khi em gặp khó khăn trong nghiên
cứu.
Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với bố mẹ luôn tận tâm
động viên,chỉ bảo và ủng hộ con trên bước đường con đi.
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hà


ii

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn .......................................................................................................... i
Mục lục ..............................................................................................................ii
Danh mục các bảng ........................................................................................... iv
Danh mục các hình ............................................................................................. v


Giải thích các thuật ngữ viết tắt ........................................................................ vii
Lời mở đầu ......................................................................................................... 1
PHẦN I: TỔNG QUAN ..................................................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu bệnh ở tôm hùm trên thế giới..................................... 3
1.1.1. Bệnh do vi khuẩn ...................................................................................... 3
1.1.2. Bệnh do nấm............................................................................................. 4
1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh trên tôm hùm ở Việt Nam............................. 6
1.3. Tổng quan về bệnh sữa trên tôm hùm ở Việt Nam và một số bệnh trên
giáp xác có dấu hiệu tương tự như bệnh sữa ....................................................... 7
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................... 13
2.1. Đố tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu .............................................. 13
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 13
2.1.2. Thời gian ngiên cứu ................................................................................ 13
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu............................................................................... 13
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu................................................................. 13
2.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 15
2.3.1. Thu mẫu ................................................................................................. 16
2.3.2. Cố định và bảo quản mẫu........................................................................ 16
2.3.3. Phương pháp xử lý mẫu .......................................................................... 16
2.3.4. Đúc parafin ............................................................................................. 17
2.3.5. Cắt lát mẫu ............................................................................................. 17
2.3.6. Nhuộm Hematocyline và Eosin............................................................... 17


iii

2.3.7. Đọc kết quả mô trên tiêu bản .................................................................. 18
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 19
3.1. Số lượng mẫu đã phân tích......................................................................... 19
3.2. Các dấu hiệu chính của tơm hùm bông bị bệnh sữa.................................... 19

3.3. Mô học các tổ chức cơ quan của tôm hùm bông khỏe mạnh....................... 21
3.3.1. Mô mang ................................................................................................ 21
3.3.2. Mô gan tụy ............................................................................................. 22
3.3.3. Mô mắt ................................................................................................... 23
3.3.4. Mô cơ ..................................................................................................... 24
3.3.5. Mô tim.................................................................................................... 25
3.3.6. Biểu mô dưới vỏ ..................................................................................... 25
3.3.7. Mô ruột................................................................................................... 26
3.3.8. Mô sinh dục ............................................................................................ 27
3.3.9. Mô dạ dày............................................................................................... 28
3.4. Kết quả phân tích mẫu mơ bệnh học tơm hùm bơng bị bệnh sữa................ 29
3.4.1. Mô gan tụy ............................................................................................. 29
3.4.2. Mô mang ................................................................................................ 31
3.4.3. Mô mắt ................................................................................................... 32
3.4.4. Mô dạ dày............................................................................................... 33
3.4.5. Mô tim.................................................................................................... 33
3.4.6. Mô cơ ..................................................................................................... 34
3.4.7. Mô sinh dục ............................................................................................ 35
3.4.8. Mô ruột................................................................................................... 35
3.4.9. Biêu mô dưới vỏ ..................................................................................... 36
3.4.10. Một số biến đổi khác............................................................................. 37
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN.............................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 ........................................................................................................... 6

Bảng 3.1 ......................................................................................................... 19


v

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Vi khuẩn cong trong máu tơm bị bệnh sữa ............................................. 8
Hình 1.2. Mơ gan tụy tơm hùm bơng bị bệnh sữa nặng .......................................... 9
Hình 1.3. Các thể vùi dạng Cowdry-type A trong xoang máu mô liên kết các
ống gan tụy.......................................................................................................... 11
Hình 1.4. Mơ bệnh học của gan tụy cua châu âu (Carcinus maenas) bị
bệnh sữa do vi khuẩn giống với Rickettsia (RLB) gây ra ..................................... 12
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu........................................................... 14
Hình 2.2. Sơ đồ các bước tiến hành của kỹ thuật mô bệnh học ở giáp xác theo D.
V. Lightner, 1996 ................................................................................................ 15
Hình 3.1. Hình ảnh biểu thị các dấu hiệu chính của tơm hùm khi bị bệnh sữa...... 20
Hình 3.2. Vị trí giải phẫu một số cơ quan của tơm hùm bơng Panulirus ornatus . 21
Hình 3.3. Mơ mang của tơm hùm bơng Panulirus ornatus................................... 22
Hình 3.4. Mơ gan tụy của tơm hùm bơng Panulirus ornatus................................ 23
Hình 3.5. Mơ mắt của tơm hùm bơng Panulirus ornatus ..................................... 24
Hình 3.6. Mơ cơ của tơm hùm bơng Panulirus ornatus........................................ 24
Hình 3.7. Mơ tim của tơm hùm bơng Panulirus ornatus ...................................... 25
Hình 3.8. Biểu mô dưới vỏ của tôm hùm bông Panulirus ornatus ....................... 25
Hình 3.9. Mơ ruột của tơm hùm bơng Panulirus ornatus ..................................... 26
Hình 3.10. Mơ sinh dục đực của tơm hùm bơng Panulirus ornatus...................... 27
Hình 3.11. Buồng trứng của tơm hùm bơng Panulirus ornatus ............................ 28
Hình 3.12. Mơ dạ dày của tơm hùm bơng Panulirus ornatus ............................... 28
Hình 3.13. Sự biến đổi trên mô gan tụy tôm hùm bông bị bệnh sữa ..................... 30
Hình 3.14. Sự biến đổi trên mơ mang của tơm hùm bơng bị bệnh sữa.................. 31

Hình 3.15. Sự biến đổi trên mô mắt của tôm hùm bông bị bệnh sữa .................... 32
Hình 3.16. Sự biến đổi mơ dạ dày của tôm hùm bông bị bệnh sữa ....................... 33
Hình 3.17. Sự biến đổi mơ tim của tơm hùm bơng bị bệnh sữa ............................ 34
Hình 3.18. Sự biến đổi mô cơ của tôm hùm bông bị bệnh sữa.............................. 34


vi

Hình 3.19. Sự biến đổi mơ sinh dục của tơm hùm bơng bị bệnh sữa .................... 35
Hình 3.20. Sự biến đổi của mô ruột tôm hùm bông bị bệnh sữa ........................... 36
Hình 3.21. Sự biến đổi biểu mơ dưới vỏ của tơm hùm bơng bị bệnh sữa.............. 36
Hình 3.22. Thể vùi nằm ngồi nhân trong mơ gan tụy và mơ mang tơm hùm
bơng bị bệnh sữa ................................................................................................. 37
Hình 3.23. Thể vùi nằm ngồi nhân trong mơ tim và mơ ruột của tơm hùm bơng
bị bệnh sữa .......................................................................................................... 37
Hình 3.24. Thể vùi nằm ngồi nhân trong mơ cơ và biểu mơ dưới vỏ của tơm
hùm bơng bị bệnh sữa.......................................................................................... 38
Hình 3.25. Thể vùi nằm ngồi nhân trong mơ dạ dày tơm hùm bơng bị bệnh sữa
............................................................................................................................ 38
Hình 3.26. Thể vùi nằm ngồi nhân trong mơ dạ dày và biểu mơ dưới vỏ của
tơm hùm bơng bình thường.................................................................................. 38


vii

GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
RLB: rickettsial-like bacteria
BNN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NAFIQAVED: Cục quản lý chất lượng, an tiàn vệ sinh và thú y thủy sản



1

LỜI NĨI ĐẦU
Tơm hùm gai Panulirus spp. là hải sản có giá trị kinh tế cao thuộc họ
Palinuridae. Ở Việt Nam giống Panulirus có các lồi xếp theo thứ tự giá trị kinh
tế như sau:
Tôm hùm bông P. ornatus (Fabricius, 1798)
Tôm hùm đá P. homarus (Linnaeus, 1758)
Tôm hùm sỏi P. stimpsoni (Holthuis, 1963)
Tôm hùm đỏ P. longipes (Edwards, 1868)
Tôm hùm ma P. penicilatus (Olivier, 1791)
Tôm hùm bông P. ornatus hay cịn gọi là tơm hùm sao là lồi có kích
thước cơ thể lớn, có cá thể đạt khối lượng 9kg, thịt ngon và giàu giá trị dinh
dưỡng, là đối tượng nuôi chủ yếu của các lồng nuôi tôm hùm hiện nay.
Các tỉnh Nam Trung bộ là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi (nhiều vịnh,
ít sóng gió, ít cửa sông nên độ mặn cao và ổn định quanh năm) cho việc nuôi các
đối tượng thủy sản biển, đặc biệt là các lồi tơm hùm thuộc giống Panulirus.
Ni tơm hùm lồng xuất hiện ở nước ta tương đối sớm từ những năm 1990. Cả
nước có khoảng 35.000 lồng ni, trong đó khoảng 20.000 lồng tập trung trong
các thủy vực ở Khánh Hịa (Lê Anh Tuấn, 2006). Các lồng ni biển này tạo gần
2000 tấn sản phẩm có giá trị trên 40 triệu USD/năm trong những năm gần đây
(Lê Anh Tuấn, 2006).
Tuy vậy, nghề nuôi tôm hùm vẫn thường xuyên bị thiệt hại do các loại
bệnh khác nhau (Võ Văn Nha, 2003). Đến cuối năm 2006 xuất hiện một dạng
bệnh lạ trên tôm hùm được gọi là bệnh sữa. Bệnh gây chết tôm hùm ở các tỉnh
Nam Trung bộ, đặc biệt là ở những vùng nuôi tôm hùm trọng điểm như Phú n,
Khánh Hịa và Ninh Thuận. Bệnh có một số dấu hiệu rất đặc trưng như: các đốt ở
phần bụng của tôm chuyển sang màu trắng đục như sữa; máu và các dịch tiết của
cơ thể có màu đục như sữa hay hồng đục; cơ thịt tôm chuyển sang màu trắng đục

hay vàng đục và nhão; gan tụy chuyển màu nhợt nhạt, có trường hợp bị hoại tử.
Bệnh này lan rộng dần, đến tháng 8-9/2007 đã trở thành dịch gây chết tôm ở hầu


2

hết các lồng nuôi tại Cam Ranh, Vạn Ninh, Nha Trang (Khánh Hịa), tại Sơng
Cầu (Phú n) và tại các vùng nuôi tôm của tỉnh Ninh Thuận. Thiệt hại do bệnh
gây ra là rất lớn, ước tính lên đến 161,9 tỉ đồng chiếm 86,6% so với tổng thiệt hại
do bệnh ở tôm hùm nuôi. Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2007 của Bộ
NN&PTNT, bệnh tôm hùm sữa đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh
tế xã hội của các cộng đồng dân cư có nghề ni tơm hùm làm nguồn thu nhập
chính.
Do tính chất nghiêm trọng của bệnh, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã cử một
tổ công tác đặc biệt trong đó có sự tham gia của Trường Đại học Nha Trang,
Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III và NAFIQAVED nhằm giải quyết bệnh
dịch. Sau hai tháng khẩn trương thực hiện, tổ công tác đã bước đầu đưa ra được
kết luận về nguyên nhân chính gây ra bệnh sữa trên tôm hùm là vi khuẩn tựa như
Rickettsia (Rickettsial-like bacteria-RLB), sống kí sinh nội bào. Nhóm phân tích
mẫu đã có sự kết hợp của nhiều phương pháp chẩn đốn bệnh như phương pháp
kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM), phương pháp PCR, phương pháp mô
học…Tuy nhiên, do chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn nên những nghiên
cứu về mô học của tôm hùm bị bệnh sữa mới chỉ dừng lại ở ba tổ chức mô là mô
mang, mô gan tụy và mô cơ. Do đây bệnh tôm hùm sữa là kết quả của hiện tượng
vi khuẩn cảm nhiễm hệ thống nên ngoài những cơ quan nói trên rất có thể vi
khuẩn này cịn xâm nhập và gây biến đổi ở nhiều tổ chức cơ quan khác. Xuất
phát từ nhận định trên tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự biến đổi trong các
tổ chức cơ quan của tôm hùm bông (Panulirus ornatus, Fabricius 1798) bị bệnh
sữa bằng phương pháp mô bệnh học”. Đề tài gồm các nội dung sau (i) nghiên
cứu mô học các tổ chức cơ quan của tôm hùm bông khỏe (ii) sự biến đổi bệnh lý

ở các tổ chức cơ quan của tôm hùm bông bị bệnh sữa so với mô học của tơm hùm
bơng khỏe. Mục đích của đề tài là nhằm tìm ra có hay khơng có sự biến đổi trên
các tổ chức cơ quan khác ngoài mang, gan tụy và cơ, góp phần xây dựng phương
pháp chẩn đốn một cách chính xác bệnh sữa trên tơm hùm, từ đó làm cơ sở cho
những nghiên cứu tiếp theo về bệnh này.


3

PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu bệnh ở tôm hùm trên thế giới
Các nghiên cứu về bệnh ở tôm hùm trên thế giới chủ yếu tập trung trên
giống Homarus do đây là giống có giá trị kinh tế và được nuôi phổ biến ở châu
Âu và châu Mỹ. Những bệnh thường gặp nhất trên đối tượng nuôi này là (a) bệnh
do vi khuẩn, (b) bệnh do nấm.
1.1.1. Bệnh do vi khuẩn
Các bệnh do vi khuẩn gây ra trên tôm hùm chủ yếu là bệnh vỏ và bệnh đỏ
đuôi (gaffkemia).
Bệnh vỏ
Bệnh vỏ trên các loài động vật thủy sản giáp xác là hội chứng lớp vỏ
ngoài bị phân giải chitin và hoại tử. Bệnh vỏ trên tôm hùm Homarus americanus
đã được nghiên cứu bởi Sinderman (1971), Fisher et al. (1978).
Bệnh vỏ lần đầu tiên được ghi nhận bởi Hess (1937). Ông đã quan sát một
dịch bệnh khác thường xảy ra trong suốt những tháng mùa đông năm 1935-1936
trên tôm hùm với dấu hiệu trên vỏ tôm (thân, đuôi, chân và càng) xuất hiện các
hốc lõm. Hess phân lập được một loại vi khuẩn phân giải chitin, Gram âm từ các
vết thương tổn. Ơng cho rằng đó là một loại vi khuẩn giống với Bacillus
chitinovorus.
Bệnh vỏ chỉ xảy ra khi lớp vỏ ngồi bị ăn mịn cơ học, sau đó phải có sự
xâm nhập của một số lượng đủ lớn các vi sinh vật phân giải chitin. Các vi sinh

vật này sẽ tấn cơng vào hai lớp chitin phía dưới (lớp ngoại bì và lớp canxi nội bì)
và hầu như không bao giờ tấn công vào sâu các lớp bên trong (Stewart, 1984).
Do bệnh không bao giờ xâm nhập vào các lớp mơ bên dưới nên những con bị
bệnh có thể khỏi sau khi lột xác. Điều đó trong thực tế đã xảy ra trên cua xanh
Callinectes sapidus (Stewart, 1984) và trên tôm hùm châu Mỹ Homarus
americanus (Mc Leese & Wilder, 1964).
Nhân tố quyết định đến bệnh vỏ trên tôm hùm và những loài giáp xác
khác là do lớp vỏ ngồi bị chọc thủng và khơng thể phục hồi được. Nguyên nhân


4

làm cho vỏ ngồi khơng thể phục hồi được có thể là do khi bị tổn thương cơ học,
các vi sinh vật xâm nhập vào lớp biểu mô dưới vỏ, sản sinh ra một lượng enzyme
lớn làm phân giải lớp vỏ, hay do nhiệt độ môi trường bất lợi, chế độ dinh dưỡng
không đầy đủ, môi trường ô nhiễm.
Fisher et al. (1978) cũng cho biết chế độ ăn là một nhân tố vơ cùng quan
trọng có liên quan đến bệnh vỏ trên tôm hùm châu Mỹ (ở giai đoạn juvenile).
Theo đó, tơm hùm khi cho ăn thức ăn tổng hợp sẽ khơng có lớp vỏ chắc chắn như
cho thức ăn là tôm,cá và động vật thân mềm cỡ nhỏ nước mặn. Tỉ lệ chết do bệnh
vỏ ở tôm hùm giống khi cho ăn thức ăn tổng hợp lên đến 80%. Vi khuẩn phân
giải chitin, Gram âm được tìm thấy từ hầu hết những con tôm bệnh.
Bệnh đỏ đuôi (gaffkemia)
Gaffkemia lần đầu tiên được nghiên cứu bởi Snieszko & Taylor (1947)
(theo Stewart, 1984), tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc
ơvan và được xác định là lồi Aerococcus viridans (var.) homari. Bệnh đã được
thông báo và tổng hợp bởi Sinderman (1971), và Fisher et al. (1978).
Tác nhân gây bệnh được phân lập từ cả những con tôm hùm nuôi châu Mỹ
và những con tôm hoang dã ở bờ biển Đại Tây Dương (Stewart, 1984), nơi mà
bệnh gaffkemia đã gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế, đặc biệt là trong những hệ

thống nuôi công nghiệp. Bệnh gặp cả trên tôm hùm H. americanus và H.
vulgaris. Ở giai đoạn cuối của bệnh thường gặp dấu hiệu đặc trưng là đuôi tôm
chuyển sang màu đỏ.
Aerococcus viridans (var.) homari thiếu ngoại enzyme nên phải xâm nhập
vào vật chủ thông qua các vết thương hở (Lavallée et al. 2001). Vi khuẩn sau khi
xâm nhập vào cơ thể sẽ tập trung đầu tiên ở mô gan tụy và mô tim, sau đó nhân
lên rất nhanh trong hệ tuần hồn (Stewart & Arie, 1973).
1.1.2. Bệnh do nấm
Phần lớn các báo cáo về tác hại của nấm kí sinh gây bệnh trên đối tượng
tôm hùm nuôi Homarus americanus. Các báo cáo này được tổng hợp lại bởi
Sinderman (1971), Fisher et al. (1978) và Stewart (1984). Bệnh nấm được nghiên


5

cứu lần đầu tiên bởi Herrick (1909) (theo Stewart, 1984) khi ông quan sát một
dịch bệnh trên tôm hùm giống xảy ra vào năm 1902 ở Woods Hole. Các loại nấm
gây bệnh trên tôm hùm chủ yếu thuộc ba giống Fusarium, Lagenidium và
Haliphthoros.
Bệnh nấm trên tôm hùm H. americanus chưa trưởng thành (86mm chiều
dài thân) đã làm hao hụt trên 30% sau 12 tháng nuôi với dấu hiệu lớp vỏ bên
ngoài xuất hiện các chấm đen (Lightner & Fontaine, 1975). Sợi nấm và bào tử
đính được phân lập là một loài thuộc giống Fusarium được quan sát thấy trên tơ
mang của tôm hùm bị bệnh. Lát cắt mô học lớp vỏ ngồi cho thấy sự có mặt của
sợi nấm trên lớp vỏ cuticul và lớp mô bên dưới. Lightner & Fontaine cho rằng
bệnh này cũng tương tự với bệnh đen mang do nấm Fusarium gây ra trên tôm
Penaeus japonicus.
Fisher et al., 1978 cho biết về tác hại của nấm trên tôm hùm ấu trùng và
tôm hùm giống Homarus được nuôi trong một hệ thống nước bán khép kín ở
200C. Tác nhân gây bệnh là nấm Haliphthoros milfordensis. Nấm thường xâm

nhập từ hai điểm: (1) từ phía dưới giáp đầu ngực kéo dài đến hết vùng mang và
ăn sâu vào mô cơ phía trong; (2) từ khớp xương nối các đốt của phần phụ. Tôm
chết là do kết quả của quá trình các mơ bị phá hủy. Trong cơ thấy rõ sự xâm nhập
của nấm thơng quan việc hình thành các nang melanie, tuy nhiên các túi
melanine này khơng được tìm thấy ở mô mang. Bệnh chỉ xảy ra trên những con
tơm giống có lớp vỏ cịn mỏng, những con lớn hơn với lớp vỏ dày hơn có thể
tránh được bệnh.
Loại nấm thường gây bệnh thứ ba trên tôm hùm là một loài thuộc giống
Lagenidium (Nilson et al., 1976). Nấm này gây bệnh trên ấu trùng tơm hùm châu
Mỹ, nó thường xâm nhập vào sâu các mơ phía bên trong và gây tỉ lệ chết lên đến
90% hoặc hơn.


6

1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh trên tơm hùm ở Việt Nam
Nhìn chung, ở Việt Nam các nghiên cứu trên tôm hùm chủ yếu tập trung
vào đặc điểm sinh học sinh sản, con giống, dinh dưỡng và tình hình khai thác
nguồn lợi tự nhiên. Các nghiên cứu về bệnh cịn tương đối ít.
Võ Văn Nha (2003) khi điều tra về các bệnh thường gặp trên tôm hùm
nuôi lồng ở Cam Ranh, Vạn Ninh (Khánh Hịa) và Sơng Cầu (Phú Yên) đã cho
kết quả tôm hùm nuôi tại các địa phương này thường bắt gặp một số dấu hiệu
bệnh đặc trưng như trắng râu, long đầu, đầu to, mềm vỏ, đỏ thân, phồng mang,
mịn đi, dính vỏ, đóng sum/hà, “chết xanh” và mang “cục nhầy”.
Bảng 1.1. Một số dấu hiệu bệnh thường gặp ở tôm hùm bông nuôi lồng tại Vạn
Ninh, Cam Ranh (Khánh Hịa) và Sơng Cầu (Phú n) đầu năm 2003. (Võ Văn
Nha, 2003)

STT


Dấu hiệu đặc
Giai đoạn tôm
trưng

Mô tả dấu hiệu bệnh lý

Tác hại của
bệnh

Tồn bộ thân tơm chuyển
sang màu hồng, tôm yếu
dần, bỏ ăn và chết

Chết rải rác
đến chết hàng
loạt

Mang tôm thối rữa và
chuyển màu đen

Chết rải rác
đến chết hàng
loạt

1

Đỏ thân

Tôm con, tôm
trưởng thành


2

Đen mang

Tôm con, tôm
trưởng thành

3

Phồng mang

Mang tơm phồng lên, có
Chết rải rác
Tơm con, tơm
chất dịch vàng dưới lớp biểu đến chết hàng
trưởng thành
bì nắp mang
loạt

4

Đầu to

Phần giáp đầu ngực tôm rất Chết rải rác
Tôm con, tôm
lớn, khác thường, phần thân đến chết hàng
trưởng thành
và đuôi nhỏ
loạt


5

6

Long đầu

Mềm vỏ

Tôm con, tôm
trưởng thành

Phần giáp đầu ngực và phần
Chết rải rác
thân long ra, có chất dịch
đến chết hàng
bên trong lớp biểu bì khu
loạt
vực này

Tồn bộ cơ thể tôm mềm
Tôm trưởng
kéo dài như lúc tôm vừa mới
thành
lột xác

Chết rải rác


7


7

Trắng râu

Tôm con

Râu 1 chuyển từ nâu sang
vàng, hồng rồi sang trắng

Chết hàng loạt

8

Đóng sum/hà

Tơm trưởng
thành

Nhìn bề ngồi thấy sum, hà
bám ở phần giáp đầu ngực,
ức ngực

Chết rải rác

Màu sắc tơm khác với màu
Tơm con, tơm săc bình thường, đi tơm bị
trưởng thành ăn mịn, giai đoạn bệnh nặng
có thể đi bị cụt


Chết rải rác

9

Mịn đi
(cháy đi)

Bệnh đen mang do nấm trên tôm hùm bông đã được thông báo bởi Đỗ Thị
Hòa (2004), Võ Văn Nha (2003). Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là mang tơm bị
đen, nếu nặng có thể dẫn đến thối rữa. Từ những con tôm bị bệnh thu được tại
các lồng nuôi đã phân lập được nấm Fusarium sp.
Bệnh do vi khuẩn gây ra trên tôm hùm được báo cáo bởi Võ Văn Nha
(2003), Võ Văn Nha & Đỗ Thị Hòa (2003). Theo các báo cáo này thì có bốn
giống vi khuẩn thường gây bệnh trên tôm hùm ở Việt Nam: Vibrio, Aeromonas,
Pseudomonas và Proteus. Tuy nhiên tần số bắt gặp các giống vi khuẩn này là
khác nhau trong đó vi khuẩn Vibrio có tần số bắt gặp cao nhất. Võ Văn Nha &
Đỗ Thị Hòa (2003) nghiên cứu về bệnh đỏ thân trên tôm hùm bơng qua thí
nghiệm cảm nhiễm đã tái phân lập được vi khuẩn V. alginolitycus nên có thể
khẳng định V. alginolitycus là tác nhân chính gây ra bệnh này.
1.3. Tổng quan về bệnh sữa trên tôm hùm ở Việt Nam và một số bệnh trên
giáp xác có dấu hiệu tương tự như bệnh sữa
Cuối năm 2006, một số vùng nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam xuất hiện
một loại bệnh lạ đã gây chết nhiều tơm hùm ni gồm nhiều lồi khác nhau tại
Khánh Hòa và Phú Yên với các dấu hiệu rất dễ nhận biết như: các đốt ở phần
bụng của tôm bệnh chuyển sang màu trắng đục, các chất dịch tiết của cơ thể bao
gồm cả máu tôm bệnh bị đục như sữa, mô cơ chuyển sang màu trắng đục hay
vàng đục và nhão, gan tụy chuyển màu nhợt nhạt và có trường hợp bị hoại tử,
mang tơm bệnh có thể bình thường hoặc khơng bình thường. Bệnh này lan rộng



8

dần và đến tháng 8-9/2007 đã trở thành dịch gây chết ở hầu hết các lồng nuôi tại
Cam Ranh, Vạn Ninh, Nha Trang (Khánh Hịa), tại Sơng Cầu (Phú n) và tại
vùng nuôi tôm của tỉnh Ninh Thuận. Sự thiệt hại do bệnh gây ra là rất lớn đối với
những người nuôi tôm hùm tại các địa phương này do đó thu hút sự quan tâm của
các nhà khoa học trong và ngoài nước và các nhà quản lý.
Bộ NN&PTNT (2007) khi cử tổ công tác giải quyết dịch bệnh tôm hùm đã
áp dụng rất nhiều các phương pháp nghiên cứu tồn diện về kí sinh trùng, nấm,
vi khuẩn, virus. Kết quả nghiên cứu về kí sinh trùng cho thấy trên tơm hùm bị
bệnh gặp một số loại kí sinh trùng thông thường ở giáp xác như trùng loa kèn
(Zoothamnium sp.) kí sinh ở mang và một số phần phụ của tơm, giun trịn kí sinh
ở mang nhưng cường độ cảm nhiễm rất thấp (9.5% với Zoothamnium sp.và 5.7%
với giun trịn). Hai loại kí sinh trùng này đều gặp ở cả tôm bệnh và tôm khỏe nên
tác giả kết luận chúng không phải là tác nhân gây bệnh sữa.
Kết quả nghiên cứu về nấm cho thấy hầu hết các con tôm bị đục thân và
đục máu nhưng không bị đen mang thì khơng phân lập được nấm gây bệnh trên
cơ thể tôm. Ở các con tôm bị bệnh sữa kèm theo dấu
hiệu mang bị đen và mòn cụt phân lập được nấm
Fusarium solani. Tuy vậy còn tới 50 con trong tổng
số 60 con tôm hùm bị bệnh sữa nhưng lại không
phân lập được loại nấm này, do vậy Fusarium solani
không phải là tác nhân gây bệnh này.
Kết quả kiểm tra nhanh cho thấy trong huyết
tương máu và mô gan tụy của tất cả các con tôm bị
bệnh tồn tại một loại vi khuẩn bắt màu Gram âm,
cong nhiều như vành trăng hay cong ít giống phẩy

Hình 1.1. Vi khuẩn cong
trong máu tơm bệnh. Ảnh

chụp TEM (Đỗ Thị Hịa và
nhóm phân tích mẫu tơm
hùm sữa, 2007)

khuẩn, kích thước khoảng 1-1.5µm. Trong khi đó, ở
các con tơm chưa thể hiện dấu hiệu của bệnh sữa thì trong máu hồn tồn khơng
gặp loại vi khuẩn này.


9

Mặc dù tồn tại một số lượng rất lớn và khá đồng nhất trong máu và mô
gan tụy nhưng kết quả nuôi cấy để phân lập loại vi khuẩn này trên nhiều môi
trường khác nhau (TCBS, NA, TSA, BA, MHA, RS, Strep A, BHIA và ni cấy
vi hiếu khí) đều không thu được kết quả, không phân lập được loại vi khuẩn cong
tồn tại trong máu, mang và gan tụy tơm bệnh.
Kết quả phân tích mơ bệnh học cho thấy từ lát cắt mô mang, mô gan tụy
của những con tơm bệnh có sự biến đổi khác biệt rõ ràng so với mơ của tơm chưa
bị bệnh sữa, đó là sự tồn tại của các khuẩn lạc vi khuẩn đặc trưng cho loại vi
khuẩn kí sinh nội bào giống với Rickettsia (Rickettsia like bacteria-RLB). Ở
những con bị bệnh sữa nặng biến đổi mô học của gan tụy cho thấy RLB đã tràn
ngập và chiếm chỗ hết xoang của mạch máu trong mô liên kết của gan tụy. Trên
mô mang các khuẩn lạc này chiếm chỗ trong các tơ mang sơ cấp và tơ mang thứ
cấp. Trong mơ cơ rất ít gặp sự phân bố của RLB, nếu có thì khơng đáng kể. Các
lát cắt mô cơ những con bệnh nặng không thể hiện sự thay đổi nhiều về cấu trúc,
chỉ đơi chỗ các cơ vân có hiện tượng nhão, chun lại.
Mẫu bệnh phẩm gửi đến phân tích tại phịng
thí nghiệm của GS.TS. Lightner. Ông và các cộng
sự đã sử dụng phương pháp hóa mơ miễn dịch và
phương pháp lai DNA kết quả cho thấy các mẫu

tôm sữa đã thể hiện dương tính rõ ràng với vi
khuẩn tựa Rickettsia (Rickettsia like bacteria-RLB)
kí sinh nội bào. Kết quả PCR dương tính khi dùng
primer để phát hiện RLB trên tôm sú ở Đông Phi.

Hình 1.2. Mơ gan tụy tơm
hùm bơng bị bệnh sữa
nặng. (Đỗ Thị Hòa, 2007)

Sản phẩm PCR đạt 96% tương đồng với RLB và vi
khuẩn đất theo thông tin từ ngân hàng gene quốc tế. Kết quả này cũng phù hợp
với nhận định của các nhà khoa học Việt Nam tuy nhiên do đây là loại vi khuẩn
khó mọc, chưa ni cấy định danh được nên cần tiếp tục những nghiên cứu sâu
hơn để định danh được chính xác tác nhân gây bệnh. Theo các thông báo về bệnh
của Eddy et al. (2007), có thể dùng một số loại kháng sinh để chữa trị tôm bệnh


10

trong điều kiện thí nghiệm. Các nhà khoa học Việt Nam cũng đã thử nghiệm
chữa trị bệnh sữa bằng một số loại kháng sinh và đưa ra kết luận như sau:
Bệnh sữa trên tơm hùm có thể chữa trị bằng cách tiêm kháng sinh kết hợp
bổ sung vitamine, khoáng chất, chế phẩm sinh học vào thức ăn.
Hai loại kháng sinh Enrofloxacin và Oxytetracycline cho hiệu quả tương
tự như nhau. Tuy nhiên do yêu cầu của các thị trường xuất khẩu cần khuyến cáo
người nuôi sử dụng Oxytetracycline để trị bệnh sữa cho tôm hùm.
Việc trị bệnh bằng kháng sinh chỉ là giải pháp tình thế, cần nghiên cứu
biện pháp tổng thể nhằm phịng ngừa bệnh sữa nói riêng và các bệnh thường gặp
trên tơm hùm nói chung để đảm bảo phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản
ven biển.

Một bệnh khác cũng có dấu hiệu giống với bệnh sữa là bệnh tôm bông ở
tôm he hay bệnh tôm sữa. Bệnh này được biết là xảy ra trên nhiều đối tượng tôm
he ở Việt Nam và trên thế giới (Đỗ Thị Hịa, 2004). Tơm bệnh thường thể hiện
các vùng cơ vân hay mô của một số tổ chức cơ quan bị nhiễm có màu trắng đục.
hiện tượng trắng đục dễ nhận biết nhất khi chúng xuất hiện tại các vùng cơ vân ở
mặt lưng của của phần bụng. Khi bệnh nặng, màu trắng đục có thể xuất hiện ở
nhiều tổ chức cơ quan khác nhau. Nếu bệnh xuất hiện ở tơm ấu trùng, dưới kính
hiển vi có thể thấy nhiều vùng cơ vân của ấu trùng bị đục mờ. Tác nhân gây bệnh
là trùng vi bào tử thuộc ba giống Thelohania Hennguy, 1892 (agmasoma),
Pleistophora Gurley, 1893 (Plistophora) và Ameson (Nosema). Mơ cơ nhiễm vi
bào tử khi quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại cao có thể thấy các bào tử
có kích thước nhỏ. Trên các lát cắt mơ nhuộm H&E cho thấy có sự chiếm chỗ
của các vi bào tử trong mô cơ hay mô gan tụy, chúng bắt màu hồng tím của
Hematocyline.
Trên thế giới cũng đã có một số báo cáo về các bệnh có dấu hiệu tương tự
với bệnh sữa ở tôm hùm Việt Nam trên các đối tượng giáp xác.
Shield & Behringer (2004) đã thông báo về một loại bệnh gần giống với
bệnh tôm hùm sữa ở Việt Nam với dấu hiệu đặc trưng là máu đục như sữa. Bệnh


11

xảy ra trên tôm hùm Panulirus argus ở Florida Keys và chỉ xuất hiện ở giai đoạn
juvenile. Tác nhân gây bệnh được xác định là một
loại virus khơng có vỏ bọc, có dạng hình khối 20
mặt (icosahedral) kí sinh trong nhân và màng
nhân của tế bào, đồng thời cũng thấy sự có mặt
của virus trong tế bào chất của tế bào máu và
huyết tương. Ông đặt tên cho tác nhân gây bệnh
là Panulirus argus virus 1 (PaV1). Kết quả mô

học cho thấy nhân tế bào máu bị phì đại và có các
thể vùi dạng Cowdry-type A. Ở những con bị
bệnh nặng, hầu hết các tế bào máu khơng hạt và

Hình 1.3. Các thể vùi dạng
Cowdry-type A trong xoang
máu mô liên kết các ống gan
tụy (Li et al., 2007)

bán hạt đều bị phá hủy trong khi các tế bào máu có hạt không bị ảnh hưởng. Khi
nghiên cứu sâu hơn về bệnh này Li et al. (2008) cho biết, PaV1 cảm nhiễm vào
mô gan tụy, mô mang, mô tim, ruột trước, ruột sau, các tế bào của hạch thần kinh
và biểu mô dưới vỏ.
Theo Eddy et al. (2007) cho biết, gần đây có một loại bệnh lạ xuất hiện
trên cua biển châu Âu Carcinus maenas với dấu hiệu máu đục như sữa. Bệnh
thường xảy ra vào mùa hè khi nhiệt độ nước tăng cao và gây tỉ lệ chết hơn 26%.
Tác nhân gây bệnh là một loại vi khuẩn Gram âm, không nuôi cấy được trên các
loại môi trường nuôi cấy vi khuẩn thông thường. Cua bệnh số lượng các tế bào
máu tự do và protein huyết tương giảm đáng kể trong khi hàm lượng glucose và
amoniac trong máu tăng. Tác nhân gây bệnh nhân lên trong các thực bào cố định
của mơ liên kết ở gan tụy sau đó cũng xâm nhập vào trong xoang máu. Kết quả
phân tích 16S rRNA của vi khuẩn gây bệnh này cho thấy đây là một loại vi
khuẩn chưa được xác định, thuộc giống α-proteobacteria. Loại vi khuẩn này có
sự tương đồng với các loài trong bộ Rickettsiales.


12

Hình 1.4. Mơ bệnh học của gan tụy cua châu âu (Carcinus maenas) bị bệnh sữa
do vi khuẩn giống với Rickettsia (RLB) gây ra. Hình ảnh thể hiện các khuẩn lạc

của RLB xâm nhập trong mô liên kết của gan tụy của bệnh (Eddy et al.,2007)


13

PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tơm Hùm Bơng Panulirus Ornatus, Fabricius
1798. Lồi tơm này có hệ thống phân loại như sau:
Ngành Arthropoda
Lớp Malacostraca
Bộ Decapoda
Bộ phụ Pleocyemata
Họ Palinuridae
Giống Panulirus
Loài P. ornatus, Fabricius 1798
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 10 năm 2008.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Phịng thí nghiệm bộ môn Bệnh học thủy sản thuộc khoa Nuôi trồng thủy
sản trường Đại học Nha Trang.
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu


14

Mẫu tôm hùm thu từ các lồng nuôi

Tôm hùm khỏe


Tôm hùm bị bệnh sữa

Phân tích mơ học các
tổ chức cơ quan


mang


gan
tụy

Các dấu hiệu bệnh
chính


dạ
dày


tim


ruột

Phân tích các biến đổi mơ
bệnh học ở các cơ quan



mắt

Biểu

dưới
vỏ

Kết luận về những biến đổi mô bênh học các tổ chức cơ
quan của tôm hùm bông bị bệnh sữa so với tơm hùm
bơng khỏe

Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu





sinh
dục


15

2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu mô bệnh học
cho giáp xác của D.V. Lightner, 1996.
Mẫu nghiên cứu

Tôm hùm bông khỏe mạnh


Tôm hùm bông bị bệnh sữa

Giải phẫu và cố định riêng các tổ chức trong
dung dịch Davidson trong 24-48h

Xử lý mẫu (làm mất nước mẫu bằng cồn, làm
mềm mẫu bằng Methyl Salicylate)

Ngâm
trong
parafin
và đúc
mẫu

Cât
mẫu
bằng
máy cắt
microto
me

Nhuộm
mẫu
bằng
Hematoc
yline &
Eosin

Gắn
Bom

canada

Đọc tiêu bản trên kính hiển vi

Hình 2.2. Sơ đồ các bước tiến hành của kỹ thuật mô bệnh học ở giáp xác theo D.
V. Lightner, 1996


16

2.3.1. Thu mẫu
Thu mẫu để làm đối chứng mô của cơ thể khỏe mạnh bình thường chọn
những con tơm khỏe, khơng có các biểu hiện bất thường về màu sắc, hình
dáng và tập tính.
Thu mẫu bệnh chọn những con có các dấu hiệu đặc thù của bệnh sữa.
Tất cả các mẫu đưa vào nghiên cứu đều phải còn sống, kể cả bệnh nặng,
hấp hối cũng phải còn sống trước khi đưa vào cố định.
Khi thu mẫu cần ghi lại đầy đủ lý lịch của tôm và dán nhãn (etyket) để
tránh nhầm lẫn.
2.3.2. Cố định và bảo quản mẫu
Đây là khâu rất quan trọng, nếu cố định không đúng sẽ làm mất sự chính
xác khi đọc kết quả.
Dùng kéo cắt và tách lớp vỏ giáp ở phần đầu ngực để có thể lấy được
các nội quan.
• Với những cơ quan có kích thước nhỏ chỉ cần dùng kéo và panh
tách ra rồi bỏ vào chai có đựng dung dịch cố định Davidson.
• Với những cơ quan có kích thước lớn dùng xilanh tiêm dung dịch
cố định vào mô của cơ quan đó rồi mới bỏ vào dung dịch cố định
Davidson.
• Để dung dịch cố định ngấm tốt vào các tổ chức mơ, nên dùng tỉ lệ

giữa thể tích tơm và dung dịch cố định là 1/10.
Giữ mẫu trong dung dịch cố định từ 12-36 giờ (thùy theo kích thước
mẫu), sau đó chuyển sang cồn Etanol 70% để bảo quản. Thời gian để
bảo quản trong cồn 70% không giới hạn. Tuy vậy, mẫu càng nhanh xử
lý và cắt lát càng tốt.
Khi cố định và bảo quản cần ghi nhãn để tránh nhầm lẫn.
2.3.3. Phương pháp xử lý mẫu
Chuẩn bị mẫu
Lấy mẫu ra khỏi cồn 70% đặt lên khay sạch.


17

Dùng lưỡi dao lam cắt một phần nhỏ của cơ quan cần nghiên cứu sao
cho các khối mô chỉ nên có độ dày nhỏ hơn 8mm.
Đưa các tổ chức cần nghiên cứu của một mẫu vào trong một hộp để
tránh nhầm lẫn giữa các mẫu khi xử lý.
Xử lý mẫu
Gồm một số bước như sau:
Làm mất nước ở mẫu nghiên cứu.
Lấy mẫu ra khỏi dung dịch bảo quản (cồn 70%)
Ngâm trong cồn Etanol 95% trong 4 giờ.
Ngâm trong cồn Etanol 100% trong 4 giờ.
Ngâm trong Methyl Salicilate từ 12-24 giờ
Ngâm trong parafin nóng chảy ở nhiệt độ 650C trong ít nhất 6 giờ.
2.3.4. Đúc parafin
Sử dụng máy để đổ parafin đã nóng chảy vào khn đã có mẫu, sau đó
đặt khn lên dàn lạnh, sau ít phút có thể tạo ra các khuôn cod chứa
mẫu.
Dùng dao gọt và cắt mẫu thành các khối hình thang cân hoặc hình chữ

nhật.
2.3.5. Cắt lát mẫu
Gắn khối parafin có mẫu vào máy microtom.
Cắt lát có độ dày từ 5-7 micron.
Đưa lát cắt vào nước ấm (40-500C) có bỏ thêm lịng trắng trứng gà
khoảng 1-2 phút để lát cắt giãn, không bị nhăn.
Dùng lam sạch để lấy lát cắt ra khỏi nước.
Đặt lên máy sấy slide ở nhiệt độ 45-600C trong thời gian từ 1-4 giờ
(tùy theo nhiệt độ).
2.3.6. Nhuộm Hematocyline và Eosin
Ở nghiên cứu này thuốc nhuộm được sử dụng là Hematocyline-Mayer, do
đó khi nhuộm thực hiện theo các bước sau:


18

Làm mất parafin: Xylen I: 5 phút
Xylen II: 5 phút
Làm no nước mẫu: Etanol 100%: 2-3 phút
Etanol 100%: 2-3 phút
Etanol 95%: 2-3 phút
Etanol 95%: 2-3 phút
Etanol 80%: 2-3 phút
Etanol 80%: 2-3 phút
Etanol 50%: 2-3 phút
Rửa nước (nhúng trong nước 3-6 lần)
Nhuộm Hematocyline-Mayer: 4-6 phút
Rửa qua nước chảy nhẹ: 4-6 phút
Nhuộm Eosin: 2 phút
Làm mất nước mẫu: Etanol 95%: 10 lần nhúng

Etanol 95%: 10 lần nhúng
Etanol 100%: 10 lần nhúng
Etanol 100%: 10 lần nhúng
Làm trong mẫu: Xylen I: 2-3 phút
Xylen II: 2-3 phút
Dán lamel lên lam có chứa mẫu bằng Bom canada pha sao cho khi
Xylen bay hơi không tạo ra những vùng khơng có keo trên tiêu bản.
Đậy lamel sao cho tiêu bản khơng có bọt khí.
Sau khi làm xong tiêu bản cần dán nhãn đầy đủ.
2.3.7. Đọc kết quả mô bệnh học trên tiêu bản
Đọc kết tiêu bản theo tài liệu “Bệnh học thủy sản” của Đỗ Thị Hòa (2004), và
“An atlas of anatomy for the American lobster, Homarus americanus” của
Alfred P. Famiglietti, DVM và Jeffrey D. Shields, Ph D


×