Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.84 KB, 17 trang )

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-----šš&šš-----

MÔN LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG BIỂN

Tiểu luận kết thúc môn học: Luật Hàng hải quốc tế
Giảng viên: Mai Hải Đăng

Hà Nội – 6/2021
1


Mục lục



Phần mở đầu: Giới thiệu nội dung tiểu luận
Nội dung chính

2
3

Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường
biển

3


Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường



biển

12

Kết luận: Tổng hợp nội dung tiểu luận

2

15


PHẦN MỞ ĐẦU
Môi trường biển từ lâu đã và đang là một trong những vấn đề quan trọng mà Việt
Nam phải xem xét trong quá trình phát triển. Cùng với q trình hội nhập quốc tế,
Việt Nam khơng những đưa ra, hồn thiện những quy định về bảo vệ mơi trường
biển, mà còn cần xem xét chúng sao cho phù hợp với các công ước, quy định được
quốc tế thừa nhận. Tiểu luận: “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam về bảo vệ môi trường biển” sẽ làm rõ hơn hai nội dung này.

3


NỘI DUNG CHÍNH
 Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển:
1. Bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển.
Đa dạng sinh học và tài ngun sinh vật biển đóng vai trị vô cùng quan trọng đối

với đời sống con người. Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng chính sự cân bằng
sinh thái, đa dạng sinh học quyết định sự tiến hóa và sự tồn vong của con người
cũng như sinh vật. Vì vậy, đa dạng sinh học biển, với tính chất là cẩu thành quan
trọng đa dạng sinh học của trái đất, đã và đang có tác động quan trọng tới tiến trình
phát triển của lồi người. Bên cạnh đó, vai trò của tài nguyên sinh vật biển ngày
càng trở nên quan trọng đối với con người trong bối cảnh các nguồn thủy sản của
các quốc gia đang ngày càng khan hiếm do bị khai thác quá mức. Vì vậy, sử dụng
cơng cụ pháp lý với tính chất là cơng cụ hiệu quả để bảo vệ đa dạng sinh học và tài
nguyên sinh vật biển là nhu cầu cấp thiết đối với các quốc gia.
Lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo vệ đa dạng sinh học và tài
nguyên sinh vật biển là minh chứng khá điển hình về cách thức tiếp cận liên ngành,
sự giao thoa và tiếp biển giữa hai công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ hiệu quả
nhất đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển là Luật biển quốc tế và Luật môi
trường quốc tế. về phạm vi điều chỉnh, trong giai đoạn trước khi Công ước luật
biển năm 1982 được thông qua, chế định này chủ yếu tập trung điều chỉnh các hoạt
động khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của các quốc gia. Bởi
vì, vào thời điểm đó, khái niệm và vai trò của đa dạng sinh học gần như chưa được
nghiên cứu, đấnh giá và điều chỉnh trong pháp luật quốc tế cũng như trong khoa
học pháp lý và thực tiễn của các ngành khoa học về sinh học bảo tồn.
Cách tiếp cận đối với bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển của chế
định này chịu ảnh hưởng chủ yếu của các tập quán quốc tế về quản lý và bảo tồn
tài nguyên sinh vật biển. Nói cách khác, các cơng ước Giơ-ne-vơ về luật biển đóng
vai trị chủ yếu là phương tiện pháp điển hóa các tập quán quốc tế về sử dụng biển,
4


trong đó có khai thác, quản lý, sử dụng và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, về nội
dung, pháp luật quốc tế về bảo tồn tài nguyên sinh vật biển trong giai đoạn này đã
tiếp cận bảo vệ tài nguyên sinh vật biển từ góc độ bảo tồn, quy định các biện pháp
bảo vệ tài nguyên sinh vật biển, quy định về quyền và nghĩa vụ quản lý và bảo tồn

sinh vật biển trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền hay biển cả.
Mặc dù đã hình thành khung pháp luật về bảo vệ tài nguyên sinh vật biển, thực tế,
tài nguyên sinh vật biển vẫn tiếp tục suy thối do khai thác q mức và sử dụng
khơng bền vững. Chính vì vậy, các quốc gia tiếp tục phải xây dựng các quy định
pháp luật hiệu quả hơn để khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật biển.
Thứ nhất, về khái niệm tài nguyên sinh vật biển và đa dạng sinh học biển
Theo cách hiểu chung nhất, “tài nguyên thiên nhiên” bao gồm tài nguyên phi sinh
vật như khống sản, dầu khí, gió, hải lưu... và tài nguyên sinh vật gồm động vật,
thực vật, vi sinh vật. Tài nguyên sinh vật được phân biệt với tài nguyên phi sinh vật
ở tính tái tạo với điều kiện được bảo tồn và sử dụng bền vững. Điều 2 Công ước
Đa dạng sinh học giải thích, tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn gen, sinh vật và bộ
phận của chúng, quần thể hay bất kỳ một thành phần hữu cơ nào của hệ sinh thái
đang hoặc có tiềm năng sử dụng hoặc có giá trị đối với con người. Quan điểm trên
về tài nguyên sinh vật chủ yếu tiếp cận từ góc độ giá trị của động, thực vật, sinh
vật và các hình thức tồn tại của chúng trong mối tương quan với con người mà
chưa đề cập tới giá trị tự thân của động, thực vật và các hình thức tồn tại của
chúng. Vì vậy, khái niệm tài nguyên sinh vật cần được hiểu theo cách chung nhất là
tất cả các hình thái sinh vật tìm thấy trên trái đất có giá trị vào thời điểm hiện tại
hoặc có giá trị tiềm ẩn. Theo cách tiếp cận này, tài nguyên sinh vật biển được hiểu
là tất cả các hình thái của động, thực vật được tìm thấy ở biển bao gồm vi sinh yật,
san hô, tảo biển, cá...
Đa dạng sinh học là một khái niệm pháp lý có nguồn gốc từ khoa học bảo tồn.
Điều 2 Công ước đa dạng sinh học giải thích đa dạng sinh học có nghĩa là:
“tính biển thiên (đa dạng) giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm
các hệ sinh thái tiếp giáp, trên đất liền, trên biển, các hệ sinh thái thủy vực khác
5


và các tập hợp sinh thái mà chúng là một bộ phận. Tính đa dạng này thể hiện ở
trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”.

Theo cách giải thích trên, đa dạng sinh học là một thuật ngữ dùng để chỉ mức độ
phong phú và đa dạng của tự nhiên, của toàn bộ tài nguyên được tạo ra từ các hình
thái sống trên trái đất và được thể hiện ở ba cẩp độ đa dạng gen, đa dạng loài và đa
dạng hệ sinh thái. Với cách thức tiếp cận như vậy, đa dạng sinh học biển có thể
được hiểu là sự phong phú của các sinh vật sổng có mơi trường sống hồn tồn
hoặc một phần ở biển được thể hiện ở ba cấp độ đa dạng gen, loài và hệ sinh thái.
Pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học được xây dựng trên
rất nhiều cách tiếp cận và nguyên tắc pháp lý, trong đó bao gồm cách tiếp cận hệ
sinh thái, nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển, nguyên
tắc phòng ngừa, nguyên tắc phát triển bền vững, nguyên tắc trách nhiệm chung
nhưng có sự phân hóa, ngun tắc người gây ơ nhiễm phải bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, xây dựng và quản lý các khu bảo tồn biển
Xây dựng và quản lý khu bảo tồn biển là một trong những cách thức tiếp cận hiện
đại và quan trọng nhất về bảo tồn và phát triển bền vững các lồi động, thực vật
biển. Bởi vì, khu bảo tồn biển chính là hình thức bảo tồn nội vi (in-situ) đa dạng
sinh học, phát triển bền vững các thành phần của đa dạng sinh học như các lồi
sinh vật biển, mơi trường sống tự nhiên và hệ sinh thái biển. Bên cạnh đó, khu bảo
tồn biển cịn có vai trị quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sống cũng như
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hạn chế/giải quyết các xung đột.
Công ước đa dạng sinh học là cơng cụ pháp lý tồn cầu quan trọng nhất điều chỉnh
pháp lý quốc tế đa dạng sinh học đã khẳng định sự thay đổi nhận thức trong cách
tiếp cận đối với bảo tồn sinh vật cũng như tầm quan trọng của hình thức bảo tồn
nội vi trong bảo tồn đa dạng sinh học. Lời nói đầu của Công ước đã khẳng định,
bảo tồn nội vi môi trường sống tự nhiên, các hệ sinh thái là “yêu cầu cơ bản” để
bảo tồn đa dạng sinh học. Cụ thể hóa khẳng định này, Điều 9 Cơng ước đã quy
định các biện pháp bảo tồn ngoại vi (ex-situ) chỉ đóng vai trò “bổ sung” cho các
biện pháp bảo tồn nội vi. Với vai trò quan trọng như vậy, việc pháp luật quốc tế
6



điều chỉnh hoạt động xây dựng và quản lý các khu bảo tồn biển là tất yếu khách
quan.
Theo Điều 2 Công ước đa dạng sinh học, khu bảo tồn “là một khu vực địa lý xác
định được hoạch định hoặc quy định và quản lý nhằm mục đích bảo tồn riêng
biệt’’. Mặc dù cịn có những ý kiến khác nhau của các quốc gia hoặc các nhà
nghiên cứu, các học giả về nội hàm cũng như vấn đề áp dụng trên thực tế, cho tới
nay, đây vẫn là định nghĩa khái quát đầy đủ nhất các đặc tính của khu bảo tồn trong
đó có khu bảo tồn biển.
Trên cơ sở phân tích các quan niệm về khu bảo tồn biển trên, có thể nhận thấy, khu
bảo tồn biển cần đáp ứng ít nhất ba tiêu chí: thứ nhất, khu bảo tồn biển phải là một
khu vực biển, có thể thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia hoặc là một khu
nằm ngoài quyền tài phán quốc gia; thứ hai, khu bảo tồn biển phải được xác định
thông qua hành vi hoạch định hoặc được quy định trong văn bản pháp luật quốc gia
hoặc quốc tế; và thứ ba, khu bảo tồn biển phải được quản lý vì mục đích bảo tồn
gen, loài động, thực vật biển hoặc bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan, nơi sinh sống
của các loại động, thực vật biển.
Pháp luật quốc tế không quy định về phân loại khu bảo tồn biển, tuy nhiên, trên
thực tế, có nhiều cách phân loại khu bảo tồn biển dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Việc phân loại khơng chỉ có ý nghĩa học thuật mà có ý nghĩa quan trọng trong đánh
giá về cách thức tiếp cận của pháp luật quốc tế trong bảo vệ đa dạng sinh học và tài
nguyên sinh vật biển. Dựa trên cách tiếp cận hệ sinh thái và phát triển bền vững đối
với đa dạng sinh học, có thể chia các khu bảo tồn biển thành hai loại hình tương
ứng với đối tượng được bảo vệ. Thứ nhất, các khu bảo tồn biển nhằm mục đích bảo
tồn và phát triển bền vững các lồi động, thực vật biển, trong đó có các lồi động,
thực vật biển hoang dã và các loài di cư. Thứ hai, khu bảo tồn biển nhằm mục đích
bảo tồn và phát triển các sinh cảnh, cảnh quan, hệ sinh thái.
Thứ ba, quy định của pháp luật quốc tế về các khu bảo tồn biển trong các vùng
biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia
7



Theo Điều 8 Công ước đa dạng sinh học, các quốc gia có nghĩa vụ lựa chọn, xây
dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển trong các vùng biển thuộc chủ
quyền và quyền chủ quyền quốc gia, cụ thể trong nội thủy, lãhh hải, tiếp giáp lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bên cạnh đó, các quốc gia cịn có
nghĩa vụ xây dựng các hướng dẫn để thực hiện hiệu quả các việc lựa chọn, xây
dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển cũng như bảo tồn và phát triển bền
vững nguồn tài nguyên sinh vật của khu bảo tồn biển kể cả khi ở trong hay ngoài
khu bảo tồn biển.
Việc thực hiện nghĩa vụ xây dựng và quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển, ngay cả
khi các khu bảo tồn biển đó nằm trong các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
cũng có thể phải đối mặt với vấn đề thực hiện quyền sử dụng biển hợp pháp của
các quốc gia khác. Ví dụ, quốc gia ven biển vẫn phải tôn trọng quyền đi qua không
gây hại của tàu thuyền quốc gia khác trong các vùng biển thuộc chủ quyền quốc
gia như lãnh hải hoặc nội thủy (trường hợp áp dụng Điều 8 khoản 2 Công ước luật
biển năm 1982), hoặc quyền đánh bắt cá truyền thống trong lãnh hải và đặc quyền
kinh tế. Vụ Chagos Marine Protected Areas Arbitration theo thủ tục trọng tài tại
Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982 giữa Mauritius và United Kingdom là
một ví dụ điển hình (Vụ kiện là hệ quả tranh chấp giữa Mauritius và Vương quốc
Anh liên quan đến hành vi xác lập khu bảo tồn biển với chiều rộng 200 hải lý bao
quanh Quần đảo Chagos do Vương quốc Anh quản lý hành chính và được coi là
Lãnh thổ tại Ấn Độ Dương của Vương quốc Anh (ngày 01/4/2010). Cùng với việc
thiết lập khu bảo tồn biển, các hoạt động đánh bắt hài sản và các hoạt động khác
trong khu bảo tồn biển đều bị cấm thực hiện. Mauritius kiện Vương quốc Anh vì
cho rằng Vương quốc Anh đã vi phạm Điều 2 (3), Điều 56 (2) và Điều 194 (4)
của Công ước Luật biển 1982. Ngày 20/12/2010, Mauritius đã khởi kiện Vương
quốc Anh theo Điều 287 của Công ước Luật biển và Điều 1, của Phụ lục VII.
Trong Phán quyết của Tòa trọng tài tuyên ngày 18/3/2015, Tòa đã xử cho Cộng
hòa Mauritius thắng kiện và được tiếp tục thực hiện quyền đánh bắt thủy sản
truyền thống. Xem, Phán quyết của Tòa trọng tài).

8


Thứ tư, quy định của pháp luật quốc tế về khu bảo tồn biển nằm ngoài các vùng
biển thuộc quyền tài phán quốc gia
Bên cạnh các khu bảo tồn biển được các quốc gia thiết lập trong các vùng biển
hoàn toàn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia, pháp luật quốc tế cũng
quy định nghĩa vụ của các quốc gia phải hợp tác và thành lập các khu bảo tồn biển
xun biển giới vì mục đích bảo tồn. Điều 5 Công ước đa dạng sinh học quy định:
“Mỗi bên ký kết sẽ hợp tác tối đa và thích hợp nhất với các bên kí kết khác ở
những khu vực nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia về các vấn đề có chung
lợi ích một cách trực tiếp hoặc thơng qua các tồ chức quốc tế có thẩm quyền nếu
điều đó là thích hợp cho bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học”.
Xét về vị trí địa lý cũng như tính chất, khu bảo tồn biển nằm ngoài các vùng biển
thuộc quyền tài phán quốc gia có thể có ba thể loại: Thứ nhất, các khu bảo tồn biển
mà một phần hệ sinh thái tự nhiên nằm trong các vùng biển thuộc chủ quyền và
quyền chủ quyền quốc gia. Thứ hai, các khu bảo tồn biển hoàn toàn nằm ngoài các
vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển. Nói cách khác, các khu bảo
tồn biển này hoàn toàn nằm ở Biển quốc tế. Thứ ba, các khu bảo tồn biển hỗn hợp,
tức là một phần của khu bảo tồn biển nằm trong các vùng biển thuộc quyền tài
phán quốc gia, một phần khác nằm bên ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán
quốc gia.
Một trong những khu vực thiết lập nhiều khu bảo tồn biển là Địa Trung Hải. Theo
Nghị định thư 1995 về các khu bảo tồn đặc biệt và đa dạng sinh học tại Địa Trung
Hải, các khu vực có giá trị tự nhiên và văn hóa, các lồi động, thực vật biển tại các
vùng biển thuộc quyền tài phán hoặc nằm ngoài quyền tài phán quốc gia và cần
được bảo vệ có thể được bảo vệ dưới hai hình thức. Đó là bảo vệ theo quy chế
“khu bảo tồn đặc biệt” hoặc “khu bảo tồn đặc biệt có tầm quan trọng của khu vực
Địa Trung Hải”. Bên cạnh đó, khu bảo tồn biển có thể được thiết lập theo thỏa
thuận cụ thể đối với từng trường hợp giữa các quốc gia có liên quan. Điển hình là

khu bảo tồn biển được thiết lập giữa Pháp - Ý - Mơ-nê-ga, một mơ hình khu bảo
9


tồn biển xuyên quốc gia thành công, trên cơ sở Thỏa thuận về xây dựng khu bảo
tồn tại Địa Trung Hải cho các lồi động vật biển có vú.
Tại khu vực Đông Nam Á, Đảo Rùa là một trong những khu bảo tồn biển xuyên
quốc gia được thiết lập và đồng quản lý thành cơng để bảo tồn lồi Rùa Xanh trên
cơ sở Bản ghi nhớ của Thỏa thuận giữa Malaysia và Philippines ngày 31 tháng 5
năm 1996? Khu bảo tồn biển xuyên quốc gia này có thể được coi là một mơ hình
hợp tác hiệu quả trong bảo tồn tài nguyên biển và đa dạng sinh học biển thuộc
quyền tài phán của nhiều quốc gia và là mơ hình gợi ý cho các quốc gia khu vực
ASEAN có chia sẻ hệ sinh thái chung.
Các khu bảo tồn biển nằm hoàn toàn tại Biển cả, Vùng hoặc Nam Cực nhằm mục
đích bảo tồn các sinh cảnh, các hệ sinh thái hoặc đa dạng sinh học cũng đã được
điều chỉnh bởi một số cơ chế khác nhau. Năm 2009, ủy ban Bảo tồn tài nguyên
sinh vật biển Nam Cực đã thành lập các khu bảo tồn biển tại vùng nước quanh
Nhóm đảo Nam Orkney rộng 94.000 km2. Với mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt,
trong khu bảo tồn biển này không cho phép sử dụng các hoạt động khai thác. Tất
cả các hoạt động đánh bắt cá hoặc xả thải của tàu thuyền trong khu bảo tồn biển
này đều bị cấm.
Tóm lại, xây dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển với tính chất cơng cụ
hiệu quả bảo tồn nội vi và phát triển bền vững đa dạng sinh học và các thành phần
của đa dạng sinh học là nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia và chủ thể khác của Luật
quốc tế. Mặc dù, cách tiếp cận bảo tồn đa dạng sinh học thơng qua hình thức khu
bảo tồn biển cịn có những hạn chế nhất định do quy định của Luật quốc tế về vấn
đề này còn tách biệt các quy định pháp luật quốc tế về kiểm sốt các nguồn ơ
nhiễm. Tuy nhiên, hiện nay, một số điều uớc quốc tế, khu vực có liên quan đã kết
họp hai lĩnh vực của pháp luật môi trường quốc tế để bảo tồn hiệu quả đa dạng sinh
học.

Thứ năm, Bảo tồn và phát triển bền vững các thành phần đa dạng sinh học biển
Để bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, ngoài các quy định về xây
dựng và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển, các quốc gia và các chủ thể khác
10


của Luật quốc tế cịn có nghĩa vụ bảo tồn và phát triển bền vững các thành phần đa
dạng sinh học biển ở các cấp độ khác nhau.
Ở cấp độ tồn cầu, Cơng ước luật biển năm 1982 và Cơng ước đa dạng sinh học
đều không quy định trực tiếp các biện pháp để bảo tồn và phát triển bền vững đa
dạng sinh học biển. Tuy nhiên, với tính chất là một bộ phận của đa dạng sinh học
nói chung, các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các thành phần đa dạng
sinh học đều được áp dụng đối với các thành phần đa dạng sinh học biển.
Sử dụng bền vững các thành phần đa dạng sinh học, trong đó có đa dạng sinh học
biển, là một trong những mục tiêu quan trọng của Công ước đa dạng sinh học. Phù
hợp với cách tiếp cận về đa dạng sinh học, các thành phần của đa dạng sinh học
biển theo Công ước được xác định gồm: các hệ sinh thái và nơi cư trú/sinh cảnh,
các loài và quần xã; các kiểu hình và kiểu gen có tầm quan trọng đối với xã hội,
khoa học, kinh tế (Phụ lục I Công ước đa dạng sinh học). Danh mục phân loại các
thành phần đa dạng sinh học mà Công ước đưa ra trong Phụ lục I hoàn toàn phù
hợp với ba mức nhận thức về đa dạng sinh học gồm đa dạng hệ sinh thái, đa dạng
loài và đa dạng di truyền. Một số đặc tính như tính đặc biệt, sự phong phú, tính đặc
trưng, tầm quan trọng hay tiềm năng kinh tế và văn hố hay quy mơ bị đe dọa là
các cơ sở để xác định các thành phần đa dạng sinh học biển quan trọng.
Điều 10 Công ước đa dạng sinh học quy định các biện pháp sử dụng bền vững các
thành phần đa dạng sinh học. Theo đó, các quốc gia thành viên phải thực hiện tổng
hợp nhiều biện pháp như các biện pháp chính sách lồng ghép việc quan tâm đến
bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên sinh học trong các quyết định của quốc
gia, hay các hành động thực hiện các biện pháp có liên quan đến sử dụng tài
nguyên sinh học nhằm phòng tránh hoặc giảm thiểu các tác động xấu đến đa dạng

sinh học... Ngoài Điều 10, các biện pháp sử dụng bền vững các thành phần đa dạng
sinh học còn được quy định rải rác trong các điều khoản của Công ước như quy
định về bảo tồn nội vi tại Điều 8 khoản c hay Điều 8 khoản i. Công ước cũng nhấn
mạnh ứù tiên bảo tồn đối với các thành phần đa dạng sinh học “có tầm quan trọng
đối với việc bảo tồn và sử dụng bền vững” hoặc thực trạng báo động cần phải bảo
11


tồn cũng như các bộ phận có tiềm năng nhất cho sử dụng vững bền đa dạng sinh
học (Điều 7, khoản a, b).
Ở góc độ tồn cầu, nhiều điều ước quốc tế cũng đã xác định mục đích bảo tồn và
phát triển bền vững một số thành phần đa dạng sinh học phải bảo vệ cấp thiết như
đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế hay các lồi động thực vật hoang dã như
Công ước quốc tế về các vùng đất có tầm quan trọng đặc biệt như là nơi cư trú của
lồi chim (Cơng ước Ramsar về đất ngập nước) hay Công ước về mua bán quốc tế
các loài động, thực vật quý hiểm (CITES).
Theo Điều 1 của Công ước Ramsar, “đất ngập nước” là thuật ngữ dùng để chỉ các
vùng đầm lầy, sình lầy, vùng than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo,
thường xuyên hay tạm thời có nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc
nước mặn, bao gồm các vùng nước biển có độ sâu khơng q 6 mét khi thủy triều
thấp. Như vậy, với tiêu chí đó, đất ngập nước được công nhận là biển (các vùng đất
ngập nước ven biển bao gồm các bãi đá san hô ngầm và các đảo đá ven bờ), cửa
sông (các đồng bằng, đầm lầy, rừng đước ngập nước), hồ (các vùng đất ngập nước
gắn với hồ), sông (các vùng đất ngập nước dọc sơng, suối).
Đất ngập nước có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người. Ngồi ra chúng cịn
có các thuộc tính về hệ sinh thái như tính đa dạng sinh học, về sự độc đáo hay là di
sản văn hóa là các thuộc tính có giá trị, vì chúng đem lại những lợi ích sử dụng
hoặc bản thân chúng có giá trị. Bên cạnh đó, đất ngập nước cịn là sinh cảnh quyết
định sự tồn tại của loài chim nước. Vì vậy, theo Điều 2 Cơng ước Ramsar, các quốc
gia có nghĩa vụ chỉ định ít nhất một vùng đất ngập nước trong số các vùng đất ngập

nước thích hợp nằm trong phạm vi lãnh thổ của mình đế đưa vào Danh sách các
vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế và thực hiện các biện pháp để duy
trì, bảo tồn các vùng đất ngập nước này.
Để phịng ngừa các hoạt động bn bán quốc tế bao gồm xuất khẩu, tái xuất khẩu,
tái nhập khẩu và nhập nội từ biển, các loài động, thực vật biển hoang dã sẽ được
bảo vệ theo cơ chế của Công ước CITES. Theo đó, các lồi động, thực vật hoang
dã, q hiếm có nguồn gốc từ biển sẽ được ghi nhận trong Danh mục bảo vệ được
12


xác định với ba mức độ quý, hiếm và bảo vệ. Phụ lục I Cơng ước ghi nhận các lồi
đang bị nguy cấp do hoặc có thể do hoạt động bn bán. Đối với các lồi này,
Cơng ước khơng cho phép các quốc gia buôn bán trừ trường hợp ngoại lệ như vì
mục đích y tế hoặc giáo dục. Việc bn bán các lồi động, thực vật trong Phụ lục I
cần tuân thủ quy chế hết sức nghiêm ngặt mà các quốc gia thành viên đã thoả thuận
tại Điều 3 của Công ước.
Công ước luật biển năm 1982 tiếp cận khá truyền thống về bảo tồn đa dạng sinh
học biển. Cơng ước quy định về bảo tồn các lồi động, thực vật tại các vùng biển
thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền hay ở biển cả, Vùng. Điều 116 Công ước quy
định quyền đánh bắt cá ở biển cả với điều kiện tuân thủ các nghĩa vụ trong Công
ước, tôn trọng các quyền, nghĩa vụ và lợi ích của quốc gia ven biển cũng như các
quy định về bảo tồn tài nguyên sinh vật biển. Để thực hiện nghĩa vụ này, Công ước
cũng quy định cho các quốc gia thành viên phải định ra những biện pháp cần thiết
đối với công dân của mình như quy định khối lượng đánh bắt cần thiết có tính tới
việc duy trì và khơi phục các đàn hải sản bị khai thác ở mức sao cho bảo đảm đạt
năng suất ổn định tối đa, có tính đến các yếu tố sinh thái và kinh tế thích đáng, các
nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển, các phưomg pháp đánh bắt... Công
ước cũng tập trung bảo tồn các lồi di cư, động vật có vú ở biển như cá voi (Điều
63 Công ước luật biển năm 1982 và Điều 65 Công ước luật biển năm 1982). Một
số điều ước quốc tế riêng biệt cũng tiếp cận bảo tồn đa dạng sinh học theo cách

thức bảo tồn loài cụ thể như Thỏa thuận 1973 về bảo tồn gấu Bắc cực.

 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển:
Bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển.
Pháp luật Việt Nam về bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển đã tiếp
cận theo hướng hệ sinh thái và phát triển bền vững. Chiến lược khai thác, sử dụng
bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo được lập ở cấp quốc gia
cho giai đoạn 20 năm, tầm nhìn 30 năm (Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 và Điều 9 Luật Tài nguyên, môi tnrởng biển và hải đảo năm 2018), phù
13


họp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược biển
Việt Nam, chiến lược bảo vệ mơi trường quốc gia. Bên cạnh đó, chiến lược đáp
ứng yêu cầu khai thác, sử dụng họp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển
và hải đảo, ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ chủ quyền quốc
gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa.
Việc xây dựng chiến lược phải dựa trên tiềm năng tài nguyên biển và hải đảo; kết
quả điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; nhu cầu khai thác, sử
dụng tài nguyên biển và hải đảo; yêu cầu bảo vệ môi trường biển và hải đảo cũng
như kết quả thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ
môi trường biển trước đó.
Pháp lưật Việt Nam đã có những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh việc
thiết lập và quản lý khu bảo tồn biển. Các khu bảo tồn biển có thể được quản lý
theo hệ thống các quy định của Luật Đa dạng sinh học hoặc Luật Bảo vệ và phát
triển rừng, Luật Thủy sản và các quyết định riêng biệt của cơ quan quản lý. Theo
Điều 16 Luật Đa dạng sinh học năm 2008, khu bảo tồn biển có thể được quản lý
theo bốn quy chế tương ứng với bốn loại khu bảo tồn khác nhau bao gồm vườn
quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, và khu bảo vệ ’cảnh
quan. Hệ thống khu bảo tồn này được phân loại thành khu bảo tồn cấp quốc gia và

cấp tỉnh căn cứ vào mức độ đa dạng sinh học, giá trị đa dạng sinh học, quy mơ diện
tích nhằm có chính sách quản lý, đầu tư phù hợp (Điều 16 Luật Đa dạng sinh học).
Tuy nhiên, theo cơ quan quản lý trung ương của Việt Nam - Tổng cục Biển và Hải
đảo, khu bảo tồn biển là vùng biển được xác định (kể cả đảo có trong vùng biển
đó) có các lồi động vật, thực vật có giá trị và tầm quan trọng quốc gia hoặc quốc
tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí được bảo vệ và quản lý theo quy ché của
khu bảo tồn.
Pháp luật Việt Nam cũng đã xác định việc ưu tiên bảo tồn và phát triển bền vững
các loài sinh vật, bao gồm các loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ, quy định rõ về trách nhiệm kiểm sốt lồi sinh vật nhập nội (ngoại
lai xâm hại)...
14


3.2 Kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường biển
Kiểm sốt ơ nhiễm biển được hiểu là q trình phịng ngừa, phát hiện, ngăn chặn
và xử lý ô nhiễm môi trường biển. Chương VI Luật Tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo năm 2015 quy định về kiểm sốt ơ nhiễm, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa
chất độc và nhận chìm ở biển, gồm 3 mục, 22 điều (từ Điều 42 đến Điều 63), tập
trung vào những vấn đề sau:
- Kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về nguyên
tắc, nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; kiểm soát ô nhiễm
môi trường biển từ các hoạt động trên biển, từ đất liền và kiểm sốt ơ nhiễm mơi
trường biển xuyên biển giới; các công cụ, biện pháp để kiểm sốt ơ nhiễm mơi
trường biển và hải đào (phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, cấp
rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo) và đánh giá kết quả hoạt động kiểm
sốt ơ nhiễm mơi trường biển và hải đảo.
- Ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển bao gồm (các nội dung về nguyên
tắc ứng phó, khắc phục sự cố; phân cấp ứng phó sự cố; xác định và thơng báo khu
vực hạn chể hoạt động; tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở gây sự cố; trách

nhiệm trong ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.
- Nhận chìm ở biển quy định các yêu cầu đối với việc nhận chìm và vật, chất nhận
chìm ở biển cũng như quy định về cấp, gia hạn, sửa đổi... kiểm sốt hoạt động
nhận chìm ở biển; nhận chìm ngoài vùng biển Việt Nam gây thiệt hại tới tài
nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam.
Đánh giá chung, mặc dù cịn có những hạn chế nhất định, khung pháp luật Việt
Nam về khai thác, sử dụng tài nguyên biển cũng như kiểm sốt ơ nhiễm mơi
trường biển đã tương đối đầy đủ, hợp lý và khả thi, góp phần vào việc bảo vệ môi
trường biển khỏi ô nhiễm, bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong
lành.

15


KẾT LUẬN
Tiểu luận đã trình bày một cách ngắn gọn về hai nội dung: Quy định của pháp luật
quốc tế và của Việt Nam về bảo vệ môi trường biển. Nhìn chung, dù ở phạm vi
quốc gia hay quốc tế thì những quy định cụ thể và rõ ràng là điều vô cùng cấp thiết
trong bối cảnh vấn đề môi trường, đặc biệt là môi trường biển ngày càng trở nên
nhức nhối, thể hiện trách nhiệm, ý thức giữ gìn môi trường không chỉ cho các thế
hệ hiện tại mà còn cho các thế hệ mai sau.

16


9

17




×