Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.74 KB, 15 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>Đề cương Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Vấn đề biến đổi khí hậu, tài nguyên và môi trường Biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy giảm đa dạng sinh học là những vấn đề lớn, mang tính toàn cầu, đã và đang làm thay đổi các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có ý nghĩa sống còn, là những nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. (Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai). Trong 100 năm (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74 0C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gấp đôi so với 50 năm trước đó. Kết quả tính toán của các mô hình khí hậu toàn cầu dựa trên mối liên hệ giữa phát thải khí nhà kính và sự gia tăng nhiệt độ (nêu trong báo cáo gần đây nhất của IPCC 1) chỉ ra rằng nhiệt độ trái đất vào cuối thế kỷ 21 có thể sẽ tăng từ 1,10C đến 6,40C.. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong gần 30 năm đổi mới, Đảng ta đã luôn coi trọng và quan tâm chỉ đạo công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Chủ trương, giải pháp của Đảng đã được quán triệt, thể chế hóa, tổ chức thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên, môi trường vẫn còn những tồn tại, yếu kém, nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu gia tăng, trực tiếp ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Thêm vào đó, mô hình tăng trưởng kinh tế còn thiếu bền vững, ý thức của người dân chưa cao, thói quen tiêu dùng lãng phí, thiếu thân thiện với môi trường đang đặt ra những vấn đề lớn. Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát, có nơi nghiêm trọng; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm; khai thác, sử dụng tài nguyên kém hiệu quả. Chất lượng môi trường sống chậm được cải thiện. Nguy cơ mất cân bằng sinh thái, không đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước có thể xảy ra. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhận định “Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người. Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc”, xác định phương hướng cơ bản phát triển đất nước là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường” và định hướng “Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 nêu rõ quan điểm “Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) do Tổ chức Khí tượng Thế giới và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc thành lập năm 1988, là một cơ quan khoa học chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro về biến đổi khí hậu do hoạt động của con người gây ra, với sự tham gia của hơn 500 nhà khoa học và khoảng 2.000 chuyên gia đến từ các nước trên thế giới. 1.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> Đứng trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020; để đồng bộ với chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, phát triển nhanh, bền vững đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; cùng với xu thế mới của thời đại, mang tính toàn cầu; và xuất phát từ những tồn tại, yếu kém trong ứng phó với biến đổi khí hậu và công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng như những thách thức đặt ra, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị ở tầm cao nhất, có hệ tư duy, quan điểm mới, đồng bộ và các giải pháp đủ mạnh, đột phá để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường.. Một số khái niệm a) Về biến đổi khí hậu Khí hậu là một hình thái ổn định tương đối của khí quyển (gồm tổng thể các yếu tố gắn với bầu khí quyển như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió) trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định trên trái đất. Khí hậu khác với thời tiết. Thời tiết là trạng thái của Khí hậu tại một thời điểm nhất định. Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận. Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu toàn cầu là do sự gia tăng các hoạt động của con người làm phát thải quá mức khí nhà kính 12 vào khí quyển, khai thác quá mức các bể hấp thu và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.Khí nhà kính: là các khí carbon dioxide (CO2), methane (CH4), nitrous oxide (N2O), hydrofluocarbons (HFCS), perfluorocarbons (PFCS), sulphur hexafluoride (SF6) có mặt trong khí quyển cản trở quá trình tỏa nhiệt của bề mặt trái đất (được hấp thụ từ mặt trời) ra không trung làm trái đất ấm lên.. b) Về tài nguyên Tài nguyên thiên nhiên (gọi tắt là “tài nguyên”) là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên (nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà loài người có thể khai thác và sử dụng trong sản xuất và đời sống), là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người. Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. - Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v... - Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên. Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài Khí nhà kính: là các khí carbon dioxide (C02), methane (CH4), nitrous oxide (N2O), hydrofluocarbons (HFCs), pefluorocarbons (PFCS), sulphur hexafluoride (SF6) có mặt trong khí quyển cản trở quá trình tỏa nhiệt của bề mặt trái đất (được hấp thụ từ mặt trời) ra không trung làm trái đất ấm lên. 2.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác. c) Về môi trường Môi trường tự nhiên (gọi tắt là “môi trường”) bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam). Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. 2. Các chủ trương của Đảng về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Trong quá trình Đổi mới, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đã được nêu trong Văn kiện Đại hội IX, X và XI, trong các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư, trong chính sách, pháp luật về đất đai, chiến lược biển, khoáng sản và bảo vệ môi trường. Hiện thực hóa chủ trương, giải pháp của Đảng, các cấp, các ngành đã đẩy mạnh hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và đã đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, các chủ trương, giải pháp còn thiếu đồng bộ; nhiều giải pháp chưa xác định rõ bước đi, cơ chế và nguồn lực thực hiện; những vấn đề mới xuất hiện chưa có hướng xử lý kịp thời. Do đó, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Trước tình hình và bối cảnh đó, với những lý do nêu trên, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương phải xem xét và ban hành Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường để định hướng cho các cấp các ngành thống nhất triển khai thực hiện những vấn đề có ý nghĩa sống còn này. B. NỘI DUNG NGHỊ QUYẾT I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN Thời gian qua, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được quan tâm, có bước chuyển biến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng. -Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên, môi trường đã có bước chuyển biến tích cực. Việt Nam đã sớm tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto, tích cực triển khai các hoạt động thực hiện Công ước, quan tâm xây dựng chính sách, pháp luật và phát triển tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc nâng cao nhận thức cho.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân được xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt các nhiệm vụ về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu được thực hiện nhân ngày Khí tượng và nước thế giới, ngày Môi trường thế giới, chiến dịch Giờ trái đất và được đưa lên các chuyên mục trên đài phát thanh và truyền hình. Các chủ trương, giải pháp của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên được tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng đến toàn thể nhân dân. Qua đó, hầu hết cán bộ, đảng viên đều thống nhất nhận thức về sự cần thiết và vai trò của công tác bảo vệ tài nguyên. Những chuyển biến tích cực trong nhận thức về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đã có tác động tích cực, nhiều kế hoạch hành động cụ thể của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân đã được xây dựng và tổ chức thực hiện.Trong thời gian gần đây, các ngành, các cấp đã chú ý hơn đến việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Người dân cũng đã có ý thức hơn trong việc sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nhất là đối với tài nguyên nước. Bảo vệ môi trường đã được đưa vào chương trình giáo dục trong các cấp học phổ thông, trong chương trình đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng; nhiều hội thảo, khóa tập huấn, đào tạo đã được tổ chức ở Trung ương và các cấp ở địa phương.Đến nay, đã có 08 tổ chức chính trị - xã hội và 03 cơ quan truyền thông ký kết nghị quyết liên tịch với Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các sự kiện về bảo vệ môi trường như Ngày Môi trường Thế giới 5/6; Ngày Đa dạng sinh học, Tuần lễ làm cho thế giới sạch hơn, Giờ Trái đất, Tuần lễ biển, hải đảo Việt Nam, v.v. đã được phát động, tổ chức rộng khắp ở cả Trung ương và địa phương. Nhiều mô hình tốt, nhiều gương người tốt việc tốt trong bảo vệ môi trường đã được định kỳ xem xét khen thưởng.. -Thể chế, chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu từng bước được hình thành; thể chế, chính sách về bảo vệ tài nguyên, môi trường từng bước được đổi mới, hoàn thiện.Chiến lược quốc gia Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Chiến lược Phát triển ngành Khí tượng Thủy văn đến năm 2020; Chiến lược Phát triển Thủy lợi đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược Tăng trưởng xanh; Đặc biệt, ngày 05 tháng 12 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và sau đó là Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu. Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và trong Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản và các văn bản luật có liên quan. Luật Đê điều; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão; Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi; Pháp lệnh Bảo vệ công trình khí tượng thủy văn. Bên cạnh đó, các cơ chế, công cụ, chế tài bảo vệ tài nguyên cũng được quy định trong một số đạo luật khác như Bộ Luật hình sự, Bộ Luật dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thuế tài nguyên, v.v.. - Nguồn lực và các điều kiện cơ bản để ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên, môi trường được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu từ năm 2010 đến nay đạt trên 500 triệu USD. Huy động nguồn thu từ tài nguyên để đầu tư trở lại cho công tác bảo vệ tài nguyên đã được thí điểm thực hiện bước đầu thành công. Đấu giá quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản, thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, chi trả dịch vụ môi trường rừng, v.v. là những hướng đi, cách làm mới đang được triển khai thực hiện. Nguồn chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường được cân đối đạt mức 1% tổng chi ngân sách, tăng nhiều lần so với giai đoạn trước. Năm 2006 đạt 2.900 tỷ đồng, năm 2012 đạt 9.050 tỷ đồng.. -Năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai được nâng cao, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu. Hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn từng bước được đầu tư, nâng cấp thông qua Đề án hiện đại hóa công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn. Đến nay, một số công nghệ dự báo hiện đại đã được đưa vào sử dụng, nhờ đó đã tăng thời gian dự báo bão và áp thấp nhiệt đới từ 24 giờ lên 36 giờ, dự báo cơn bão có quỹ đạo ổn định trước từ 60 giờ đến 72 giờ, cảnh báo trước 48 giờ đến 72 giờ các đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại. Công tác phòng chống thiên tai đã được triển khai quán triệt theo phương châm “4 tại chỗ” đã tính đến tác động của biến đổi khí hậu.. -Hợp tác và hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu có bước phát triển nhanh và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, xây dựng được hình ảnh Việt Nam tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu trên trường quốc tế..
<span class='text_page_counter'>(5)</span> -Tài nguyên thiên nhiên được chú ý khai thác hợp lý, hiệu quả và bền vững hơn. Đã thực hiện các biện pháp nâng cao khả năng tích, trữ nước mùa lũ để sử dụng cho mùa khô; tài nguyên nước đã được cân đối, phân bổ hợp lý hơn, việc khai thác, sử dụng đã theo hướng tổng hợp đa mục tiêu, hài hòa giữa các mục đích sử dụng nước; tài nguyên nước bước đầu đã được coi là tài sản, khai thác, sử dụng nước phải trả tiền; thực hiện các dự án quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại các lưu vực sông: Hồng-Thái Bình, Cửu Long, Đồng Nai, Đáy, Cầu, Vu Gia-Thu Bồn, Srepok, v.v. Hệ thống hồ chứa nước cùng với quy trình vận hành đã và đang được xây dựng và hoàn thiện góp phần khai thác, sử dụng tổng hợp, hiệu quả nguồn nước, hạn chế tình trạng thiếu nước. Công tác bảo vệ khoáng sản đã thực sự đóng góp quan trọng cho giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo; tài nguyên khoáng sản được sử dụng hợp lý hơn, tăng cường đầu tư chế biến sâu khoáng sản.Các chương trình trồng và bảo vệ rừng đã góp phần tăng cường bảo vệ lưu vực, chống suy thoái nguồn nước; thực hiện tốt các chương trình bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là các Chương trình 327, Chương trình 661 (dự án trồng mới 5 triệu ha rừng).Đã hình thành và phát triển mạng lưới các khu bảo tồn biển, vùng nước nội địa; phục hồi, bảo vệ một số hệ sinh thái trong đó có trồng san hô ở vịnh Quy Nhơn (Bình Định), Hòn Mun (Khánh Hòa), phục hồi cỏ biển ở Phú Quốc (Kiên Giang), v.v.. -Công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đã góp phần kiềm chế, làm chậm lại tốc độ gia tăng và từng bước đẩy lùi ô nhiễm môi trường,bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ chức năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường. Công tác khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường từng bước được đẩy mạnh, góp phần khắc phục các vùng đất, nguồn nước đã bị ô nhiễm, suy thoái. Theo thống kê sơ bộ, từ năm 2005 đến nay đã có khoảng 90 dự án chiến lược, quy hoạch thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; khoảng 7.500 dự án đầu tư đã thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường.Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị đạt khoảng 80 - 82% (năm 2003 là 60 - 70%), ở khu vực nông thôn đạt khoảng 40 - 55% (năm 2003 là 20%). Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng 65%; tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom đạt trên 75%. Việc di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư ở một số thành phố lớn đã được triển khai thực hiện. Tính đến tháng 10 năm 2012, có 370/439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cơ bản đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để (chiếm 84,3%). Nhiều đoạn kênh, mương, ao, hồ, đoạn sông ở các đô thị đã được kè bờ, nạo vét, cải thiện về môi trường. Khoảng 52% số hộ gia đình nông thôn có công trình vệ sinh đạt yêu cầu (năm 2003 xấp xỉ 30%); tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 79% (năm 2003 là 40%); tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt 80%. Các vùng đất bị ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật, chất diệt cỏ, dioxin tồn lưu từ thời chiến tranh đã được phát hiện và có các biện pháp ngăn chặn phạm vi, mức độ ô nhiễm và đang từng bước cải tạo, phục hồi. Trong các năm từ 2006 - 2010, kết quả tiết kiệm điện của các tỉnh, thành phố đạt được 4.039 triệu KWh, riêng năm 2010 ước tính tiết kiệm được khoảng 1.183,91 triệu KWh. Theo tổng kết của Bộ Công Thương, trong 5 năm từ 2006 - 2010, cả nước đã tiết kiệm được 3,4% tổng năng lượng tiêu thụ, tương đương với 56,9 tỉ KWh hoặc gần 35,3 triệu thùng dầu thô. Cả nước hiện có tất cả 1.097 dự án thủy điện quy mô nhỏ đến lớn đã được quy hoạch với tổng công suất khoảng 24.000 MW. Trong số này có khoảng 40% số dự án đã được triển khai, chiếm khoảng 75% công suất thiết kế. Các dự án đã đi vào hoạt động, sản xuất khoảng 36% sản lượng điện của cả nước, riêng sản lượng năm 2011 đạt khoảng 40 tỉ KWh. Việt Nam đã triển khai thực hiện 160 dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) được Nghị định thư Kyoto quy định, với tổng số chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính (CER) được cấp đạt khoảng 7 triệu CER, đứng thứ 4 trên thế giới về số lượng dự án và đứng thứ 9 về tổng số CER được cấp.. -Công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã góp phần giảm nhẹ mức độ suy thoái đa dạng sinh học, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức ổn định. Tuy nhiên, việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản Chỉ tính trong 15 năm trở lại đây, các loại thiên tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, làm chết và mất tích hơn 10.711 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> - Tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt Tài nguyên đất: Diện tích tự nhiên nước ta có quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng dân số đông (đứng thứ 13) nên bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người rất thấp (0,38 ha), chỉ bằng 1/5 mức bình quân của thế giới (1,96 ha). Diện tích đất canh tác nông nghiệp bình quân/người (0,07 ha/người) cũng vào loại thấp so với bình quân chung của thế giới (0,20 ha/người). Tài nguyên đất Việt Nam phong phú về chủng loại, gồm 62 loại đất, thuộc 14 nhóm, phân bố khắp các vùng, miền trên cả nước. Đất nông nghiệp hiện có 26.226 nghìn ha, chiếm 79,24% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 10.126 nghìn ha, đất lâm nghiệp 15.366 nghìn ha, đất nuôi trồng thủy sản 690 nghìn ha, đất diêm nghiệp 19 nghìn ha và đất nông nghiệp khác có 26 nghìn ha. Đất phi nông nghiệp có 3.705 nghìn ha, chiếm 11,20%, trong đó đất ở 684 nghìn ha, đất chuyên dùng 1.824 nghìn ha, các loại đất phi nông nghiệp còn lại 1.198 nghìn ha. Đất chưa sử dụng còn 3.164 nghìn ha, chiếm 9,56%, trong đó đất bằng chưa sử dụng 237 nghìn ha, đất đồi núi chưa sử dụng 2.633 nghìn ha. Tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng về chủng loại. Một số loại khoáng sản có trữ lượng, tiềm năng lớn có thể phát triển thành ngành công nghiệp như dầu khí, bauxit, titan, than, đất hiếm, v.v. Tuy nhiên, công tác điều tra cơ bản địa chất, lập bản đồ khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 chỉ mới phủ được gần 60% diện tích đất liền, với độ sâu chủ yếu đến 100m và ở tỷ lệ 1:500.000 trên một phần diện tích biển đến độ sâu 100m nước, nên chưa đánh giá hết được tiềm năng khoáng sản của đất nước. Năng lượng tái tạo: Nước ta có tiềm năng năng lượng tái tạo, đặt biệt là năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, năng lượng sinh khối, thủy năng, v.v. Hiện nay, thủy điện ở Việt Nam đóng góp khoảng 11,23% tổng năng lượng sơ cấp và 14,3% trong tổng năng lượng cuối cùng của quốc gia. Thủy điện nhỏ có thể đạt 7.000 MW. Năng lượng biển và các dạng năng lượng tái tạo khác có tiềm năng đáng kể, song chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ. Tài nguyên nước: Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 206 nguồn nước liên quốc gia với tổng lượng nước mặt trung bình năm vào khoảng 830 tỉ m 3, tập trung chủ yếu trên các sông lớn3. Tuy nhiên, trên 60% nguồn nước mặt của nước ta từ nước ngoài chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới đất đạt khoảng 63 tỉ m3/năm và phân bố tập trung chủ yếu ở các khu vực đồng bằng và khu vực Tây Nguyên. Tài nguyên nước Việt Nam phân bố không đều theo không gian và theo thời gian trong năm, dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ, có nơi, có lúc thiếu nước trầm trọng xảy ra trên diện rộng. Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 80,6 tỉ m 4. Tài nguyên rừng: Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 5, diện tích rừng toàn quốc là 13.515.064 ha (độ che phủ 39,7%), trong đó rừng tự nhiên còn 10.285.383 ha (chiếm 76,1%), rừng trồng có 3.229.681 ha (chiếm 23,9%). Tuy tổng diện tích rừng có tăng trong những năm gần đây, nhưng chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm. Diện tích rừng nguyên sinh giảm sút trầm trọng, hiện chỉ còn rất ít, chủ yếu tập trung ở các khu rừng phòng hộ và trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Phần lớn rừng tự nhiên hiện nay thuộc loại rừng nghèo. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm quá nửa trong các thập kỷ trước và vẫn tiếp tục suy giảm trong những năm gần đây. Nguồn lợi thủy sản: Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong tổng số loài được phát hiện, có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trong đó trên 100 loài cá kinh tế, 653 loài rong biển, 657 loại động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn, 12 loài thú, 5 loài rùa, 43 loài chim nước. Trữ lượng hải sản có giá trị ở biển Việt Nam khoảng 3.500.000 tấn.. - Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm; 1. Ô nhiễm môi trường nước. nước ngầm đang được khai thác ở một số nhà máy nước thành phố Hà Nội cũng đã bị ô nhiễm như Pháp Vân, Mai Động hoặc như ở thành phố Hồ Chí Minh nước ngầm bắt đầu bị nhiễm mặn và suy giảm khả năng khai thác. 2. Ô nhiễm không khí. ô nhiễm không khí đã xãy ra. Ở Hà Nội, tại khu vực nhà máy dệt 8 – 3, nhà máy cơ khí Mai Động. Khu công nghiệp Thượng Đình, khu công nghiệp Văn Điển, nhà máy Rượu…không khí đều đã bị ô nhiễm nặng. Ở Hải Phòng , ô nhiễm nặng ở khu nhà máy Xi mămg, nhà máy Thủy Tinh và Sắt tráng men…Ở Việt Trì, ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phốtphát Lâm Thao, nhà máy Giấy, nhà máy Dệt. Ở Ninh Theo Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 1/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 341/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. 4 Theo Báo cáo hiện trạng ngành nước Việt Nam, 2010. 5 Theo công bố tại Quyết định số 2089/QĐ/BNN-TCLN ngày 30 tháng 8 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 3.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> Bình và Phả Lại ô nhiễm nặng do nhà máy Nhiệt điện, các nhà máy vật liệu xây dựng, lò vôi. Ở thành phố Hồ Chí Minh và cụm công nghiệp Biên Hòa không khí cũng bị ô nhiễm bởi nhiều nhà máy. Hầu như tất cả các nhà máy hóa chất đều gây ô nhiễm không khí. Dân cư sống ở các vùng nói trên thường mắc các bệnh đường hô hấp, da và mắt 3. Ô nhiễm đất. tập quán dùng phân bắc và phân chuồng tươi theo các hình thức (bón lót, pha loãng để tưới,…) trong canh tác vẫn còn phổ biến. Tại vùng trồng rau Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội mật độ trứng giun đũa là 27,4 trứng/100g đất, trứng giun tóc 3,2 trứng/100g đất (Trần Khắc Thi, 1966). Theo điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1993 – 1994) tại một số vùng trồng rau, người dân chủ yếu sử dụng phân bắc tươi với liều lượng khoảng từ 7 – 12 tấn/ha. Do vậy trong 1 lít nước mương máng của khu trồng rau có tới 360 E. coli ; ở giếng nước công cộng là 20, còn trong đất lên tới 2 x 105/100g đất. Chính vì thế, khi điều tra sức khỏe người trồng rau thường xuyên sử dụng phân bắc tươi có tới 60% số người tiếp xúc với phân bắc từ 5 – 20 năm bị bệnh thiếu máu và các bệnh ngoài da. -Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên. diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân. Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, đặc biệt là một phần đáng kể ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các vùng đất thấp đồng bằng ven biển bị ngập mặn do nước biển dâng, tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm. Việt Nam được xem là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với nhiều hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước, hệ sinh thái biển có tính đặc trưng, đại diện cho khu vực và thế giới. Nhiều loài hoang dã quý, hiếm, nhiều nguồn gen có giá trị góp phần làm giàu thêm đa dạng sinh học toàn cầu. Với nhiều kiểu rừng, hệ sinh thái đất ngập nước, đầm lầy, sông suối, biển, v.v. tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Việt Nam được Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) công nhận có 3 trong số hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế (Birdlife International) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới; Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật, v.v. Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. -Nhận thức và tầm nhìn của các cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về công tác này chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trước mắt, chưa coi trọng phát triển bền vững. -Một số chủ trương của Đảng chưa được quán triệt và thể chế hóa đầy đủ, kịp thời. -Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát với thực tế, thiếu tính khả thi. -Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện. -Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao. -Chủ trương xã hội hóa chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân. II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU 1- Quan điểm.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> - Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội. - Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế. - Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm. Trước những diễn biến phức tạp và nguy cơ của biến đổi khí hậu, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất, tổ chức tại Rio de Janeiro, Braxin tháng 5 năm 1992, nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu của 155 nước trên thế giới đã ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 6 làm cơ sở cho nỗ lực chung ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Năm 1997, Hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 3 họp tại Kyoto (Nhật Bản) đã ký kết Nghị định thư về cắt giảm khí nhà kính (gọi tắt là Nghị định thư Kyoto 7). Theo đó, 36 nước công nghiệp phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi (gọi tắt là các nước thuộc Phụ lục I), được yêu cầu phải cắt giảm phát thải khí nhà kính. Mỹ là nước có tổng lượng phát thải khí nhà kính đứng thứ 2 thế giới (sau Trung Quốc), không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto. Trung Quốc, Braxin và Ấn Độ là những nước có tổng lượng phát thải khí nhà kính lớn nhưng không bị ràng buộc phải cắt giảm khí nhà kính. Phải mất đến 8 năm để các nước phê chuẩn, Nghị định thư Kyoto chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 02 năm 2005. Mặc dù Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu ra đời đã được 20 năm, Nghị định thư Kyoto có hiệu lực đã được 7 năm, nhưng kết quả đạt được vẫn còn hạn chế, mục tiêu giảm 5,2% so với mức phát thải năm 1990 trong giai đoạn 2008-2012 không những không đạt được mà theo đánh giá sơ bộ của Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA) công bố tháng 5/2012, phát thải khí nhà kính đã đạt mức cao kỷ lục lên đến 31,6 tỉ tấn trong năm 2011, gấp gần 1,5 lần so với năm 1990, tăng 3,2% so với năm 2010. Điều đó có nghĩa là biến đổi khí hậu sẽ diễn ra mạnh hơn so với các cảnh báo trước đây.. - Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế. - Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên Đến nay đã có 194 nước trên Thế giới gia nhập UNFCCC. Nghị định thư Kyoto có hiệu lực từ 16/2/2005, với sự tham gia của 191 nước (tính đến tháng 9/2011), Mỹ không tham gia Nghị định thư này. 6 7.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. 2- Mục tiêu a) Mục tiêu tổng quát - Đến năm 2020, về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. - Đến năm 2050, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực. Năm 2012, Vườn Quốc gia Tràm Chim và Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã được Ban Thư ký Công ước RAMSAR công nhận là khu Ramsar thứ 4 và thứ 5 của Việt Nam. Bên cạnh đó, Vườn Quốc gia U Minh Thượng cũng đã được Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN thống nhất với đề xuất đưa vào danh mục các Công viên Di sản quốc gia ASEAN.. b) Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 - Về ứng phó với biến đổi khí hậu: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu của các cơ quan chuyên môn. Hình thành cho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra. Chủ động phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven biển, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung, trước hết là khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau và các thành phố ven biển khác. Giảm mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP từ 8 - 10% so với năm 2010. - Về quản lý tài nguyên: Đánh giá được tiềm năng, giá trị của các nguồn tài nguyên quan trọng trên đất liền. Đạt được bước tiến quan trọng trong điều tra cơ bản tài nguyên biển. Quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Ngăn chặn xu hướng suy giảm tài nguyên nước ngọt và tài nguyên rừng (Theo Tổ chức Nông lương LHQ (FAO), tính từ năm 1990 đến nay, mỗi năm thế giới mất đi mất 13 triệu ha rừng do nạn chặt phá rừng tràn lan. Diện tích rừng nguyên sinh hiện chỉ còn 36%, nhưng cũng đang bị đe dọa vì hàng năm có khoảng 6 triệu ha rừng có nguy cơ bị xóa sổ. Hiện có 76 nước trên thế giới không còn rừng nguyên sinh; Những quốc gia có tỷ lệ tàn phá rừng cao nhất thế giới hiện nay là Honduras (37%), Nigeria (36%), Philippines (32%), Benin (31%), Ghana (28%), Indonesia (26%)...); nâng cao hiệu quả sử dụng nước tính trên một đơn vị GDP. Bảo. đảm cân đối quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội; giữ và sử dụng linh hoạt 3,8 triệu ha đất chuyên trồng lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Khai thác hiệu quả và bền vững sinh thái, cảnh quan, tài nguyên sinh vật. Hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> Chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới lên trên 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp; giảm tiêu hao năng lượng tính trên một đơn vị GDP. - Về bảo vệ môi trường: Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý; tiêu huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt. Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh. Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến tranh. Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn. Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 45%. III- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 1- Nhiệm vụ chung - Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Ban hành bộ chỉ số đánh giá kết quả phát triển bền vững, tăng trưởng xanh đưa vào bộ tiêu chí quốc gia; thí điểm phát triển mô hình kinh tế xanh, công nghiệp xanh, đô thị xanh, nông thôn xanh. - Thực hiện phân vùng chức năng dựa trên đặc tính sinh thái, tiềm năng tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu làm căn cứ để lập quy hoạch phát triển; quy hoạch không gian biển gắn với không gian phát triển trên đất liền; lồng ghép mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương. - Thiết lập, ứng dụng các mô hình dự báo tổng thể tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường. Áp dụng thí điểm phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất về tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu cho lưu vực sông, vùng ven biển, sau đó nhân rộng ra cả nước. - Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp và thống nhất về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu theo chuẩn quốc tế. Có cơ chế phù hợp khai thác, chia sẻ thông tin, sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu. 2- Nhiệm vụ cụ thể. a) Về ứng phó với biến đổi khí hậu - Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo kịch bản biến đổi khí hậu năm 2012, cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có thể tăng từ 2,5 – 3,7 độ C, nước biển dâng khoảng 1m, theo đó khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích TP. Hồ Chí Minh bị ngập trong nước.Tuy nhiên, trên thực tế biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng diễn ra nhanh hơn so với dự báo..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> Xây dựng, phát triển năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo thiên tai đạt trình độ tương đương nhóm các nước dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á. Thường xuyên cập nhật, hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cụ thể cho giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Chuyển đổi cơ cấu, giống cây trồng, vật nuôi, điều chỉnh mùa vụ, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường kiến thức, nâng cao năng lực thích ứng, bảo đảm sinh kế cho người dân những vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, vùng thường xuyên bị tác động của thiên tai. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới thích ứng biến đổi khí hậu trong xây dựng đô thị, phát triển, sử dụng năng lượng, giao thông, vật liệu xây dựng, thoát nước... Chủ động chuẩn bị các phương án, điều kiện phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, vùng, miền, nhất là các địa phương ven biển, vùng núi cao, vùng dễ bị tổn thương trước thiên tai. Có phương án chủ động xử lý tình huống xấu nhất ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nâng cao năng lực tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống dịch bệnh. Chú trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân trong các vùng bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Phát huy trách nhiệm và huy động các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư tích cực tham gia phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện chương trình nâng cấp, bảo đảm an toàn các hồ chứa nước, nhất là ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, trung du miền núi phía Bắc. Nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông xung yếu, xây dựng cống ngăn mặn, giữ ngọt. Bảo vệ, đẩy mạnh phục hồi, trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn. Bảo vệ không gian thoát lũ trên các lưu vực sông, lòng sông, trước hết cho sông Hồng, sông Cửu Long, sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và các sông lớn khác. Củng cố và xây dựng mới các công trình cấp, thoát nước của các đô thị, nhất là vùng ven biển.. - Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng. Xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt theo các kịch bản nước biển dâng đến cấp xã. Rà soát, bổ sung điều chỉnh chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế - xã hội vùng và địa phương phù hợp với kịch bản nước biển dâng. Chủ động di dời, sắp xếp lại các điểm dân cư ở những vùng thường xuyên bị tác động của lũ lụt, bão và những khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Triển khai thực hiện đề án chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, các thành phố ven biển khác, nhất là ở vùng châu thổ sông Cửu Long.. - Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính. Điều tra, kiểm kê, xây dựng lộ trình, kế hoạch thực hiện giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Thúc đẩy các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện nước ta trên cơ sở hỗ trợ tài chính và công nghệ của các nước và tổ chức quốc tế. Phát triển thị trường trao đổi tín chỉ các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon toàn cầu. Ưu tiên thực hiện chương trình giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực chống mất rừng, suy thoái rừng và tạo sinh kế cho cộng đồng. Đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.. b) Về quản lý tài nguyên - Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trị kinh tế, thực trạng và xu hướng diễn biến của các nguồn tài nguyên quốc gia. Tài nguyên nước trên thế giới hiện nay ước có khoảng 1,39 tỷ km3, tập trung trong thủy quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ. Lượng nước trong khí quyển là 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% của tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng chủ yếu nguồn gốc từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)..
<span class='text_page_counter'>(12)</span> Coi trọng công tác điều tra cơ bản tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên biển. Chú trọng điều tra cơ bản địa chất khoáng sản vùng biển sâu, phát hiện các loại khoáng sản mới. Từng bước xác định, đánh giá các giá trị, thiết lập tài khoản, hạch toán trong nền kinh tế đối với các loại tài nguyên quốc gia. Đánh giá, phát huy các giá trị dịch vụ hệ sinh thái, cảnh quan, tài nguyên di truyền.. - Quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Xây dựng chiến lược bảo vệ, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên quan trọng đối với phát triển đất nước. Thiết lập cơ chế quản lý, giám sát minh bạch, bảo đảm sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Hạn chế tối đa, từng bước tiến tới chấm dứt xuất khẩu khoáng sản thô và chỉ qua chế biến sơ, thúc đẩy chế biến sâu. Đối với loại khoáng sản chiến lược đặc thù như than, dầu khí... cần có chính sách cụ thể, cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu. Định hướng dự trữ, nhập khẩu một số loại khoáng sản quan trọng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của đất nước. Đổi mới công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai. Thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả; kết hợp bảo vệ diện tích, độ phì nhiêu của đất canh tác nông nghiệp; từng bước khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ trong sử dụng đất. Đẩy mạnh khai thác quỹ đất chưa sử dụng, mở hướng đi mới trong khai thác quỹ đất trung du, miền núi cho mục đích phi nông nghiệp. Bảo vệ, phòng, chống hoang mạc hóa, sa mạc hóa... và bảo đảm diện tích đất cho phát triển rừng bền vững theo quy hoạch, đặc biệt là ở vùng núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Quy hoạch khai thác, bảo vệ nguồn nước, tăng cường quản lý nguồn nước theo lưu vực sông; tích nước, điều tiết nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường kiểm soát các nguồn thải gây ô nhiễm nguồn nước, kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác và sử dụng nước bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Chủ động hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ nguồn nước xuyên quốc gia. Kiểm soát các hoạt động khai thác, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng đánh bắt mang tính hủy diệt nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng gần bờ.. - Thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mới thay thế các nguồn tài nguyên truyền thống. Đánh giá về tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam được ước tính vào khoảng 513 MW, cao hơn sáu lần so với tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Trong đó, những khu vực hứa hẹn nhất cho phát triển điện gió chủ yếu nằm ở các vùng ven biển và cao nguyên miền nam trung bộ và miền nam. Theo nghiên cứu của WB thì khoảng 8,6% tổng diện tích lãnh thổ Việt Nam có tiềm năng gió với mức từ “cao” đến “rất cao”, phù hợp với việc triển khai tuabin gió cỡ lớn với tốc độ gió trên 7 m/s. Nguồn năng lượng từ sinh khối ước tính đóng góp tới 20% tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp ở Việt Nam. Nếu 50% lượng rơm rạ bị đốt bỏ mỗi năm, có nghĩa 16 triệu tấn inh khối bị lãng phí, phát thải ra môi trường 18,7 triệu tấn CO2, nửa triệu tấn CO, 12 nghìn tấn khí methane ( Mêtan là một khí gây hiệu ứng nhà kính, trung bình cứ 100 năm mỗi kg mêtan làm ấm Trái Đất gấp 23 lần 1 kg CO2), và hàng trăm nghìn tấn bụi lơ lửng cùng khí độc hại.Là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, với sản lượng hơn 40 triệu tấn/năm, Việt Nam có tiềm năng dồi dào về sinh khối từ rơm rạ và trấu. Lượng sinh khối phụ phẩm lúa gạo này được ước tính chiếm tới 64% các nguồn sinh khối khác.Nếu chúng ta tận dụng được nguồn phụ phẩm từ lúa gạo cho sản xuất năng lượng đem lại lợi ích kép, vừa khai thác được nguồn NLTT khổng lồ, vừa giảm đáng kể ô nhiễm môi trường. Chính phủ đã đề ra mục tiêu tăng thị phần của năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng thương mại sơ cấp từ 3% năm 2010 lên 5% năm 2020 và 11% năm 2050 và tăng thị phần điện sản xuất từ nguồn NLT như gió và sinh khối từ 3.5% tổng sản lượng điện sản xuất năm 2010 lên 4,5% năm 2020 và 6% năm 2030 .Có lộ trình bỏ trợ giá đối với nhiên liệu hóa thạch trước năm 2020. Từ năm 2016 thực hiện trợ giá trong 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ chất thải; hàng năm bố trí không dưới 3% tổng chi ngân sách cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu..
<span class='text_page_counter'>(13)</span> Đẩy mạnh đầu tư phát triển và sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỉ trọng sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng quốc gia. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Đẩy mạnh hợp tác thăm dò, khai thác tài nguyên từ bên ngoài, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Phát triển sản xuất các loại nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mới để thay thế các loại tài nguyên truyền thống.. c) Về bảo vệ môi trường - Phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường, bảo đảm chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường từ khâu lập, phê duyệt, triển khai thực hiện. Cấm nhập khẩu công nghệ, triển khai các dự án đầu tư mới sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tiêu tốn nguyên liệu, tài nguyên, hiệu quả thấp. Thực hiện cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường theo từng loại hình và mức độ tác động đến môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Thực hiện lộ trình áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường (phát thải và công nghệ) tương đương với nhóm các nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN. Tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp, tụ điểm khai thác, chế biến khoáng sản, các làng nghề, lưu vực sông, các đô thị lớn và khu vực nông thôn. Kiểm soát chất lượng không khí ở khu vực đô thị, thành phố có mật độ dân cư cao. Kiểm soát ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đốt rơm rạ…) ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát về môi trường đối với các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ nhằm ngăn chặn việc đưa công nghệ lạc hậu, máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên vật liệu không đảm bảo yêu cầu về môi trường từ bên ngoài vào nước ta. Hạn chế các tác động bất lợi từ hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá đối với môi trường nước ta. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án đầu tư xử lý nước thải, nhất là nước thải chứa kim loại nặng, chất phóng xạ, nước thải y tế, nước thải công nghiệp, nước thải chế biến nông, lâm, hải sản, nước thải sinh hoạt đô thị. Tập trung xử lý chất thải rắn, quản lý chất thải nguy hại. Thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và sản xuất, thu hồi năng lượng từ chất thải. Phát triển ngành kinh tế môi trường trên cơ sở ngành công nghiệp môi trường, dịch vụ bảo vệ môi trường và tái chế chất thải. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất và tiêu dùng bền vững.. - Khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân, hạn chế tác động do ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ của nhân dân. Quan tâm cải thiện chất lượng môi trường sống, cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường cho người dân, đặc biệt là ở các đô thị, khu, cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Đánh giá đầy đủ thiệt hại do ô nhiễm môi trường và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân gây ra. Tập trung xử lý triệt để, dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; áp dụng chế tài mạnh, xử lý nghiêm khắc, buộc các cơ sở gây ô nhiễm môi trường thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật. Chú trọng cải tạo những hồ, ao, kênh, mương, đoạn sông, suối bị ô nhiễm nặng, trước hết ở nơi đầu nguồn, trong các đô thị, khu dân cư. Tập trung nguồn lực thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và sông Đồng Nai. Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản. Đẩy nhanh tiến độ rà phá và khắc phục hậu quả bom mìn, cải tạo các vùng đất bị nhiễm chất độc điôxin, hoàn trả quỹ đất sạch phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, bảo đảm an toàn cho nhân dân. Chú trọng cải thiện chất lượng không khí, cây xanh, không gian vui chơi, giải trí trong các đô thị, khu dân cư, nhất là các thành phố lớn.. - Bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học..
<span class='text_page_counter'>(14)</span> Bảo vệ, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên, đẩy mạnh trồng rừng, nhất là rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn. Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng. Sớm dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên. Tăng cường quản lý, mở rộng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên hiện có tại những nơi có đủ điều kiện và đẩy nhanh việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên mới. Ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ cảnh quan, sinh thái, di sản thiên nhiên. Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại. Tăng cường quản lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen.. IV- GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1- Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường Đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung, xác định các đối tượng ưu tiên tuyên truyền, giáo dục; đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học phổ thông, đại học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý. Phổ biến kinh nghiệm, xây dựng năng lực, kỹ năng phòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu cho mọi người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tạo dư luận xã hội lên án và thống nhất nhận thức về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã. Nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, doanh nghiệp và mọi người dân. Xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về bảo vệ môi trường trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên. Hình thành các thiết chế văn hóa, đạo đức môi trường trong xã hội. Thực hiện đánh giá, phân hạng về môi trường đối với các ngành, địa phương.. 2- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Chú trọng nghiên cứu khoa học về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Sớm hình thành một số chuyên ngành khoa học mũi nhọn như năng lượng tái tạo, tái chế chất thải, vật liệu mới, thiên văn... Thúc đẩy đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, ít chất thải và các-bon thấp; nghiên cứu phát triển và tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong đó chú trọng đến các giải pháp phi công trình. Tăng cường ứng dụng công nghệ viễn thám, công nghệ mới, tiên tiến trên nền tảng công nghệ thông tin trong dự báo, cảnh báo, điều tra, đánh giá, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Xây dựng và thực hiện chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước phục vụ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.. 3- Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như đầu tư, thuế, xử lý vi phạm hành chính, dân sự... theo hướng bổ sung, kết hợp khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Sửa đổi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế,.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> hình sự... về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ sức răn đe. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật. Nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực theo hướng tổng hợp, thống nhất, tập trung đầu mối, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo trong quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hoá; cơ chế để nhân dân giám sát có hiệu quả việc quản lý khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.. 4- Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Kết hợp tăng chi từ ngân sách với đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhất là các nguồn vốn ưu đãi cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò, trách nhiệm của bộ quản lý chuyên ngành trong việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực. Hằng năm ưu tiên bố trí ngân sách phù hợp cho công tác điều tra cơ bản, xử lý ô nhiễm môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai. Bảo đảm sử dụng minh bạch, đúng mục đích và hiệu quả nguồn vốn ODA và các nguồn hỗ trợ quốc tế khác. Quán triệt và vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc: người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường; người được hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường phải có nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tham gia hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; hỗ trợ người dân trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, người dân bị ảnh hưởng do khai thác tài nguyên thái quá. Có lộ trình đến năm 2020 xoá bỏ các cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với nhiên liệu hoá thạch; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ chất thải.. 5- Coi trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế; coi trọng việc tham gia và thực hiện các Điều ước quốc tế. Tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm, đối thoại chính sách với các nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Đẩy mạnh hợp tác với các nước có liên quan, các tổ chức và các diễn đàn quốc tế để bảo vệ các nguồn nước xuyên biên giới, tiếp cận công nghệ mới và huy động nguồn lực cho giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Thúc đẩy hợp tác Á - Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Á, trong ASEAN, tiểu vùng sông Mê Kông về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường..
<span class='text_page_counter'>(16)</span>