Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.69 KB, 17 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. KINH NGHIỆM:. ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÍ CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC. Quảng Bình, tháng 3 năm 2013..
<span class='text_page_counter'>(2)</span> CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. KINH NGHIỆM:. ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÍ CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC. Họ và tên: NGUYÊN ĐÌNH NGUYÊN Chức vụ: Phó hiệu trưởng Đơn vị công tác: THCS Quảng Lộc. Quảng Bình, tháng 3 năm 2013..
<span class='text_page_counter'>(3)</span> A. PHẦN MỞ ĐẦU: I. Lý do chọn đề tài: Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước và hội nhập Quốc tế, nguồn lực con người có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới có tri thức, phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Để đáp ứng được vai trò nhiệm vụ quan trọng đó, giáo dục cần có bước chuyển mạnh mẽ, phải đổi mới, trước hết là đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời tích cực thực hiện các cuộc vận động của nguyên bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”, “Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo”. Thực hiện chỉ thị số 40/2008/CT - BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Thực hiện tốt các cuộc vận động, chỉ thị của ngành chính là để nâng cao chất lượng giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động cần thiết với người làm nghề dạy học. Nâng cao chất lượng dạy học chính là để đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc thực hiện nghị quyết Trung ương II - khóaVIII của Đảng. Giáo dục và Đào tạo trở thành nhân tố quyết định vị thế của mỗi quốc gia và sự thành đạt của mỗi con người trong cuộc sống. Hoạt động chuyên môn của trường là thực hiện hầu hết các nhiệm vụ trọng tâm của năm học, hoạt động chuyên môn có tốt, có mạnh thì chất lượng giáo dục của nhà trường mới cao, chất lượng giáo dục của một trường là thước đo năng lực quản lý của Ban giám hiệu nhà trường và trình độ, năng lực giảng dạy của giáo viên trường đó. Xong thực tế trong những năm qua chất lượng dạy và học của trường có cao nhưng chưa ổn định, còn nhiều bất cập. Bởi tác động mặt xấu của thời kì hội nhập, của mạng Intenet. Những mặt xấu của xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến những học sinh thiếu động cơ thái độ học tập dẫn đến kết quả học tập yếu, kém, bỏ học (Thể hiện qua kết quả xếp loại hai mặt cuối năm học của nhà trường). Là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn ở trường trung học cơ sở, tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là những trường vùng sâu vùng xa như trường chúng tôi. Qua nhiều năm làm công tác chuyên môn tại trường trung học cơ sở Quảng Lộc, tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm trong quản lý chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục ở trường trung học cơ sở. Thực hiện chủ đề năm học “Tiếp tục đổi mới quản lý nâng cao chất lượng giáo dục”, tôi chọn đề tài “Quản lý chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Quảng Lộc”..
<span class='text_page_counter'>(4)</span> II. Mục đích và phương pháp: 1. Mục đích nghiên cứu: Qua quá trình phân tích, nghiên cứu, thu thập thông tin về hoạt động chuyên môn tại trường THCS Quảng Lộc. Tôi muốn rút ra một số kinh nghiệm trong công tác quản lý chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS. 2. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp trò chuyện: Tiến hành trong quá trình giảng dạy, các buổi sinh hoạt chuyên môn, qua trò chuyện với giáo viên và học sinh, trao đổi trong BGH. - Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo: Phương pháp này được tiến hành trước và trong quá trình nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu khách quan: Được tiến hành trong suốt quá trình nghiên cứu. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Qua quá trình làm việc, trò chuyện, thực tế, nghiên cứu sản phẩm hoạt động. III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1. Cán bộ giáo viên học sinh trường THCS Quảng Lộc. 2. Công tác phát triển số lượng và duy trì sĩ số, chất lượng đại trà và chất mũi nhọn của trường THCS Quảng Lộc trong thời gian từ ngày nhận công tác tại trường đến nay..
<span class='text_page_counter'>(5)</span> B. PHẦN NỘI DUNG: I. Cơ sở lý luận: 1. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế 2. Tên cơ sở các khái niệm, chức năng, nội dung, yêu cầu, nguyên tắc quản lý giáo dục. 1.1. Các khái niệm về quản lý giáo dục: 1.1.1. Khái niệm về quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là công việc rất quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, nhằm chuẩn bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng để trở thành người công dân tốt sau này. Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả cao nhất. Quản lý giáo dục ở trường THCS được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường và thực hiện nhiệm vụ giáo dục. 1.1.2. Khái niệm về giáo dục: Giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện pháp hướng tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng và đạo đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu, hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội. 1.1.3. Quản lý chuyên môn: Là hoạt động của chuyên môn nhằm tập hợp, tổ chức, huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục. 2. Nội dung của quản lý chuyên môn: - Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm của năm học để xây dựng kế hoạch chuyên môn. Kế hoạch năm, kế hoạch học kỳ, kế hoạch học tháng, kế hoạch tuần phù hợp với đặc điểm tình hình của trường của địa phương, thực hiện và chỉ đạo thực hiện kế hoạch. - Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh. - Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp phát triển số lượng và duy trì sĩ số. - Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp nâng cao chất lượng đại trà. - Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp nâng cao chất lượng mũi nhọn. - Xây dựng kế hoạch, thực hiện và chỉ đạo thực hiện kiểm tra đánh giá. 3. Yêu cầu của việc quản lý chuyên môn: - Nắm được cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác chuyên môn trong nhà trường..
<span class='text_page_counter'>(6)</span> - Hiểu rõ nhiệm vụ năm học và các thông tư hướng dẫn thực hiện năm học, các phương pháp giáo dục, chương trình giáo dục THCS để tổ chức dạy, học có hiệu quả nhất. - Biết huy động, xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực của nhà trường, cộng đồng, xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục. 4. Nguyên tắc quản lý chuyên môn: Quản lý chuyên môn dựa trên các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc chính trị xã hội: Tính đảng, tính giai cấp, sự kết hợp Nhà nước - Nhân dân; tập trung dân chủ; pháp chế xã hội chủ nghĩa. - Nguyên tắc tổ chức quản lý giáo dục: Sự thống nhất của hệ thống các bộ phận; kết hợp lãnh đạo tập thể trách nhiệm cá nhân. - Nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục: kết hợp hài hoà các lợi ích; chuyên môn hoá; sử dụng các phương pháp giáo dục. II. Thực trạng: 1. Thuận lợi – Khó khăn: 1.1. Thuận lợi: - Chính quyền địa phương có sự quan tâm đến công tác dạy và học, trong nhà trường, nhiều phụ huynh học sinh có tâm nguyện đầu tư cho con em học tốt nên đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để con em được đến trường. - Trường có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình, năng động và sáng tạo và đặc biệt rất có tình cảm và đạo đức nghề nghiệp; yêu nghề mến trẻ, tận tình với công tác chuyên môn và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội tại địa phương. - Học sinh ngoan ngoãn, lễ phép, chăm chỉ học tập, có hoài bão và lí tưởng sống, kính thầy, yêu bạn, chấp hành tốt nội quy của nhà trường đề ra. - Trường làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, được nhân dân đồng thuận, tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở vật chất xây dựng trường. Công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng được chú trọng, BGH gương mẫu, kiểm tra động viên nhắc nhở kịp thời, giáo viên nhiệt tình có ý thức phấn đấu vươn lên. 1.2. Khó khăn: - Xã Quảng Lộc là một xã thuộc diện khó khăn (xã cồn bãi) có địa hình chia cắt, cách xa trung tâm huyện, dân cư phần lớn là Công giáo. Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề ngư đời sống một số gia đình còn gặp nhiều khó khăn, do đó việc quan tâm đến học tập của con em bị hạn chế dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư thời gian, vật chất, tinh thần cho con em học tập, nên ảnh.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> hưởng lớn đến kết quả học tập và rèn luyện của một số học sinh và kết quả phấn đấu của nhà trường. - Trường đóng trên địa bàn xã có thôn Cồn Sẽ (chiếm ½ số học sinh toàn trường) nằm tách riêng như một hòn đảo, nên việc đi lại học tập của học sinh còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa. - Đội ngũ giáo viên tuy rất nhiệt tình, nhưng chất lượng giáo viên không đồng đều, đa số giáo viên trẻ nên kinh nghiệm giảng dạy phần nào còn hạn chế. - Nhiều học sinh ý thức học tập chưa tốt nên bị ảnh hưởng bởi tác động của mặt xấu xã hội (Game, bi-da, ...). II. Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục: 1. Mục tiêu của các giải pháp, biện pháp: Trường THCS Quảng Lộc được tách ra từ trường PTCS Quảng Lộc vào khoảng năm 1991, trong quá trình hoạt động, do ảnh hưởng bởi những hoàn cảnh khó khăn đã nêu nên chất lượng dạy học còn hạn chế. Những năm gần đây, đặc biệt là năm học 2008 – 2009 (năm học bắt đầu thực hiện cuộc vận động hai không của Bộ trưởng bộ giáo dục) thì chất lượng giáo dục lại càng thấp, học sinh bỏ học càng nhiều. Nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương; sự chỉ đạo sát sao của ngành; sự cố gắng, nỗ lực của tập thể sư phạm nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường quyết tâm đổi mới quản lý, đặc biệt là đổi mới quản lý chuyên môn. Xây dựng trường từ một trường yếu kém, thành trường có chất lượng mũi nhọn khá cao trong toàn huyện. *Kết quả khảo sát hai năm trước khi đổi mới quản lý chuyên môn: Hạnh kiểm Năm học. HS bỏ học SL %. Tốt. Khá. SL %. SL %. Học lực Trung bình SL %. Giỏi. Khá. SL % SL %. Trung bình. Yếu. Kém. SL %. SL %. SL %. 2008 – 2009 2009 2010. 2. Nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp, giải pháp: 2.1. Các biện pháp giáo dục đạo đức tưởng cho học sinh: Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. Giáo dục đạo đức cho học sinh là vô cùng quan trọng đối với học sinh ở.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> bậc THCS. Các em đang ở tuổi quá độ chưa ý thức được hành vi, việc làm của mình, thích gì làm nấy, ham chơi, đua đòi, ... Nếu giáo dục đạo đức không tốt thì các mục tiêu giáo dục khác bị hạn chế. Xác định được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho các em nên BGH nhà trường đặc biệt quan tâm. Với mục đích giáo dục đạo đức làm cho các em chăm ngoan, chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường, biết vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo, đi học đúng giờ, chuyên cần đầy đủ; sống có kỷ cương, nề nếp. Bằng các phương pháp: - Tác động vào nhận thức tình cảm: Đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn. - Tổ chức các hoạt động thực tiễn: Giao việc, rèn luyện, tập thói quen, .... - Kích thích tình cảm và hành vi: Thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt... - Gắn kết các hoạt động trên lớp và ngoài giờ lên lớp. - CB – GV - CNV phải làm gương cho học sinh về mọi mặt: Giao tiếp, ứng xử, lời nói, việc làm,... 2.2. Các biện pháp phát triển số lượng và duy trì sĩ số: Trường ở vùng khó khăn cồn bãi, giáo dân chiếm đa số như trường Quảng Lộc thì công tác phát triển và duy trì sĩ số là vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển số lượng và duy trì sĩ số BGH nhà trường đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đề ra nhiều biện pháp để phát triển số lượng và duy trì sĩ số cụ thể như sau: 2.2.1. Biện pháp phát triển số lượng: Hàng năm vào đầu tháng 7 sau khi nhận được kế hoạch tuyển sinh của PGD&ĐT. Nhà trường lên kế hoạch, gửi thông báo tuyển sinh về các thôn, đồng thời phân công giáo viên xuống các thôn tuyên truyền vận động phụ huynh có con em đã hoàn thành chương trình tiểu học, mang hồ sơ của con em về trường nhập học. Huy động hết số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6. Chính vì vậy mà năm nào nhà trường cũng đạt và vượt kế hoạch tuyển sinh của phòng đề ra. 2.2.2. Biện pháp duy trì sĩ số: Công tác duy trì sĩ số là công tác hết sức quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hai mặt. Nhà trường đã áp dụng nhiều biện pháp để tăng tỉ lệ chuyên cần, giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học như: - Công tác tư tưởng: Tăng cường quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng đến tập thể sư phạm nhà trường và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác xã hội hoá giáo dục và phổ cập THCS..
<span class='text_page_counter'>(9)</span> - Tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội và các hoạt động tập thể: Nắm bắt tâm lý học sinh bậc THCS thích hoạt động tập thể, nhà trường luôn coi trọng các hoạt động thập thể. Tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thực hiện có hiệu quả sinh hoạt 15 phút đầu giờ và tiết sinh hoạt lớp cuối tuần, đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động như thi văn nghệ, thể thao, thi an toàn giao thông, thi chúng em kể chuyện Bác Hồ, các trò chơi dân gian, thi nét đẹp đội viên, ... Kết quả mỗi khi trường tổ chức vui chơi, văn nghệ, thể thao thì tỉ lệ chuyên cần hàng buổi cao, có em đã nghỉ học lại tiếp tục đến trường, tỉ lệ học sinh bỏ học giảm. - Nâng cao tinh thần trách nhiệm: Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, hàng năm vào đầu năm học nhà trường tổ chức bàn giao lớp và khoán sĩ số đến tận GVCN, GV bộ môn và đưa vào chỉ tiêu xếp loại thi đua. - Nâng cao uy tín CB – GV - NV: Nhà trường khuyến khích và tạo điều kiện cho CB – GV - CNV theo học các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề để truyền thụ và thuyết phục có hiệu quả cao. Mỗi thầy giáo, cô giáo, mỗi CB - NV phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy, ân cần, niềm nở, nói năng nhẹ nhàng, thường xuyên trò chuyện với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy ở thầy, cô giáo của mình có kiến thức sâu rộng, có hiểu biết nhiều mặt tạo cho học sinh niềm tin yêu, kính phục, đồng thời là người mẹ hiền khi cần được che chở, người bạn tốt khi cần tâm sự, tạo cho các em cảm thấy tin tưởng, thoải mái hứng thú đến trường, để mỗi ngày đến trường của các em thật sự là một ngày vui. - Tăng cường vận động: Khi có học sinh nghỉ học trước hết GVCN trực tiếp gặp gia đình, bạn bè tìm hiểu nguyên nhân, bàn cách động viên con em, đồng thời tổ chức cho nhóm bạn thân gặp trực tiếp học sinh làm công tác tư tưởng rồi rủ rê, lôi kéo bạn đến trường, nếu không được thì GVCN trực tiếp gặp học sinh trò chuyện tâm tình chia sẻ những vướng mắc, kiên trì động viên học sinh đến trường, không để tình trạng học sinh nghỉ học kéo dài, lây lan. Cuối cùng BGH, chi bộ nhà trường cùng vào cuộc kết hợp với gia đình, thôn xã kiên trì thuyết phục, thực hiện mưa dầm thấm sâu (Các tổ chức này không nên đi tập trung mà đi riêng lẻ vào thời gian khác nhau thì có hiệu quả hơn vì khi đi cùng một lúc tập trung đông người học sinh mắc cỡ, tránh mặt, ta không thể gặp học sinh được). 2.3. Các biện pháp nâng cao chất lương đại trà: Đây là nhiệm vụ cơ bản và trọng tâm của năm học. Nếu chất lượng đại trà (Xếp loại hai mặt: Hạnh kiểm và học lực) thấp coi như không hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chính vì vậy mà BGH đầu tư nhiều công sức lên kế hoạch, thực hiện và chỉ đạo thực hiện bằng nhiều biện pháp: - Tăng cường quán triệt tư tưởng: Ông cha ta có câu: “Tư tưởng không thông đeo bi đông cũng nặng”. Để tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, vui vẻ, thoải mái, cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ năm học thì BGH nhà trường cần làm.
<span class='text_page_counter'>(10)</span> tốt công tác tư tưởng: Ngay từ đầu năm nhà trường đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ năm học của ngành cấp trên, nêu cao tinh thần tự học và sáng tạo trong chuyên môn. Nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm cá nhân, tận tụy trong công tác. Phân công, công việc phù hợp với chuyên môn, năng lực của từng giáo viên, BGH thường xuyên động viên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, vươn lên đạt thành tích xuất sắc trong giảng dạy. (Ví dụ: Khi phân giáo viên dạy hay chủ nhiệm một lớp khó khăn tôi thường gặp trước giáo viên đặt vấn đề, cũng là để giáo viên biết BGH nhà trường rất tin tưởng vào khả năng của họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ). - Tăng cường áp dụng quy chế chuyên môn: Biện pháp này mang tính pháp lý, yêu cầu tất cả cán bộ, giáo viên, công nhân viên phải thực hiện: + Thực hiện tốt quy chế chuyên môn, trước khi lên lớp phải chuẩn bị kĩ bài giảng làm sao đảm bảo phù hợp với từng đối tượng học sinh, phải bao quát lớp, phải biết được những em nào học giỏi, học khá và những em nào học yếu, học kém (Đầu năm nhà trường tổ chức thi khảo sát, phân loại học sinh) để kịp thời có phương pháp giảng dạy phù hợp, khuyến khích các em học khá giỏi vươn lên, em yếu kém không nản cố gắng vươn lên học tốt. Thực hiện giảng dạy theo chuẩn kiến thức bộ môn. + Tích cực đổi mới phương pháp dạy và học, không truyền thụ kiến thức một chiều, bắt học sinh ghi nhớ kiến thức, mà phải hướng dẫn học sinh tích cực chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen tự học, tinh thần hợp tác, niềm say mê học tập. + Thực hiện chấm trả bài đúng quy định, đảm bảo các tiết dạy phải đạt từ khá trở lên, hạn chế đến mức thấp nhất số tiết dạy trung bình. Triển khai xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập kiểm tra của từng bộ môn để giáo viên, học sinh tham khảo và sử dụng trong dạy học. + Soạn bài bằng công nghệ thông tin phần mềm mới, khuyến khích soạn giáo án điện tử, tăng cường trao đổi kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Rèn luyện kĩ năng sống và những quy tắc ứng xử cho học sinh. Soạn bài theo hướng đổi mới trong đó học sinh giữ vai trò chủ động, giáo viên là người đóng vai trò hướng dẫn cho học sinh khai thác, tiếp nhận kiến thức. + Giáo viên tích cực tham gia dự giờ thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp thường xuyên, liên tục (Đưa vào nghị quyết hội nghị công chức - viên chức để thực hiện) cụ thể: Giáo viên biên chế : 01 tiết/tuần và 37 tiết / năm/ 1 giáo viên Giáo viên tập sự. : 02 tiết/tuần và 74 tiết / năm / 1giáoviên. + Tăng cường sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học. + Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá học sinh, đổi mới trong cách ra đề kiểm tra, đề thi theo hướng người học hiểu bài, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào bài kiểm tra, tránh học vẹt, học đối phó. Đề phải đảm bảo tính vừa sức không.
<span class='text_page_counter'>(11)</span> đánh đố, không quá khó. Phân công ra đề kiểm tra chéo khối lớp và kiểm tra tập trung. + BGH thường xuyên thanh tra, kiểm tra đột xuất đặc biệt tăng cường dự giờ thăm lớp. Kết quả các đợt dự giờ, kiểm tra được đưa vào chỉ tiêu thi đua của tháng, của kỳ và cả năm. + Quản lý bài kiểm tra chung, hoán đổi chấm bài kiểm tra giữa các giáo viên cùng bộ môn, quản lý điểm bằng phần mềm, thư kí cập nhật điểm hằng tuần. Giáo viên trả bài phải công bố đáp án và thang điểm để học sinh tự đối chiếu bài của mình, thông báo kết quả kiểm tra kịp thời cho phụ huynh học sinh biết. + Đảm bảo tốt các tiết thực hành thí nghiệm ở các môn khoa học tự nhiên (Vật lý, Hoá học), chú trọng các tiết Văn học, Lịch sử, Địa lý địa phương. Tăng cường giáo dục thể chất, giáo dục An toàn giao thông, nâng dần chất lượng học Ngoại Ngữ, tăng cường hướng dẫn cho học sinh giải toán bằng máy tính bỏ túi, giải toán, giải Tiếng Anh trên mạng Internet, nâng cao chất lượng các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp. + Để giáo viên tự chủ, tự chịu trách nhiệm về chất lượng của mình. Căn cứ vào chất lượng khảo sát đầu năm, các tổ trưởng xây dựng kế hoạch cho giáo viên đăng ký chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà, cam kết trách nhiệm giữa giáo viên bộ môn - tổ trưởng với BGH nhà trường về chất lượng giảng dạy của tổ mình. Khoán chất lượng đại trà đến từng giáo viên bộ môn nhằm giảm tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp. + Phân công giáo viên có năng lực và kinh nghiệm trong giảng dạy giúp đỡ những giáo viên mới về trường. + Bám sát phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành trong năm học. + Thực hiện nghiêm túc phân phối chương trình và nội dung giảm tải. + Thực hiện nghiêm túc kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, soạn giảng đầy đủ, chấm trả bài chính xác kịp thời, giáo viên phải phê ý kiến nhận xét về kết quả bài kiểm tra để học sinh đối chiếu khi trả bài, đảm bảo giờ giấc lên lớp, không vào muộn ra sớm. + Đánh giá chất lượng học sinh phải đảm bảo khách quan, trung thực chính xác với từng đối tượng theo đúng thông tư hướng dẫn. + Khen thưởng kịp thời những giáo viên có thành tích cao trong giảng dạy, nghiêm khắc phê bình những giáo viên, công nhân viên vi phạm quy chế chuyên môn. - Đẩy mạnh các phong trào thi đua:.
<span class='text_page_counter'>(12)</span> + Phát động phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, tổ chức chuyên đề và xây dựng các giải pháp để nâng cao chất lượng (Mỗi năm trường tổ chức ít nhất là hai chuyên đề). + Các tổ tăng cường sinh hoạt tổ, nhóm: Trao đổi, thảo luận, đúc rút kinh nghiệm thống nhất phương pháp sau mỗi tiết dự, hay sau mỗi chuyên đề. Duy trì các tiết dạy mẫu, phát triển các tiết dạy tốt. + Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền đoàn thể tuyên truyền trong nhân dân về sự đồng thuận trong cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. +Phát động phong trào học tốt (tháng học tốt, tuần học tốt, giờ học tốt), phát triển phong trào hoa điểm mười trong suốt cả năm học, cho học sinh đăng kí đôi bạn cùng tiến. + Tổ chức thao giảng chào mừng các ngày lễ lớn (Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày thành lập đoàn 26/3, ...) Thao giảng ở tổ tiến tới hội giảng toàn trường, phát hiện bồi dưỡng các giáo viên có đủ năng lực tham dự hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh. - Nâng cao hiệu quả của chỉ đạo và tổ chức thực hiện: + Lập kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi và quan tâm phụ đạo học sinh yếu kém ngay từ đầu năm ở tất cả các khối lớp, khoán chất lượng đến từng giáo viên bộ môn. + Đoàn – Đội thường xuyên tổ chức các hoạt động Đố vui để học bằng hệ thống câu hỏi tổng hợp kiến thức đã học trong cuối các giờ chào cờ hàng tuần để khắc sâu kiến thức, tăng cường các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm khuyến khích các em tìm tòi, sáng tạo, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. + Tham mưu tốt nguồn kinh phí đảm bảo cơ sở vật chất tốt nhất đáp ứng cho nhu cầu học tập của học sinh. 2. 4. Biện pháp nâng cao chất lượng mũi nhọn: Những trường có địa hình thôn xã chia cắt như trường Quảng Lộc việc duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng đại trà đã khó, việc nâng cao chất lượng mũi nhọn lại càng khó hơn. Chất lượng mũi nhọn đánh giá năng lực thực sự của giáo viên và khả năng tổ chức, quản lý của BGH nhà trường là bề nổi của nhà trường. Để có nhiều học sinh giỏi huyện, tỉnh, trường tôi đã tiến hành thực hiện các bước: - Trước hết nhà trường phải xây dựng kế hoạch cụ thể, lâu dài: + Lựa chọn GV có năng lực có kinh nghiệm dạy và bồi dưỡng. + Thi chọn để tạo nguồn ngay từ lớp 6 đối với hai môn Toán và Ngữ văn, ba môn lớp 7, tám môn ở lớp 8 nhưng học sinh được công nhận học sinh giỏi trường ở lớp 8 được dự thi chọn đội tuyển học sinh giỏi đi thi huyện ở khối 9..
<span class='text_page_counter'>(13)</span> + Lên kế hoạch thi chọn, bồi dưỡng và tổ chức thi chọn đội tuyển; tiến hành bồi dưỡng ngay từ đầu năm học. - Các biện pháp thực hiện: + Tác động tư tưởng: Để giáo viên và học sinh phát huy hết khả năng, năng lực của mình BGH nhà trường cần làm tốt công tác tư tưởng: * Đối với giáo viên ai cũng có lòng tự trọng sự kiêu hãnh, đặc biệt là uy tín và danh dự nên các nhà quản lý phải biết cách khích lệ, tác động, khơi dậy sự kiêu hãnh để giáo viên phát huy hết khả năng của mình. Bằng các biện pháp: Động viên, giao nhiệm vụ, các hình thức khen thưởng. Đôi khi bằng sự phê bình tế nhị (Trong các cuộc họp nêu gương khen ngợi những giáo viên có học sinh giỏi, hoặc tác động đến GV chưa có học sinh giỏi bằng câu thành ngữ “Thầy nào, trò nấy”, thầy có giỏi thì mới có trò giỏi...) kích để giáo viên tức trí, quyết tâm giảng dạy, bồi dưỡng để có học sinh giỏi. BGH cũng luôn tạo điều kiện về thời gian cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi đi thi tỉnh, đặc cách thi đua (Bình xét tiên tiến xuất sắc) treo giải thưởng cho giáo viên có học sinh giỏi huyện, tỉnh, ... * Đối với học sinh: Động viên khích lệ lòng tự hào của bản thân gia đình, phát huy truyền thống của trường, thể hiện lòng biết ơn các thầy cô và cho các em thấy tương lai quyền lợi của các em khi đạt học sinh giỏi để các em nhiệt tình tham gia thi tuyển và cố gắng hơn trong học tập. + Để giáo viên tự chịu trách nhiệm: Cũng như chất lượng đại trà BGH để giáo viên tự chủ tự chịu trách nhiệm như: Hàng năm các tổ trưởng xây dựng kế hoạch cho giáo viên đăng ký học sinh giỏi trường, huyện, tỉnh và cả quốc gia. Những giáo viên có năng lực và kinh nghiệm nhà trường cho giáo viên đó tự chọn và cam kết bồi dưỡng đậu huyện và đậu tỉnh. + Tuyển chọn đội tuyển: Đây là khâu hết sức quan trọng để có đội tuyển học sinh giỏi ở khối 9 nhà trường phải tiến hành tuyển chọn bồi dưỡng tạo nguồn ngay từ lớp 6 (Môn Ngữ văn, Toán) các môn khác từ lớp 7, lớp 8 và chọn lọc dần đến đầu năm lớp 9 thì tuyển chọn đội hình chính thức. + Công tác bồi dưỡng: Được BGH nhà trường đặc biệt quan tâm từ khâu chọn lựa giáo viên dạy và bồi dưỡng đến sắp xếp thời khoá biểu ôn tập; tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất. III. Kết quả: 1. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp: 1.1.Cơ sở vật chất: Trường có đầy đủ phòng học, phòng thư viện, phòng thiết bị, phòng máy tính; sân chơi bãi tập,....
<span class='text_page_counter'>(14)</span> 1.2. Đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên tương đối đầy đủ theo định biên; có trình độ, năng lực; có phẩm chất đạo đức tốt; năng động nhiệt tình, tạo sáng; yêu nghề, mến trẻ; tập thể sư phạm đoàn kết 1.3. Học sinh: Ngoan, chăm học, chấp hành tốt nội quy, quy định của trường. * Số lượng giáo viên và học sinh của trường: - Tổng số CB – GV - CNV là 40, trong đó trình độ đại học 12; trình độ cao đẳng 18, hiện nay có 06 GV đang theo học đại học tại chức. - Học sinh: Tổng số 595 em; Trong đó: Nữ: 251 học sinh; Tôn giáo: 283 học sinh. 2. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp: Các giải pháp, biện pháp trên đều có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, do vậy cần được phối kết hợp sử dụng thì mới nâng cao được chất lượng hiệu quả công tác giáo dục cho học sinh. 3. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: Nhờ áp dụng các biện pháp hợp lý, phù hợp với đặc điểm tình hình của trường của địa phương nên chất lượng giáo dục của trường trong những năm qua không ngừng được nâng cao, cả về chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà. Tôi xin lấy ví dụ trong 2 năm gần đây: Kết quả công tác tuyển sinh và duy trì sĩ số : Cô ng tác. Tuyển mới. Năm học. Bỏ học SL. %. SL. %. 2010 - 2011 2011 – 2012 Kết quả xếp loại hai mặt trong 2 năm: Năm học. Học lực Giỏi SL. 2010-. Khá %. SL. TB %. SL. Hạnh kiểm Yếu. %. SL. %. Kém. Tốt. SL. SL. %. Khá %. SL. TB %. SL. %.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> 2011 20112012. Chất lượng mũi nhọn trong 2 năm qua: Năm học. Giỏi trường. Giỏi huyện. Giỏi tỉnh. Giỏi quốc gia. 2010- 2011 2011 – 2012. * Một số kinh nghiệm đúc rút trong quá trình nghiên cứu: Qua quá trình nghiên cứu tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm quản lý chuyên môn sau: - Xây dựng kế hoạch cụ thể, rõ ràng, theo đúng thông tư hướng dẫn, phù hợp đặc điểm tình hình của trường của địa phương, khả thi. - Thực hiện, chỉ đạo thực hiện, phải năng động, sáng tạo; mềm dẻo và cương quyết. - Coi trọng giáo dục đạo đức cho học sinh và làm tốt công tác tư tưởng cho giáo viên. - Các tổ chức trong nhà trường phải hoạt động đồng bộ. - Đa dạng hoá các hoạt động trong nhà trường. - Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, kết hợp chặt chẽ ba môi trương giáo dục: Gia đình, nhà trường, xã hội..
<span class='text_page_counter'>(16)</span> C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: I. Kết luận: Qua đề tài trên tôi thiết nghĩ để chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao thì người quản lý giáo dục trước hết phải có cái tâm, cái tầm, hết lòng vì học sinh thân yêu, coi trường là nhà, ân cần, tận tụy với học sinh, luôn luôn trăn trở, tìm ra các biện pháp tối ưu và biết kết hợp tổng hợp các biện pháp, phát huy mặt mạnh của trường, tranh thủ sự ủng hộ của xã hội. Chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy nguồn lực con người là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là nòng cốt. Để các mục tiêu giáo dục đạt chất lượng cao thì việc đầu tiên ở trường THCS là giáo dục đạo đức cho các em, giúp các em hiểu được cái đúng, cái sai, việc gì lên làm, việc gì không nên làm Tiếp theo là phải làm tốt công tác duy trì sĩ số, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần cao, giảm thiểu tỉ lệ học sinh bỏ học ta phải kết hợp: Tuyên truyền và vận động, gắn kết gia đình và nhà trường với xã hội. Thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể, vui chơi, văn nghệ, thể thao và phải thật kiên trì vận động. Đặc biệt thầy giáo, cô giáo phải có trình độ, có năng lực, có khả năng truyền thụ, được học sinh tin yêu và kính phục. Nâng cao chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và cũng là thước đo năng lực giảng dạy của giáo viên và khả năng quản lý của BGH nhà trường. Nên đòi hỏi người quản lý phải năng động sáng tạo, luôn đổi mới từ khâu lên kế hoạch đến việc đề ra biện pháp thực hiện, kiểm tra đánh giá. Kết hợp nhiều biện pháp từ công tác tư tưởng, thực hiện quy chế chuyên môn; các phong trào thi đua,... Sử dụng các biện pháp vừa mềm mỏng vừa cứng rắn dựa trên các nguyên tắc quản lý giáo dục. Đồng thời phải thường xuyên kiểm tra, động viên nhắc nhở, tạo điều kiện thuận lợi để toàn thể giáo viên công nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ. II. Kiến nghị: 1. Đối với gia đình: Cần quan tâm, theo dõi việc học tập của con em mình hơn nữa, thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn để phối hợp giáo dục các em. 2. Đối với nhà trường: Tăng cường hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục để phát huy mọi nguồn lực vào hoạt động giáo dục 3. Đối với chính quyền địa phương: Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, xây thêm phòng chức năng, phòng học bộ môn, nhà đa chức năng, sân chơi bãi tập đầy đủ phục vụ cho việc dạy và học. Đồng thời tạo điều kiện về đất ở để giáo viên yên tâm công tác lâu dài tại địa phương..
<span class='text_page_counter'>(17)</span> 4. Đối với phòng Lao động, thương binh, xã hội huyện: Cần quan tâm cấp kinh phí hỗ trợ học tập đầy đủ, kịp thời theo tháng. 5. Đối với Phòng GD &ĐT: Việc tuyển dụng, bố trí chỉ tiêu giáo viên giảng dạy cho các trường cần đảm bảo theo yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Trên đây là những kinh nghiệm và thành công bước đầu trong quá trình quản lý chuyên môn, mà bản thân đã nghiên cứu và vận dụng. Do khả năng có hạn hạn nên trong quá trình, trình bày không tránh khỏi sai sót, hạn chế. Rất mong các đồng nghiệp và ban giám khảo góp ý để bản thân rút kinh nghiệm, sửa chữa. Xin chân thành cảm ơn. Quảng Lộc, ngày 06 tháng 03 năm 2013 NGƯỜI THỰC HIỆN. Nguyễn Đình Nguên.
<span class='text_page_counter'>(18)</span>