Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

TIỂU LUẬN lớp CHUYÊN VIÊN uy tín người lãnh đạo quản lý, thực trạng và giải pháp nâng cao uy tín chủ tịch ủy ban nhân xã tam quan, tam đảo, vĩnh phúc hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (167.4 KB, 17 trang )

TRƯỜNG…
KHOA …


TIỂU LUẬN
Chủ đề: Uy tín người lãnh đạo quản lý, thực trạng và giải pháp nâng
cao uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc
hiện nay

Họ tên học viên:…………………….
Lớp:…………….,
Vị trí cơng tác:………………………..
Đơn vị cơng tác:……………...............

Hà Nội – 2020


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1.
Uy tín người lãnh đạo
Các yếu tố tạo thành uy tín người lãnh đạo
2.
3.
4.

1
2
2


5

Thực trạng uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan,
Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Giải pháp nâng cao uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam

Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

8
11
13
14


MỞ ĐẦU
Uy tín của người cán bộ, đảng viên là tổng hợp những thành tố phẩm chất,
năng lực, đức, tài của người cán bộ được biểu hiện bằng cống hiến, ảnh hưởng
của họ đối với xã hội, với cộng đồng, tập thể nơi người cán bộ đó sống và làm
việc. Uy tín của cá nhân người cán bộ, đảng viên bao giờ cũng được đặt trong
mối quan hệ với uy tín của tổ chưc đảng, cơ quan, đơn vị mà người cán bộ đó
hoạt động, trong tồn bộ uy tín của Đảng. Uy tín của Đảng, của tổ chức tạo cơ
sở, tơn lên uy tín của từng cá nhân cán bộ, đảng viên và uy tín của từng cán bộ,
đảng viên lại làm tăng thêm uy tín của Đảng, cho tổ chức.
Sự vĩ đại của Đảng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng không chỉ do sự
lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mà còn được tạo nên bởi sự phấn đáu hy sinh
không tiếc xương máu và những phẩm chất cao đẹp trong sáng của lớp lớp thế

hệ cán bộ, đảng viên. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng là sự phản ánh chân
thực uy tín của Đảng đối với nhân dân. Uy tín của từng cán bộ, đảng viên được
đo bằng lòng tin của cấp trên và quần chúng nhân dân. Hay nói cách khác, uy tín
của cán bộ, đảng viên phải được thừa nhận trong lòng quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Quần chúng chỉ quý mến những người
có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho
người ta bắt chước” [4, tr.552].
Uy tín của người cán bộ, đảng viên nói chung và Chủ tịch Ủy ban Nhân
xã Tam Quan, Tam Đảo, Vính Phúc nói riêng là do chính người cán bộ đó tạo
nên bằng sự nỗ lực phấn đấu luyện đức, rèn tài, những hành động hữu ích cụ thể.
Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Đó là
lý do mà em chọn đề tài “Uy tín người lãnh đạo quản lý, thực trạng và giải
pháp nâng cao uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh
Phúc hiện nay” làm đề tài tiểu luận.

1


NỘI DUNG
1. Uy tín người lãnh đạo
Từ khái niệm này, chúng tôi muốn nhấn mạnh nội hàm của phạm trù uy
tín là phải phản ánh được vấn đề cơ bản, nhân lõi của nó, đó là “sức cảm hóa” và
“lịng tin” - sự tín nhiệm. Trong đó “sức cảm hố” chính là nội dung của uy tín,
nó chỉ ra cơ sở tiền đề của uy tín - yếu tố quyết định để tạo nên uy tín và một khi
khách thể đã bị thu hút, bị lôi kéo, thừa nhận, tin tưởng và tuân theo chủ thể
mang uy tín tức là ở khách thể đã có “lịng tin” - sự tín nhiệm đối với chủ thể.
“Lịng tin” - sự tín nhiệm là sự phản ánh khách quan sức mạnh của “sức cảm
hố”, là hình thức biểu hiện của uy tín, từ sự thừa nhận, tin tưởng và tuân theo,
làm theo.v.v...
Chúng ta cũng có thể nhìn nhận điều này theo các trình độ khác nhau.

Trình độ thấp là sự so sánh, đánh giá những khía cạnh phẩm chất, năng lực, lời nói,
việc làm... của chủ thể đi đến chỗ thừa nhận tin tưởng của khách thể đối với chủ
thể. Trình độ biểu hiện cao của uy tín đó là sự ln theo làm theo của khách thể đối
với chủ thể một cách tự giác tự nguyện mà không hề băn khoăn, thắc mắc. Sự tuân
theo là kết quả của sự tác động biện chứng giữa nhận thức, quan điểm, niềm tin và
tình cảm, ý chí được củng cố thường xuyên, vững chắc.
Đối lập với những quan điểm duy tâm, siêu hình khác nhau về uy tín, tâm
lý học Mác-xít cho rằng uy tín mang bản chất xã hội, phản ánh tính lịch sử xã
hội sâu sắc. Uy tín được hình thành trước hết do những nhân tố chủ quan thuộc
về chủ thể là cơ sở tiền đề, nhưng nó cũng lại phụ thuộc một cách tất yếu khách
quan vào những đặc trưng của một xã hội nói chung, của nhóm người cụ thể
khác nhau nói riêng, cũng như thang giá trị xã hội và các chuẩn mực được thừa
nhận của một chế độ xã hội hay của một nhóm người nhất định. Mỗi giai đoạn
lịch sử khác nhau, mỗi chế độ xã hội khác nhau, mỗi dân tộc, lĩnh vực hoạt động
xã hội (ngành nghề) khác nhau đều có những tiêu chí đòi hỏi và đánh giá khác
nhau về vấn đề uy tín. Và do đó cũng có những nhận thức, quan điểm đánh giá ,
nhìn nhận uy tín một cách khác nhau. Dưới chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, bất
kể ai dù là lãnh đạo hay quần chúng dù là người giàu hay nghèo, nếu người đó
2


ln tận tâm với cơng việc có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong
sáng, có năng lực hoạt động thực tiễn trên cơ sở kiến thức sâu, rộng, năng động
sáng tạo; thực thà, ngay thẳng; sống có nhân đức, thương yêu mọi người; quan
tâm tới mọi người... và được mọi người thừa nhận tin tưởng và tuân theo, thì
người đó có thể trở thành người có uy tín.
Ngay trong cùng một chế độ xã hội, mỗi dân tộc, mỗi điều kiện hoàn cảnh
xã hội lịch sử khác nhau cũng có những tiêu chí đánh giá khác nhau về uy tín.
Thậm chí mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau lại có những u cầu khác nhau về
uy tín Ví dụ: người lãnh đạo cơ quan Đảng, chính quyền nhà nước nào đó có uy

tín, trước hết phải là người có phẩm chất chính trị - đạo đức tốt, có năng lực tổ
chức, quản lý, lãnh đạo giỏi; quan tâm sâu sát tới đời sống vật chất tinh thần
(nhất là lợi ích vật chất) của đơng đảo quần chúng và được quần chúng ủng hộ,
tin tưởng tn theo.
Uy tín có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau theo nhiều cách khác
nhau. Căn cứ vào chủ thể mang uy tín là ai mà có thể chia uy tín thành các loại
khác nhau: uy tín cá nhân và uy tín nhóm (tập thể).
Uy tín nhóm (tập thể), là uy tín của một nhóm (tập thể) nào đó. Đó là sức
cảm hố của nhóm (tập thể) tạo nên sự tín nhiệm của những người, nhóm (tập
thể) người hoặc tồn xã hội.
Uy tín cá nhân, là uy tín của một cá nhân cụ thể có ảnh hướng tới người
khác, tới nhóm (tập thể) người hoặc tồn xã hội.
Trong uy tín cá nhân, căn cứ vào lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội
khác nhau, uy tín được phân chia cụ thể thành các loại khác nhau như: uy tín
nghề nghiệp, uy tín lãnh đạo quản lý, uy tín chỉ huy... Cách phân chia này chủ
yếu dựa vào những phẩm chất, những giá trị xã hội nổi trội, đặc trưng chiếm ưu
thế do ngành nghề quy định của cá nhân mang uy tín.
Cũng có thể cịn có cách phân loại theo các mặt phẩm chất nhân cách của
chủ thể mang uy tín, ví dụ như: uy tín chính trị, uy tín đạo đức...
Trong thực tế cịn có những biểu hiện khác của uy tín như: hiện tượng “uy
tín giả” và giảm sút uy tín.
3


Uy tín giả là loại uy tín hình thành trên cơ sở quyền uy và những phẩm
chất khơng có thực (tự tạo nên) của một cá nhân nào đó buộc những người khác
phải “ngộ nhận” nghe theo. Đây là loại “uy tín” được xây dựng có tính bắt buộc,
khơng dựa trên cơ sở lòng tin thực sự, tự giác của mọi người đối với những
phẩm chất, năng lực và các giá trị xã hội thực có của chủ thể. Con đường hình
thành loại “uy tín” này có nhiều dạng. Chung quy lại, có hai dạng tiêu biểu sau:

Uy tín giả đã thổi phồng quyền uy, là loại “uy tín” có được do người lãnh
đạo tìm cách phơ trương sức mạnh quyền lực của mình, tự cho mình có quyền
hành hơn người khác. Do đó dẫn đến chỗ độc đốn, cửa quyền, hống hách, uy
hiếp, đe doạ cấp dưới bằng hình thức kỷ luật, cúp lương, đuổi việc, sẵn sàng
thanh lọc những người khơng “ưa thích” và lập ra phe cánh những người “hợp
gu” với mình. Do sợ hãi, cấp dưới phải thu mình lại và buộc phải nghe theo,
tuân theo [2, tr.189].
Uy tín giả kiểu “dân chủ giả hiệu”, là loại “uy tín” trong đó người lãnh
đạo bằng các thủ đoạn mỵ dân, giả vờ tỏ ra luôn quan tâm, gần gũi với mọi
người, tự xếp mình vào hàng ngũ “bình dân”, hạ thấp yêu cầu đối với quần
chúng, cố tạo nên sự đồng cảm, đồng tình ủng hộ của quần chúng nhằm mục
đích lơi kéo quần chúng về phía mình.
Uy tín giả là loại uy tín có thể hình thành rất nhanh, nhưng khơng có cơ sở
tồn tại và phát triển . Loại uy tín này sẽ mang lại nhiều hậu quả có hại hơn là có
lợi cho chủ thể mang uy tín một khi quần chúng có đủ cơ sở nhận thức và khẳng
định tính giả dối khơng chân thực của chủ thể, nhất là khi những phẩm chất,
năng lực và các giá trị xã hội thực có của chủ thể bộc lộ, khơng có uy lực, khơng
có sức cảm hố có khả năng thu hút, lơi kéo người khác.
Bên cạnh các dạng biểu hiện của “uy tín giả” là loại uy tín được xem xét
từ quan niệm và cách nhìn khơng chính xác của những người xung quanh đó
những ngun nhân khác nhau, cịn cần đề cập đến một loại uy tín nữa – “uy tín
biểu kiến”.
Uy tín biểu kiến là loại uy tín được xem chỉ từ phía chủ thể, trong đó chủ
thể “ngộ nhận”, tưởng rằng mình có uy tín thực sự với mọi người, mặc dù trên
4


thực tế người đó chưa chắc đã có được sự thừa nhận, tin tưởng và kính trọng
một cách tự nguyện, tự giác của những người xung quanh. Ở những cán bộ sĩ
quan khơng biết đánh giá đúng đắn tình huống, hoàn cảnh, lại thiếu khiêm tốn,

thường tự đề cao khả năng của mình, để xuất hiện loại uy tín kiểu này.
Vấn đề giảm sút uy tín. Đây là vấn đề cũng thường thấy trong thực tế khi
uy tín đã được hình thành nhưng do những ngun nhân nào đó có thể bị suy
giảm đi, thậm chí mất hẳn. Thể hiện ở việc chủ thể mang uy tín mất khả năng
thu hút, lơi kéo quần chúng theo ảnh hưởng của mình. Ngun nhân của tình
trạng này dễ nhận thấy chính là do những yếu tố thuộc về chủ thể (năng lực,
phẩm chất đạo đức, hiệu quả công việc.v.v...) đã giảm hoặc khơng cịn hiệu lực,
khơng cịn khả năng tạo nên sự thừa nhận, tin tưởng, tuân theo của khách thể.
2. Các yếu tố tạo thành uy tín người lãnh đạo
Về phẩm chất:
Một là, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân là
phẩm chất cốt lõi góp phần tạo nên sự thống nhất giữa uy tín của người cán bộ
lãnh đạo với uy tín của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Người cán
bộ lãnh đạo phải kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tin tưởng vững chắc
vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sức mạnh của quần
chúng nhân dân. Gương mẫu trong việc thực hiện đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Yêu thương, tận tụy, hết lòng chăm lo đời sống của
dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân. Nâng cao, cải
thiện điều kiện, môi trường làm việc, hỗ trợ cấp dưới giải quyết những khó khăn
trong đời sống, trong hoạt động kinh tế, trong thực hiện mục tiêu, yêu cầu do cơ
quan, đơn vị đề ra. Cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư. Lãnh đạo thực hiện
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vì lợi ích của tập thể, của đơn vị, chịu sự giám
sát của từng cá nhân trong tập thể, đơn vị. Nghiêm túc thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở, minh bạch và công khai các thông tin, các quyết định, phát huy dân
chủ đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương pháp luật. Có tinh thần tự
5



phê bình và phê bình, chống chủ nghĩa cá nhân, thái độ quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, sách nhiễu. Chính bản lĩnh chính trị vững vàng, lý tưởng cao đẹp, niềm
tin đúng đắn, đạo đức chuẩn mực của người cán bộ lãnh đạo sẽ tạo ra sức hấp
dẫn, có thể thu hút, lôi cuốn những cá nhân khác vào phong trào cách mạng và
thực hiện nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Hai là, phẩm chất “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” giúp người
lãnh đạo có được sự đồng tình, ủng hộ của tập thể. Một người “dám nghĩ” là
người có ý kiến độc lập trong quyết định của cá nhân, biết đặt ra những mục
tiêu, kế hoạch rõ ràng, cụ thể. “Dám nghĩ” không chỉ là đưa ra những kế hoạch
táo bạo, mới mẻ, tạo sự đột phá mà còn thể hiện sự chuẩn bị cẩn trọng, thấu đáo,
chi tiết cho kế hoạch được đưa ra. “Dám làm” là lãnh đạo việc tổ chức thực hiện
những kế hoạch đã đặt ra với sự nỗ lực, quyết tâm, nhiệt tình, hào hứng. “Dám
chịu trách nhiệm” là sẵn sàng đối diện với những vấn đề nảy sinh trong q trình
thực hiện cơng việc, sẵn sàng giải trình khi cơng việc diễn ra khơng đúng hướng,
khơng viện cớ hoặc đổ lỗi cho bất kỳ ai [3, tr.154].
Về năng lực:
Một là, năng lực nhận thức của người lãnh đạo cần phải đạt đến trình độ
tư duy lý luận. Năng lực tư duy lý luận thể hiện ở khả năng vận dụng các khái
niệm tuân theo những nguyên tắc lôgic chặt chẽ nhằm đạt đến chân lý, trong
việc tiến hành các thao tác tư duy như trừu tượng hóa, khái qt hóa, phân tích,
tổng hợp… để làm bộc lộ cái tất yếu, cái bản chất của sự vật, hiện tượng. Năng
lực tư duy lý luận là khả năng vận dụng chủ động, tự giác tri thức lý luận,
phương pháp và phương pháp luận của chủ thể nhận thức nhằm phản ánh đầy
đủ, sâu sắc bản chất của đối tượng khách quan, góp phần cải tạo tự nhiên, xã hội
và bản thân một cách hiệu quả. Năng lực tư duy lý luận góp phần tích cực vào
việc xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung triển khai thực hiện các chủ trương,
đường lối, chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước một cách có hiệu quả. Tư
duy lý luận cịn giúp người cán bộ lãnh đạo phân tích, đánh giá được mức độ
thực hiện nhiệm vụ và chỉ ra khó khăn, thuận lợi, những vấn đề cần sửa đổi, bổ
sung, những hệ quả trước mắt và lâu dài, những điều kiện, nguồn lực cần thiết

6


để thực hiện nhiệm vụ; phân tích, đánh giá được các vấn đề đưa ra có phù hợp
với điều kiện trong nước và thông lệ quốc tế hay không. Năng lực nhận thức của
người cán bộ lãnh đạo thể hiện ở khả năng nhìn xa, trơng rộng, khả năng tiên
đốn và phân tích các yếu tố để hoạch định bước đi trong tương lai.
Hai là, năng lực tổ chức là khả năng tổ chức bộ máy và tổ chức con người,
sắp xếp con người để guồng máy hoạt động có hiệu quả. Điều này nói lên khả
năng sắp xếp các cơng việc tương đồng thành từng nhóm, để giao phó cho từng
khâu nhân sự có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân
sự tùy theo công việc được giao. Xây dựng ý thức làm việc tập thể, phối hợp
hoạt động của các thành viên tạo thành sức mạnh hướng tới mục tiêu của tổ
chức. Biết phân công nhiệm vụ kết hợp với phân quyền cho đội ngũ cán bộ
chuyên môn, cán bộ quản lý trong công việc hàng ngày. Giao quyền, trao trách
nhiệm và công việc cho người khác, nhưng người cán bộ lãnh đạo vẫn phải có
trách nhiệm về tất cả những phần việc đã san sẻ. Phối hợp chặt chẽ giữa các
khâu công việc và cơng tác nhân sự các cấp. Có óc quan sát để nắm được tình
hình một cách đầy đủ, tồn diện. Cải tiến hệ thống quy trình làm việc, cách vận
hành các bộ phận chuyên môn để tạo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành
viên. Có sự kiểm tra tất cả các dữ kiện tham gia vào việc hình thành phương
thức hoạt động của bộ máy, từ đó đề xuất phương thức hoạt động tối ưu.
Ba là, năng lực lan truyền ý chí, thu phục lịng người. Năng lực này cịn
gọi là năng lực thâm nhập vào các nhóm người. Người cán bộ lãnh đạo biết đặt
niềm tin vào cấp dưới sẽ tìm ra cách thức hữu hiệu nhất để thực hiện cơng việc;
có khả năng nhận biết và kiểm soát cảm xúc của bản thân và của người khác; có
tính cởi mở, có thể kết nối với người khác thông qua giao tiếp bằng cử chỉ, hành
động, cách nói truyền cảm và biết lắng nghe ý kiến mọi người. Có thể tự tin giải
quyết các xung đột và hạn chế lạm dụng mệnh lệnh hành chính mang tính cưỡng
chế. Sử dụng nhiều cách thức, biện pháp (phương pháp) để tác động vào khách

thể, đối tượng lãnh đạo.
Bốn là, năng lực chuyên môn, là năng lực vận dụng kiến thức chuyên môn
để phục vụ công tác lãnh đạo. Cán bộ lãnh đạo cũng là người hoạt động trong
7


một lĩnh vực chuyên môn nhất định cho nên phải được đào tạo cơ bản về ngành
nghề tương ứng, nắm vững kiến thức đại cương về ngành nghề đó. Để chỉ huy,
điều khiển, phát huy khả năng của cấp dưới trong việc thực thi nhiệm vụ, đòi hỏi
người lãnh đạo phải am hiểu cơng việc mình đảm trách để khi cần thiết, biết dồn
tiềm lực vào những khâu trọng yếu nhất. Trình độ chun mơn giỏi sẽ giúp
người lãnh đạo biết đánh giá và giúp đỡ công việc của cấp dưới. Tuy nhiên, cần
lưu ý rằng, kiến thức chuyên môn càng uyên bác, chuyên sâu sẽ phục vụ tốt cho
công việc, đồng thời sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia.
Đó là những phẩm chất, năng lực cơ bản mà người cán bộ lãnh đạo cần
được bồi dưỡng và rèn luyện cũng như tự bồi dưỡng và rèn luyện để tương xứng
với chức vụ, quyền hạn, trách nhiệm được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó, tạo dựng nên uy tín thực sự cho bản thân.
3. Thực trạng uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan, Tam Đảo,
Vĩnh Phúc
Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống
quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng thấp nhất
khơng đồng nghĩa với ít quan trọng nhất. Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ xã là
nhiệm vụ rất quan trọng.
Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần
dân nhất ở Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 3 đến 5 thành viên, gồm
Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và các ủy viên (thường là chỉ huy trưởng BCH quân sự
và Trưởng công an xã). Thường trực Ủy ban nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch. Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân
dân. Về danh nghĩa, người này do Hội đồng nhân dân của xã, thị trấn hay

phường đó bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín. Thông thường, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã, phường hay thị trấn sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Đảng ủy của
xã, thị trấn hay phường đó. Ủy ban nhân dân xã, phường hay thị trấn hoạt động
theo hình thức chuyên trách.
Bộ máy giúp việc của Ủy ban nhân dân cấp xã gồm có 7 chức danh: Cơng
an, qn sự, kế tốn, văn phịng, tư pháp - hộ tịch, văn hóa - xã hội, địa chính.
8


Mỗi chức danh tùy vào tình hình thực tế địa phương mà bố trí số lượng biên chế
phù hợp [1, tr.234].
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Là cán bộ chuyên trách lãnh đạo
Uỷ ban nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động
của Uỷ ban nhân dân và hoạt động quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế
- xã hội, an ninh, quốc phịng đã được phân cơng trên địa bàn xã.
Nhiệm vụ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Lãnh đạo phân công công tác của
Uỷ ban nhân dân, các thành viên Uỷ ban nhân dân, công tác chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp xã, gồm: Tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với công
tác chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật
của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết
định của Uỷ ban nhân dân xã.
* Ưu điểm uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan,
Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc có phương
pháp tác phong cơng tác đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ. Giữ vững nguyên
tắc trong chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn công tác, biết kết hợp sự lãnh đạo của tập thể
cấp ủy địa phương với đề cao trách nhiệm cá nhân, thực hiện nghiêm nguyên tắc
tập trung dân chủ trong lãnh đạo, biết khai thác, phát huy sức mạnh của các tổ
chức trong thực hiện các nhiệm vụ công tác. Gương mẫu trong chấp hành các chế
độ, nguyên tắc, nhạy bén, linh hoạt trong xem xét tình hình, khiêm tốn, giản dị,

tôn trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc có tính chủ
động, sáng tạo, quyết đốn, dám chịu trách nhiệm, không né tránh khuyết điểm,
thường xuyên nghiên cứu, quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, của cấp trên, chủ động đề xuất chủ
trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo để cấp ủy, thảo luận, quyết định. Có tinh thần
trách nhiệm trong việc triển khai, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát việc

9


thực hiện nghị quyết, kịp thời đề xuất với cấp ủy, tổ chức đảng bổ sung, hoàn
thiện chủ trương, biện pháp lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã
Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ, xác định
tốt trách nhiệm chính trị, chức trách, nhiệm vụ được giao, khơng dao động trước
những khó khăn, thử thách, những thiệt thịi về vật chất và tinh thần, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định có trình độ nhận thức và niềm
tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự là tấm gương tiêu biểu cho
lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc với nhân dân. Kiên định với mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ủy tín của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc
về cơ bản đáp ứng u cầu chức trách, nhiệm vụ. Có uy tín đối với các ban ngành,
đoàn thể và khả năng phối kết hợp với các tổ chức, các lực lượng liên quan để thực
hiện tốt các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Am tường và có tư duy khá nhạy bén
trong nắm bắt tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội để kịp thời đề xuất với
cấp ủy địa phương, đảng ủy những chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng góp
phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện.
Đánh giá một cách tổng quát, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tam Quan,

Tam Đảo, Vĩnh Phúc có uy tín tốt, đã đảm nhiệm tốt cương vị, trực tiếp chỉ đạo,
tổ chức tiến hành các nội dung công tác theo quy định về chức trách, nhiệm vụ,
mối quan hệ cơng tác, góp phần quan trọng vào việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện
thắng lợi hoạt động công tác, tổ chức thực hiện các kế hoạch, đảm bảo cho các tổ
chức trong hệ thống chính trị xã vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
* Hạn chế uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Nhìn chung uy tín của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tam Quan, Tam Đảo,
Vĩnh Phúc cịn có mặt hạn chế nhất định, có lúc chưa thực sự say mê, tích cực, sáng
tạo trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Năng lực thực hiện chức trách, nhiệm vụ
còn biểu hiện nể nang, né tránh, thừa hành, bị động. Về phong cách làm việc chưa
10


đổi mới, chưa chú ý đến các vấn đề cụ thể, tỉ mỉ, đi sâu đi sát mà cịn có biểu hiện
chạy theo hình thức, ít chú ý đến hiệu quả trên thực tế cả trước mắt và lâu dài.
Một trong những hạn chế khá phổ biến hiện nay là sự chỉ đạo, điều hành,
phối hợp để thực hiện các nhiệm vụ cơng tác cịn thụ động trong việc nắm bắt và
giải quyết các vấn đề thực tiễn đạt ra. Nề nếp sinh hoạt chưa thật sự phát huy đầy
đủ tinh thần dân chủ, đấu tranh tự phê bình và phê bình cịn hạn chế. Kỹ năng
phân tích, tổng hợp tình hình cịn có hạn chế nhất định, có những vụ việc xảy ra
giải quyết còn thụ động, cứng nhắc không sát thực tiễn. Việc giải quyết mối quan
hệ công tác ở một số nơi, có lúc, có nơi, có việc chưa tốt, chưa phân định rõ chức
trách, nhiệm vụ, thiếu chủ động phối hợp chặt chẽ trong công tác, chưa thực sự
thống nhất cao, tôn trọng, tin cậy lẫn nhau để giải quyết hài hịa các mối quan hệ
cơng tác.
4. Giải pháp nâng cao uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan,
Tam Đảo, Vĩnh Phúc hiện nay
Hiện nay, một số cán bộ, đảng viên được đề bạt, sắp xếp ở những vị trí
trọng trách, nhưng uy tín thật sự của người cán bộ đó chưa ngang tầm với nhiệm

vụ. “Một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, cơng chức cịn nhiều yếu kém, bất
cập về trình độ chuyên môn và năng lực điều hành công việc, chưa tương xứng
với cương vị và trách nhiệm được giao; một số khơng ít cán bộ thối hóa về
phẩm chất, chạy theo sự cám dỗ về vật chất, sống thực dụng, cửa quyền, hối lộ,
sách nhiễu, tham nhũng… ảnh hưởng rất xấu tới uy tín của đảng, Nhà nước,
nhân dân chê trách, gây cản trở lớn cho sự phát triển đất nước” [1, tr.29]. Trong
những trường hợp ấy, cấp dưới, quần chúng chấp hành mệnh lệnh, chịu sự chỉ
huy của cán bộ đó khơng phải vì cá nhân người cán bộ ấy mà là vì lợi ích chung
của cách mạng. Đó là sự phục tùng Chính phủ và đồn thể chứ không phải phục
tùng cá nhân ai. Người cán bộ ấy không được quần chúng nhân dân tin, phục,
ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước ta.
Con đường chân chính và đúng đắn để nâng cao uy tín của mỗi cán bộ,
đảng viên là sự tự rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của họ. Đồng thời các cấp ủy
đảng cần tạo những điều kiện cần thiết để cán bộ, đảng viên cống hiến, bộc lộ
11


phẩm chất, tài năng của mình. Sự quan tâm của tổ chức và sự phấn đấu của mỗi
cá nhân quan hệ chặt chẽ, tác động với nhau. Tổ chức bồi dưỡng và sử dụng
đúng người, đúng việc chẳng những giúp cho người cán bộ, đảng viên phát huy
tốt phẩm chất, năng lực của mình, mà cịn làm cho cơng việc của tổ chức được
trôi chảy, hiệu quả hơn, mọi người được làm việc trong bầu khơng khí dân chủ
và đồn kết hơn, do đó uy tín của tổ chức được nâng cao hơn. Ngược lại, sự
phấn đấu của mỗi người khơng chỉ giúp cho bản thân người đó có uy tín trong tổ
chức, mà cịn góp phần nâng cao uy tín cho tổ chức ấy.
Trên cơ sở phân tích trên có thể đưa ra một số biện pháp nhằm góp phần nâng
cao uy tín chủ tịch Ủy ban Nhân xã Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc hiện nay.
Thứ nhất, phải tích cực, kiên trì thực hiện chiến lược cán bộ đã được Hội
nghị Trung ương 3 (khóa VIII) thơng qua. Trong đó thực hiện đồng bộ từ lựa
chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và những chính sách bảo đảm lợi ích vật chất,

động viên tinh thần đối với từng loại cán bộ. Cán bộ là gốc của công việc, cơng
việc khơng thể thành cơng nếu khơng có đội ngũ cán bộ tốt. Mỗi loại cơng việc
phải có một loại cán bộ tương ứng, cơng việc nào thì cán bộ ấy, dùng cán bộ như
“dùng mộc”.
Thứ hai, bổ sung và hoàn thiện các loại quy chế, văn bản pháp quy đã có,
xây dựng mới các loại quy chế xác định chức trách và nhiệm vụ cho từng loại
cán bộ, nhất là cán bộ cấp xã. Tạo môi trường thuận lợi, những điều kiện vật
chất, tinh thần cần thiết để cho chủ tịch xã có thể cống hiến nhiều nhất cho xã
hội, bộc lộ phẩm chất năng lực của mình, trên cơ sở đó mới có thể đánh giá đúng
uy tín thật sự của từng cán bộ cụ thể.
Thứ ba, thực hiện một cách thường xuyên việc kiểm tra về uy tín của đội
ngũ cán bộ, đảng viên bằng cách lấy ý kiến đóng góp của cán bộ cấp dưới, của
quần chúng nhân dân một cách chân thực về từng cán bộ. Quần chúng bao giờ
cũng là tai mắt khách quan. Đương nhiên việc lấy ý kiến quần chúng phải thật
sự dân chủ và trung thực. Mọi biểu hiện gò ép một cách có chủ đích trong vấn
đề này đều là sự bóp méo hiện thực, phủ nhận tính khách quan. Trên cơ sở kiểm
12


tra về uy tín của cán bộ, đảng viên, có phương hướng, biện pháp để cho từng cán
bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện được tốt hơn. Nhờ đó, uy tín được nâng lên.

13


KẾT LUẬN
Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở tổng kết xây dựng đội
ngũ cán bộ trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta chỉ rõ, mức chính xác của
đường lối chính sách, đều tùy thuộc cuối cùng ở chất lượng cơng tác cán bộ. Vì
vậy, cơng tác cán bộ là khâu then chốt trong tồn bộ hoạt động của Đảng, là

nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Để xây dựng và thực hiện thắng lợi Cương
lĩnh, chiến lược và các nhiệm vụ chính trị do Đại hội Đảng đề ra, công tác cán bộ,
đặc biệt là uy tín của đội ngũ cán bộ chủ chốt càng cấp bách, đòi hỏi phải được
đổi mới cả quan điểm, tổ chức, phương pháp, quy chế và chính sách. Theo quan
điểm đó Đảng ta khẳng định, Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp, là mắt xích quan
trọng nhất mà Đảng phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa
cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.
Công việc thành công, hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồng Chí Bảo: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay,
Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005.
2. Bộ Nội vụ, Đề tài khoa học cấp nhà nước KX04.09: Xây dựng đội ngũ
cán bộ, cơng chức đáp ứng địi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân” (2002-2004).
3. Nguyễn Mậu Dựng: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
Đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay, Luận án tiến sỹ khoa học chính trị,
chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2000.
4. Hồ Chí Minh, Bài nói chuyện trong buổi bế mạc hội nghị cán bộ của
Đảng lần thứ 6. Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, 552.

15




×