Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Văn hóa tộc người Thái đối với sự phát triển du lịch Văn hóa tộc người Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.2 MB, 31 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BỘ MÔN DU LỊCH

TIỂU LUẬN HẾT MƠN HỌC

VĂN HĨA TỘC NGƯỜI VIỆT NAM
ĐỀ BÀI: Văn hóa tộc người Thái đối với sự phát triển
du lịch

Người chấm 1

Người chấm 2

Hà Nội 11/2018


MỤC LỤC
PHẦN 1. Giá trị văn hóa tộc người Thái...................................................................................3

1.1. Tổng quan tộc người Thái................................................................................3
1.1.1. Tên...............................................................................................................3
1.1.2. Nhóm............................................................................................................ 3
1.1.3. Dân số..........................................................................................................3
1.1.4. Nguồn gốc lịch sử phát triển........................................................................3
1.1.5. Phân bố ở Việt Nam.....................................................................................3
1.2. Các giá trị văn hóa của người Thái..................................................................3
1.2.1. Văn hóa vật chất..........................................................................................3
1.2.2. Văn hóa phi vật chất....................................................................................6
PHẦN 2. Vận dụng văn hóa người thái trong hoạt động du lịch.........................................10

2.1. Vận dụng văn hóa tộc người Thái với vai trị là tài nguyên du lịch.............10


2.1.1. Tài nguyên du lịch......................................................................................10
2.1.2. Các hoạt động khai thác tài nguyên đó......................................................24
2.2. Vận dụng văn hóa tộc người Thái với vai trị dịch vụ du lịch......................25
2.3. Vận dụng văn hóa tộc người trong ứng xử du lịch.......................................25
2.3.1. Khách du lịch.............................................................................................25
2.3.2. Cư dân.......................................................................................................25
2.3.3. Người làm du lịch......................................................................................25
PHẦN 3. Kết luận........................................................................................................................26


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu thầy Nguyễn Đức Khoa
2.
3. />4. lichsuvanhoathai.com
5. viettourist.vn


PHẦN 1.


PHẦN 2. GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI THÁI
2.1. Tổng quan tộc người Thái
2.1.1. Tên

Tộc danh đồng bào tự gọi là Táy hoặc Thay cùng các tên gọi khác là Tay
Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
2.1.2. Nhóm

Người Thái được chia thành hai nhóm chính là Thái Trắng và Thái Đen.
Ngồi ra cịn có một số các ngành khác gồm nhiều nhóm phức tạp cư trú ở

Sơn La, Hịa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
2.1.3. Dân số

Theo số liệu điều tra dân số năm 2009 của tổng cục thống kê thì tộc người
Thái có 1,550,423 người.
2.1.4. Nguồn gốc lịch sử phát triển

Nhóm Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao) là con cháu của người Bạch Y
đã cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam. Đến thế kỉ II sau Công nguyên họ đã
chiếm được ưu thế ở dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu và sau đó phát
triển thế lực ở các thế kỉ sau
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) đến Việt Nam khoảng thế kỉ thứ VI, VII.
Nhóm người Thái Mộc Châu từ Lào di cư sang Việt Nam từ thế kỉ XIV,
chịu ảnh hưởng của hai ngành Thái Trắng và Thái Đen. Nhóm này tiếp tục di cư
xuống Thanh Hóa và ngược lên Sơn La.
2.1.5. Phân bố ở Việt Nam

Người Thái sinh sống chủ yếu ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Ngoài địa bàn
trên người Thái cịn sinh sống ở Hịa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
2.2. Các giá trị văn hóa của người Thái
2.2.1. Văn hóa vật chất

 Trang phục truyền thống của tộc người Thái
Cũng như nhiều dân tộc khác, trang phục của phụ nữ Thái còn bảo lưu và
thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc. Các bộ phận của nữ phục Thái
Trang 1


gồm: Áo ngắn (xửa còm), áo dài(xửa chái và xửa luổng), váy(xỉn), thắt lưng(xái
cỏm), khăn(piêu), nón(cúp), xà cạp(pepăn khạ), các loại hoa tai, vịng cổ, vịng

tay, xà tích…
Áo ngăn của người Thái có nhiều loại, trong đó xửa cỏm (áo ngắn bó sát
người có hàng cúc bướm) là đặc trưng hơn cả. Loại áo xửa cỏm may vừa khít
thân, rất ngắn, gấu áo vừa chấm cạp váy, làm tôn thêm những đường nét đẹp của
phụ nữ. Bởi thế, loại áo phụ nữ này rất kho may cắt, sao cho áo vừa bó sát
người, vừa làm cho người mặc cử động thoải mái.
Xửa cỏm là áo mặc phổ biến ở nhiều nhóm người Thái, tuy nhiên giữa các
nhóm địa phương cũng có chút khác biệt. Áo xửa cỏm là của thái Đen may cổ
trịn ơm gọn lấy vịng cổ, cịn của người Thái Trắng thì cổ xi xuống hai vạt,
giống như cổ áo cánh của phụ nữ Kinh. Áo người Thái Phù yên (Nghĩa Lộ) thì
hàng cúc bạc được thay bằng cúc xương, hình cầu. Áo thái ở Mai Châu thì
khơng xé ngực mà may kiểu chui đầu

Hình 1.1 Áo xửa cỏm người Thái

Ở cả người Thái Đen và Thái Trắng đều mặc loại áo dài xửa luổng (áo lớn).
Đó là một loại áo khác ngoài, may dài, rộng, chui đầu, có tay hay khơng có tay.
Ở người Thái Đen, loại áo này may bằng vải chàm, có ghép màu đỏ, xanh, trắng
ở cổ, ngực và gấu áo. Phụ nữ Thái Đen từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một
dành cho bản thân khi về già và một biếu mẹ chồng khi mới về làm dâu. Các cụ
già mặc áo xửa luổng lộn trái vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải.
Cô dâu cả lúc túc trực bên quan tài mẹ chồng cũng phải mặc áo xửa luổng, khi
Trang 2


ra tới mộ, cởi áo treo lên trên cột nhà mổ. Chỉ như vậy, theo quan niệm dân gian,
tổ tiên mới đón nhận linh hồn người quá cố.
Váy (xỉn) cùng với xửa cỏm tạo nên dáng nét chính của bộ nữ phục Thái.
Thắt lưng (xài ẻo) làm bằng vải tơ tằm hay sợi bơng màu xanh lam hoặc tím
xẫm, giữ cho cạp váy quấn chặt lấy eo bụng

Nói về bộ trang phục nữ Thái không thể thiếu chiếc khăn piêu. Chiếc khăn
piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi
cơ gái. Piêu tết 3 sừng là piêu thường dùng, piêu tết 5 hay 7 sừng là piêu sang,
dùng làm quà biếu, đội lúc bản mường có hội hè, cưới xin.

Hình 1.2 Khăn piêu

Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài. Áo ngắn may bằng vải
chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn. Khuy áo làm bằng đồng hay tết
bằng nút vải, có hai túi phía vạt trước có khi có túi con ở phía ngực trái. Áo
ngắn loại này hầu như khơng có trang trí hoa văn, mà chỉ dịp trang trọng người
ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đơi quả chỉ (mak
may) ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo. Mak may quấn bằng chỉ mầu xanh, đỏ
vàng, xen kẽ nhau.
 Ẩm thực
Cơ cấu bữa ăn của người Thái đầu bảng vẫn là chất bột cộng thêm rau cá,
thịt. Trước đây người Thái có thói quen cấy nhiều lúa nếp nên gạo được coi là
lương ăn truyền thống.
Trang 3


Gạo nếp ngâm đồ trên chõ, dỡ ra mủng nắm tay ăn bốc là thói quen trong
mỗi bữa ăn hàng ngày. Ngày nay việc dùng gạo tẻ thổi cơm đang dần phổ biến.
Trên mâm cơm hàng ngày không thể thiếu món muối ớt dầm thêm tỏi, rau thơm,
hành, mùi, có thể thêm gan gà luộc, rau ăn hàng ngày xào mỡ hoặc rang bỏ
muối, có thịt thì cũng rang muối. Khi có giết trâu, bị, nai người Thái cũng tuốt
lấy sữa đắng ở ruột non các con vật giết hòa với tỏi, ớt, nước chua làm món
nước chấm hoặc sốt để ăn gọi là món nậm pịa.
 Kiến trúc nhà ở truyền thống
Từ lâu người Thái đã quần cư chính bản. Mỗi bản bao gồm đất ở đất canh

tác, bãi cỏ chăn nuôi, khu rừng, khu nghĩa địa và nguồn nước sơng suối riêng.
Bản lớn có tới hàng trăm nóc nhà. Các bản người Thái thường ở chân sườn núi
trông xuống cánh đồng. Khi làm nhà, đồng bào Thái tránh đón nóc nhà này đâm
vào cửa nhà kia.
Điểm khác biệt nhất của nhà cửa người Thái so với người Việt và Hán là họ
xây nhà sàn. Nhà người Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày-Nùng.
Cịn nhà người Thái Đen lại gần với kiểu nhà của các cư dân Mơn-Khmer. Tuy
vậy, nhà người Thái Đen lại có những đặc trưng khơng có ở nhà của cư dân
Mơn-Khmer: nhà người Thái Đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút
với nhiều kiểu khác nhau. Hai gian hồi để trống và có lan can bao quanh. Khung
cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí khác nhau.
Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ tháng và khay điêng. Vì khay
điêng là vì khứ kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa. Kiểu vì này
dần gần lại với kiểu vì nhà người Tày-Nùng.
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá độc đáo: các gian
đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi
ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và cịn là nơi để
tiếp khách nam.
2.2.2. Văn hóa phi vật chất

 Ngơn ngữ
Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngơn ngữ gốc Thái của hệ ngơn
ngữ Thái-Kadai. Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng
Lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanma và tiếng Choang ở miền nam Trung
Trang 4


Quốc. Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán
Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngơn ngữ Thái.
Ở Việt Nam, Thái là dân tộc thiểu số có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng.

Theo cuốn Quan Tô Mương (kể chuyện Mường) thì chữ Thái Đen dịng Tạo
Xng, Tạo Ngần ở đất Mường Lò (nay là huyện Văn Trấn và thị xã Nghĩa Lộ Yên Bái) đã có từ thế kỉ XI. Chắc chắn chữ Thái là phương tiện duy nhất để ghi
chép các thơng tin kinh tế, xã hội, văn hố của dân tộc. Và như thế chữ Thái cổ
đã trở thành di sản văn hoá của tộc người và nhân dân Thái.

Hình 1.3 Chữ Thái đen

 Tín ngưỡng
Do sinh sống bằng nơng nghiệp trong điều kiện cịn phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên, khoa học còn kém phát triển, người Thái tin rằng các lực lượng siêu
nhiên quyết định số phận của họ. Họ tin trên trời có Then Lng là đấng cai
quản trời đất,lồi người và vạn vật, Then Lng được các quần thần giúp việc.
Còn ở trần gian, bất cứ nơi nào cũng có các ma cai quản. Muốn lập bản, khai
phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng, ma
nương, ma rừng ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần cùng với
ma nhà, ma họ, những ông bà cụ kị đã mất là những lực lượng phù hộ, bảo vệ
con người.
Người Thái theo trật tự gia đình phụ quyền, có hình thức thờ cúng tổ tiên.
Người Thái có nơi thờ cúng từng dịng tộc, từng dịng họ. Chỗ đó có thể là một
Trang 5


rừng cấm, một gốc cây, một hòn đá. Nếu người trong một họ liên kêt với nhau
bằng việc thờ cúng ma dịng họ, thời thành viên trong gia đình liên kết với nhau
bằng việc thờ ma nhà. Bố mẹ đã khuất được coi là siêu linh tác động đến toàn bộ
đời sống của con cháu. Chỉ có người chủ nhà mới được thay mặt gia đình cúng
ma nhà, chủ trì lễ xên hươn, cầu xin tổ tiên nói chung phù hộ cho con cháu.
 Tục tang ma
Người Thái quan niệm con người có Ba hồn gọi là khuân, khi chết ba hồn
ấy phân ra như sau:

 Khuân đầu thành một phì bay lên trời
 Khuân thân thể thành một phi ở Mường pú pẩu nơi bìa rừng, đó là nơi
chơn cất người chết. Mường pú pẩu ở người Thái giống như mường ma
của người Mường
 Khuân tứ chỉ thành một phi gọi là ma nhà sống quanh quẩn bên bàn thờ
tổ tiên
Tang lễ của ngườ Thái vẫn là tang lễ thổ táng nên các nghi thức mai táng tử
thi được diễn ra như sau:
Lễ nhập quan: Quan tài bằng khúc gỗ to kht hình lịng thuyền như thuyền
đi én, ý là người chết theo thuyền về chín suối. Quan tài có lót lớp tro bơng
lau, trái chiều tre đen sau đó mới đặt thi hài vào, đậy nắp kín. Người Thái kiêng
chôn theo đồ đồng sắt sợ sau này con cháu ốm đau, chột mắt. Nhà giàu có thể
đeo cho người chết vòng cổ, vòng tay bằng bạc.
Lễ đưa tang: Quan tài khiêng tay qua cầu thang xỉa xuống đất trên đòn
khiêng. Con rể cả cầm đuốc dẫn đường. Người chết chơn trong bãi tha ma dịng
họ. Người Thái rất sợ phải đụng tới mồ mả sau khi chôn cất nên huyệt đào sâu
tới 1,5 – 1 ẵm
Lễ rửa nhà: sau hai ba ngày chôn cất thi hài gia chủ giết gà làm cỗ mời thầy
mo đến khắp lời xua đuổi tà ma. Thầy mo lấy chổi lá gai nhúng vào chậu nước
ngâm bồ kết quét qua các xó xỉnh trong nhà. Sau đó chậu nước và chổi được vồi
vàng mang ra đổ vứt xuống suối. Từ đó con cháu mới nhẹ nhõm nỗi buồn nhớ
thường người chết nhanh chóng vơi đi. Người Thái cũng có tục mang khăn áo
tang màu trắng xổ gấu.

Trang 6


Thực chất tang lễ của người Thái chỉ là thổ táng và người Thái cũng đã
thực hiện đầy đủ về thế giới hai bên đối với người chết.
 Văn hóa dân gian

Sinh sống hàng ngàn năm trên dải đất Việt Nam thừa hưởng một nền văn
minh cổ truyền lớn lao của cha ơng người Thái đã góp phần cống hiến khơng
nhỏ vào kho tàng văn hố chung của cả dân tộc Việt Nam . Nhờ có văn tự, cư
dân Thái đã lưu lại cho đến nay nhiều sách, chuyện ghi trên giấy, trên lá cây. Đó
là những cuốn sách sử chép tay dày hằng trăm trang, những bộ luật hay tập qn
tương đối hồn chỉnh, phản ánh tình hình xã hội đương thời những bản trường
ca làm kích động lịng người, những chuyện thơ tuy khuyết danh nhưng đầy giá
trị nghệ thuật, những tập dân ca những bài hát đồng giao những bài hát răn đời,
những tầp ghi chép những nghi lễ tơn giáo …Có thể nói vốn văn nghệ cổ truyền
Thái rất phong phú.
Thơ ca dân gian chiếm một vị trí rất lớn gồm những câu ca dao, những tập
thơ tình yêu, thơ ca hát trong dịp hội hè, đám cưới, mừng lên nhà mới ,trong
những dịp lao động sản xuất, cho đến những bản trường ca, những truyện thơ
lịch sử.
Đất Thái còn nổi tiếng về múa. Múa còn gọi là múa x. Ban đầu x có
hình thức đơn giản và có tính phổ thơng. Có điệu x vịng hay xoè theo hàng,
múa theo nhịp đàn hay theo điệu hát khi vui chơi dưới ánh trăng hay lúc nghỉ
giữa hai thời gian sản xuất. Sau cách mạng, nghệ nhân dân gian mới phát triển
thành những điệu xoè mang biểu diễn lên sân khấu như điệu xoè khăn, xoè quạt,
xoè nón, x bướm, x đèn…

Hình 1.4 Múa quạt
Trang 7


PHẦN 3. VẬN DỤNG VĂN HÓA NGƯỜI THÁI TRONG HOẠT ĐỘNG DU
LỊCH
3.1. Vận dụng văn hóa tộc người Thái với vai trò là tài nguyên du lịch
3.1.1. Tài nguyên du lịch


 Tài nguyên du lịch tự nhiên
 Vườn quốc gia Pù Mát
Nằm trên dải đất miền Trung, Vườn quốc gia Pù Mát có nhiều thuận lợi
trong việc phát triển du lịch: diện tích rộng lớn, tính đa dạng sinh học cao với
nhiều loài động vật rừng, thực vật rừng mới được khám phá trong thời gian gần
đây: 2.500 loài thực vật thuộc 160 họ và gần 1.000 loài động vật...
Đặc biệt, một khung cảnh thiên nhiên hoang sơ như chưa hề có bàn tay của
con người chạm đến: Rừng nguyên sinh thượng nguồn Khe Thơi, Khe Bu, Khe
Choăng, Cao Vều... Thác Khe Kèm, suối nước Mọc, sông Giăng, rừng săng lẻ
và những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Thái - nét hoang sơ là món quà của
thiên nhiên ban tặng cho VQG Pù Mát.

Hình 2.5 Vườn quốc gia Pù Mát

Với giới khoa học, cái tên Pù Mát không có gì xa lạ bởi đây là một trong
những nơi đầu tiên phát hiện loài thú quý hiếm: Sao la. Với diện tích vùng lõi
rộng 94.804ha và vùng đệm rộng 86.000 ha, trải rộng trên 3 huyện Tương
Dương, Con Cuông và Anh Sơn của tỉnh Nghệ An, Pù Mát chính là nơi ở của
Trang 8


người Thái - dân tộc đã sống ở đây nhiều đời. Nét hoang sơ hùng vĩ của núi rừng
Pù Mát được pha lẫn với nét văn hoá độc đáo, tinh tế của người Thái. Họ sinh
sống ở hầu hết các thôn bản, trong các nhà sàn bằng gỗ với nghề trồng lúa nước.
Ở những vùng đồi, họ tham gia trồng cây hoặc đốt nương làm rẫy, trồng màu
hoặc các loại cây lương thực khác; chăn nuôi gia súc gia cầm; làm các sản phẩm
mây tre đan và dệt vải truyền thống. Vải thổ cẩm của người Thái nổi tiếng về
tính độc đáo, màu sắc sặc sỡ và bền đẹp. Giữ truyền thống lâu đời, người Thái
sinh sống tập trung theo dịng họ, mỗi cộng đồng dân cư có tín ngưỡng và tập
tục riêng, có những lễ hội gắn liền với các mùa bội thu và sản xuất nông nghiệp.

Nhảy sạp, uống rượu cần là đặc trưng không thể trộn lẫn trong sinh hoạt thường
ngày của người Thái.

Hình 2.6 Sao La tại vườn quốc gia Pù Mát

 Thác Khe Kèm - dải lụa trắng giữa đại ngàn
Thác Khe Kèm hay còn gọi là thác Kèm mang vẻ đẹp hoang sơ mà thiên
nhiên ban tặng cho Vườn quốc gia Pù Mát. Thác cách thị trấn Con Cuông, tỉnh
Nghệ An, khoảng 20 km về phía nam.

Trang 9


Hình 2.7 Thác Khe Kèm

Phía trên và hai bên thác là cả một thảm thực vật với hàng trăm loài hoa
quanh năm khoe sắc. Mỗi mùa có một lồi hoa nên tạo cho du khách có cảm
giác như lạc vào vườn hoa đại ngàn. Dưới chân thác là khe nước dài với những
phiến đá phẳng lỳ như những chiếc bàn lớn làm chỗ nghỉ chân cho du khách.
Cũng tại chân thác, là những hồ nhỏ có độ nơng, sâu khác nhau tạo nên một bức
tranh phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Về mùa hè, nhiệt độ tại khu vực Thác là
20oC rất mát mẻ.

Hình 2.8 Ngắm cảnh bên Thác Khe Kèm

Du khách có thể thoả thích vui chơi bên dịng thác để tận hưởng khơng khí
mát mẻ và mơi trường trong lành của tự nhiên, rồi uống rượu cần, ăn cơm lam
hay xem những điệu múa Lăm của đồng bào dân tộc Thái.

Trang 10



Hình 2.9 Những món ăn của người Thái

Du khách có thể men theo đường mòn lên đỉnh thác, thoả sức ngắm cảnh
núi rừng. Từ đây du khách cũng có thể đi ngược lên thung lũng Khe Bu hoặc đi
bộ leo núi Pu Loong - một ngọn núi cao ở Vườn Quốc gia Pù Mát (thời gian đi
về mất khoảng từ 6-8 tiếng). Hiện nay đã có một con đường trải nhựa từ thị trấn
Con Cuông đến thác Khe Kèm. Tại đây đã có một số cơ sở lưu trú và dịch vụ du
lịch phục vụ du khách. Thác Khe Kèm là điểm du lịch thu hút khách du lịch
trong nước và nước ngoài.
 Rừng săng lẻ
Xuất phát từ trụ sở Vườn Quốc Gia Pù Mát dọc lên tuyến Tương Dương Kỳ Sơn. Nằm cách trụ sở chính của VQG Pù Mát khoảng 40km là xã Tam Đình
(Tương Dương) nói đến xã Tam Đình bởi ở đó có một điểm du lịch hấp dẫn. Ai
đi qua cũng phải dừng chân ghé lại để chiêm ngưỡng và thưởng thức khơng khí
trong lành. Rừng Săng Lẻ một điểm tham quan được rất nhiều người biết đến.
Đến đây du khách sẽ thấy một màu xanh trùng điệp của lá cây pha lẫn với
màu trắng bạc của thân cây Săng Lẻ, một số du khách khi tham quan rừng Săng
Lẻ đã không nén nổi cảm xúc về cảnh đẹp thơ mộng nên đã sáng tác nhiều bài
thơ, nhiều ca khúc ngợi ca vẻ đẹp của núi rừng miền tây nam xứ Nghệ, cảm
nhận và choáng ngợp trước vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh nên họ đã tặng cho
rừng Săng Lẻ cái tên thơ mộng “Thung lũng xanh”.
Trang 11


Hình 2.10 Rừng săng lẻ

Rừng Săng Lẻ là điểm hấp dẫn khách du lịch đến tham quan, cắm trại,
picnic,...cho tất cả cá nhân, tập thể nào khi đi du lịch. Đến đây chắc chắn khu
rừng này sẽ gợi cho du khách thú ham thích tìm hiểu khám phá những điều kỳ

thú còn ẩn chứa trong rừng.
Vốn dĩ khu rừng này ln dữ được vẻ ngun sơ vốn có của nó là nhờ tinh
thần và trách nhiệm của những ngời sống xung quanh khu rừng là bà con người
dân tộc Thái bản Quang Thịnh cuộc sống của họ rất tình cảm, đạm bạc và hiếu
khách. Nếu quý khách có nhu cầu giao lưu rượu Cần với đồng bào người Thái
đêm nay tại thôn bản để khám phá cuộc sống của họ, ở đó du khách sẽ được hồ
mình vào điệu Săng Khan quen thuộc và nổi tiếng trong các lễ hội của người
Thái, thoả sức chiêm ngưỡng các sắc phục rực rỡ và mang đậm bản sắc văn hoá
dân tộc, múa hát quanh chum rượu Cần bên ánh lửa bập bùng có tiếng hát, có
tiếng chiêng tiếng trống. Tất cả sẽ tạo cho du khách cảm thấy hài lòng khi được
sống trong khơng khí tưng bừng và sơi động nơi đây.
Để chuyến tham quan trở nên phiêu lưu hơn, du khách có thể dành ra ít
phút để khám phá xung quanh rừng Săng Lẻ các hang động kì bí cịn ẩn chứa rất
nhiều điều bí mật.
Tham quan rừng Săng Lẻ chiêm ngưỡng và khám phá những vẻ đẹp của
núi rừng, hoà nhập với cuộc sống của đồng bào người Thái, ghi lại các hình ảnh
Trang 12


đẹp, khám phá và chinh phục được thiên nhiên ở cửa ngõ miền tây nam Nghệ
An.
 Tài nguyên du lịch nhân văn
 Lễ hội
Lễ hội của người Thái thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan và trải
nghiệm, những lễ hội được mong chờ nhất là lễ hội hoa Ban, lễ hội đua thuyền
trên sông Đà, hội cầu an cho bản làng, hội xòe, ném còn khai xuân... Và hầu hết
các lễ hội này đều diễn ra vào dịp đầu năm mới, đặc biệt là bắt đầu từ sau Tết
Nguyên đán.
 Lễ hội hoa Ban
Lễ hội hoa Ban thường được tổ chức ở Sơn La và Điện Biên. Đây khơng

chỉ là lễ hội riêng của người Thái mà cịn là tài sản chung của người dân Tây
Bắc, với sự tham gia của nhiều dân tộc trong vùng. Hoa Ban có một vị trí hết
sức quan trọng trong đời sống của người dân Tây Bắc. “Ban” trong tiếng Thái có
nghĩa là ngọt ngào, hoa Ban được sinh ra từ câu chuyện cổ về đôi trai gái Thái
yêu nhau nhưng không đến được với nhau do khoảng cách giàu nghèo và những
định kiến trong xã hội thời bấy giờ. Đến khi phải ly biệt, tình u và sự thủy
chung của cơ gái đã hóa thành hoa Ban, từ đó hoa trở thành biểu tượng cho tình
yêu thủy chung của người Thái.

Hình 2.11 Hoa ban

Hoa Ban thường nở vào mùa xuân, khắp các núi đồi Tây Bắc được điểm tô
bởi vẻ đẹp của loài hoa này. Người Thái Tây Bắc cứ đến mùa hoa Ban nở, vào
khoảng tháng 3 đến tháng 4 lại tổ chức lễ hội hoa Ban. Ngoài việc để tưởng nhớ
Trang 13


về câu chuyện tình của đơi lứa trong truyền thuyết, bày tỏ khát vọng về sự tự do
trong hôn nhân và tình u cho các đơi lứa trong cộng đồng, lễ hội hoa Ban ngày
nay còn là dịp để người dân Tây Bắc giao lưu văn hóa, văn nghệ.

Hình 2.12 Lễ hội hoa ban

Ngày nay, lễ hội đã được mở rộng với mục đích đồn kết cộng đồng, xúc
tiến du lịch vùng Tây Bắc nói chung. Trong các lễ hội hoa Ban thường có các
cuộc thi như: ẩm thực, văn nghệ, biểu diễn thời trang của cộng đồng người Thái
nói riêng và các dân tộc khác ở mỗi địa phương nói chung nên lễ hội rất hấp dẫn
người tham dự.
 Lễ hội đua thuyền sơng Đà
Ngồi lễ hội hoa ban cịn có Lễ hội đua thuyền trên sơng Đà thường được

tổ chức sau dịp Tết Nguyên đán, vào khoảng mùng 8 đến mùng 10 tháng Giêng
hằng năm tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Những vận động viên tham dự lễ
hội đều là những cư dân sinh sống bên lưu vực dịng sơng Đà. Hội đua thuyền là
một trong những lễ hội mùa xuân truyền thống của riêng người Thái ở nơi đây.

Trang 14


Hình 2.13 Lễ hội đua thuyền Sơng Đà

Lễ hội này đã có từ lâu đời, là cơ hội để người dân các bản làng tụ tập, giao
lưu với nhau sau một năm làm việc vất vả. Ngày nay trong dịp diễn ra lễ hội,
người ta còn tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ, các trò chơi dân gian và xen
kẽ những lễ hội truyền thống khác (như lễ hội gội đầu năm mới).
Những điều đó đã mang lại bầu khơng khí rất sơi động và thu hút đơng đảo
các du khách thập phương đến với hội đua thuyền trên lịng sơng Đà ở Sơn La.
 Hội xịe
Khi nói đến lễ hội của người Thái chúng ta không thế không nói tới hội
xịe. Câu dân ca Thái từ ngàn xưa đã khẳng định vị thế điệu xoè trong đời sống
người dân Thái “Không xoè không vui, không xoè cây lúa không trổ bông,
không xoè cây ngô không ra bắp, không xoè trai gái không thành đôi”. Từ
những cuộc vui nhỏ của gia đình như lễ mừng nhà mới, đám cưới, hỏi, cho đến
những lễ hội lớn của bản làng như hội rằm tháng Giêng, tết xíp xí, lễ hội hái hoa
ban, lễ mừng cơm mới... khó có thể vắng bóng điệu xoè hoà nhịp cùng lời ca,
tiếng khắp trong thanh âm rộn ràng, tha thiết của những khèn bè, trống, chiêng,
tằng bẳng, mắc hính...
Khơng đơn giản chỉ là những điệu múa trong các cuộc vui mà mỗi một
động tác, một dáng đi, dáng đứng, một cách xếp đội hình, cách chuyển động đều
là những cung bậc, sắc thái khác nhau mà điệu x mang theo. Đó là tình u
cuộc sống, tình cảm nam nữ, khát vọng trong lao động, chiến đấu, sản xuất...

được người Thái bao đời nay gửi gắm vào từng điệu xoè.
Trang 15


Hình 2.14 Lễ hội xịe Thái

Từ bao đời nay, điệu xịe Thái trở thành nét văn hóa đặc trưng, là “tài sản”
chung của nhiều dân tộc sống trên rẻo cao Tây Bắc. Trong những lễ hội, trong
ngày vui của bản làng, điệu xòe diễn ra như lời chào, lời mời gọi du khách gần
xa. Đó là tiếng lịng của bà con gửi gắm trong điệu múa quyến rũ giữa non ngàn
Tây Bắc.
Văn hóa Thái cịn gìn giữ được sáu điệu xòe cổ, điệu “khắm khen” tức điệu
nắm tay nhau vòng trịn, biểu hiện cho tình đồn kết các dân tộc anh em trong
cộng đồng người Việt, điệu “khấm khăn mời lẩu” tức nâng khăn mời rượu tỏ
lòng yêu quý và mến khách, điệu “phá xí” tức bỏ bốn, tượng trưng cho bốn
phương trời đất, sự đồn kết trao đổi, tình cảm của con người, điệu “đổn hôn”
Tức tiến, lùi và nhào ra phía trước, lùi về sau thể hiện việc dẫu trời đất có giơng
bão, sóng gió nhưng tình cảm con người với con người luôn gắn chặt bên nhau,
điệu “nhôm khăn” tức tung khăn thể hiện niềm vui mùa lúa thắng lợi, xây nhà
mới, sinh con thêm cháu, cưới xin… điệu “ỏm lọm tốp mư” vòng tròn cổ tay thể
hiện sự vui mừng gặp gỡ, bịn rịn khi chia tay nhau sau mỗi cuộc xịe.
Xịe Thái có sự nhịp nhàng uyển chuyển của đôi chân theo nhịp khèn, trống
rộn rã đến lúc cuồng nhiệt, múa xòe làm cho người lạ bỗng thành quen, ngồi trên
nhà sàn uống rượu vừa múa xịe nghe hát dân ca thì cảm giác rất thư thái tuyệt
vời.

Trang 16


Múa xòe của các thiếu nữ xinh đẹp trắng hồng tựa như hoa ban nở, xòe say

trong men rượu nếp, mọi người vừa nắm tay nhau xòe quanh đống lửa, vừa rót
cho nhau chén rượu. Múa xoè đã tạo nên một văn hóa, phong tục xịe truyền
thống trường tồn và không thể thiếu trong cuộc sống của cộng đồng dân tộc Thái
 Ẩm thực
Nền văn hóa của dân tộc Thái vùng Tây Bắc được biết tới nhiều với chiếc
khăn Piêu và điệu múa xòe, nhảy sạp trong lễ hội hoa ban truyền thống. Ít ai biết
rằng người Thái cịn có những món ăn truyền thống mà ai đã từng được thưởng
thức một lần đều sẽ nhớ mãi...
 Thịt trâu gác bếp
Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp cuối năm, theo thói quen, bà con dân tộc
Thái sống ở vùng núi Tây Bắc lại tất bật với công việc làm thịt trâu khô gác bếp,
để tiếp đãi khách đến nhà trong ngày tết cổ truyền. Nhà nào cũng có vài xiên thịt
trâu khơ gác bên bếp lửa, do chính tự tay mình làm.
Thịt trâu gác bếp được làm rất kì cơng và mất thời gian. Người ta phải ướp
thịt trâu với rất nhiều loại gia vị đặc trưng như hạt tiêu rừng, gừng, ớt, sả băm
nhỏ, muối hạt, rượu cái, hạt mắc khén... Sau đó, thịt được treo lên, sấy bằng khói
bếp âm ỉ từ ngày này qua ngày khác trong suốt 2 tháng, tới khi chuyển sang màu
khói đen, thịt khơ lại mới được.

Hình 2.15 Thịt trâu gác bếp
Trang 17


 Pa pỉnh tộp (Cá suối nướng)
Pa pỉnh tộp là tên của món cá gập nướng, là một đặc sản của người Thái ở
vùng Tây Bắc. Đây là một món không thể thiếu trong những ngày lễ Tết, đặc
biệt là trên mâm cơm đãi khách.
Đây là món ăn quý, rất được trân trọng. Người Thái có câu: "Gà tơ tần đem
đến. Không bằng pa pỉnh tộp đem cho". Pa pỉnh tộp từ lâu đã nổi tiếng là món
ăn đặc trưng của ẩm thực dân tộc Thái, được nhiều người biết đến.

Ngun liệu chính là cá suối như cá chép, trơi, trắm thật tươi. Bắt cá về làm
sạch vảy rồi mổ cá đằng dọc sống lưng thay vì bụng để con cá mềm mại dễ gấp
úp lại hơn và phần gia vị nhồi trong bụng cá tiếp xúc với than hồng sẽ toả hương
ngấm vào thịt cá. Gia vị ướp trực tiếp vào trong mình cá gồm gừng, sả, rau thơm
và đặc biệt là mắc khén và mầm măng của cây sa nhân. Bên ngồi xoa một lớp
bột riềng và thính gạo. Pa pỉnh tộp nướng trên lửa than. Khi nướng phải dùng
thanh tre kẹp lại để vị cá thêm đậm đà khi các loại gia vị thấm sâu vào từng thớ
thịt và tỏa hương thơm . Thịt cá nướng xong thì bên trong thơm, ngọt, khơ chắc.

Hình 2.16 Pa Pỉnh Tộp (cá suối nướng)

 Xôi ngũ sắc
Xôi ngũ sắc là món ăn khơng thể thiếu của đồng bào dân tộc Thái trong các
dịp lễ Tết, hội hè. Những hạt xôi thơm dẻo được nấu bằng gạo nếp đặc sản của
địa phương. Màu xơi đẹp tự nhiên, 5 màu chính của xơi là trắng, đỏ, xanh, tím,
vàng. Trắng là màu ngun gốc của gạo, các màu còn lại là màu các loại lá cây
được tìm trong rừng hoặc trồng sẵn trong vườn nhà.
Trang 18


Người Thái quan niệm, xôi ngũ sắc tượng trưng cho ngũ hành: Trắng là
màu của Kim, xanh là màu của Mộc, đen (tím) là màu của Thủy, đỏ là màu của
Hỏa, vàng là màu của Thổ. Với người Thái, những ai ăn xôi trong các ngày lễ,
Tết sẽ gặp nhiều may mắn và tốt lành.

Hình 2.17 Xơi ngũ sắc

 Nậm pịa
Nhắc đến ẩm thực của người Thái ngồi những món ăn quen thuộc, được
nhiều người biết đến như: thịt trâu gác bếp, xơi ngũ sắc… thì khơng thể khơng

nhắc đến món nậm pịa nổi tiếng của người Thái ở Sơn La.
Đây là Món ăn nổi tiếng của vùng cao Tây Bắc từng được bình chọn là
món ăn kinh dị bậc nhất thế giới, tuy nhiên nếu được một lần nếm thử nậm pịa
bạn sẽ không thể quên hương vị đặc trưng và nổi bật, khó lẫn với bất cứ một
món ăn nào khác.
Món ăn nghe có vẻ lạ thế nhưng lại có hương vị độc đáo và tượng trưng
cho ẩm thực đặc sắc vùng cao Tây Bắc. Trong gia đình người Thái, món ăn này
khá phổ biến và được dùng trong các dịp lễ tết hoặc thiết đãi bạn bè. Cái tên
nậm pịa cũng bắt nguồn từ chính ngơn ngữ của người dân tộc nơi đây, trong đó
“nậm” có nghĩa là canh, “pịa” là phần dịch (phân non) nằm giữa đoạn dạ dày và
ruột già. Nghe thì có vẻ đơn giản nhưng để làm được món ăn này địi hỏi người
đầu bếp phải cực kỳ khéo léo và chuẩn bị rất nhiều các loại gia vị.

Trang 19


Hình 2.18 Nậm pịa

Nếu lần đầu tiên được thưởng thức nậm pịa chắc chắn nhiều người sẽ có
cảm giác khó chịu, bởi món ăn này khơng hề bắt mắt và có mùi nồng của nội
tạng động vật. Tuy nhiên, nếu cảm nhận kỹ thì món ăn này có hương vị rất đặc
trưng, cuốn hút. Trong đó, vị đắng, thơm đặc trưng của các loại rau rừng, vị béo
ngậy của nội tạng, ngọt bùi xương hòa quyền trọng vị cay nồng của hạt mắc
khén sẽ khiến bạn không thể quên. Người Thái thường dùng nậm pịa như món
canh hoặc món nước chấm. Trong bữa ăn, bạn có thể chấm thịt bị, dê với nậm
pịa hoặc ăn món này với cơm và các loại rau thơm. Dù dùng theo cách nào thì
nậm pịa cũng nổi bật hương vị, kích thích vị giác và mang đến cho bạn một trải
nghiệm rất khó qn.
Khơng chỉ được biết đến là món ăn ngon, nậm pịa cịn có rất nhiều cơng
dụng trong đó, nhiều người sử dụng nó để giải rượu rất tốt.

Nếu ai đã từng đi du lịch Tây bắc mà chưa thưởng thức món nậm pịa này
thì coi như chưa cảm nhận được nét văn hóa của con người và vùng đất nơi đây.
 Nhà ở
Vượt qua những giá trị thực tế là nơi cư trú, sinh hoạt của một gia đình, nhà
sàn truyền thống của người Thái cịn là một cơng trình kiến trúc, độc đáo, mang
đậm bản sắc văn hóa tộc người.

Trang 20


Hình 2.19 Nhà sàn của người Thái

Có dịp đến các thơn bản trên địa bàn tỉnh khơng khó để được nhìn thấy
những ngơi nhà sàn của đồng bào dân tộc Thái. Không bề thế, đồ sộ như nhà xây
của người Kinh, khơng có dáng vẻ vững chãi như nhà trình tường của người
Mơng, Hà Nhì,… nhà sàn Thái mang một nét đẹp riêng biệt, đơn sơ nhưng cũng
không kém phần sang trọng. Đặc biệt nhất là kiến trúc không gian.
Trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Thái, ngơi nhà sàn có ý
nghĩa quan trọng, ln gắn bó với cuộc đời mỗi con người. Từ khi lọt lòng mẹ
đã gắn với nghi lễ chào đời, cho đến khi người con trai lớn đi làm nương rẫy,
người con gái học bài học đầu tiên về xe tơ, dệt vải, thêu thùa, người mẹ chỉ cho
con gái từng đường kim mũi chỉ, có thể may trang phục cho gia đình và may
trang phục chuẩn bị cho việc làm dâu nhà chồng.. Lan can bên ngoài nhà sàn là
nơi nhưng người đàn ông làm công việc hàng ngày như đan lưới, đánh bắt cá,
làm đồ mỹ nghệ thủ công…. Dưới nếp nhà sàn mọi hoạt động của Thái ln
được duy trì một cách đều đặn.
Nhà sàn cịn là nơi gắn tình yêu đôi lứa. Ở ngôi nhà sàn là nơi vang lên
tiếng đàn tình, tiếng lời hát trao gửi của các đôi lứa yêu nhau, trao nhau chiếc
khăn tay với hẹn ước cho tới khi thành vợ thành chồng. Có rất nhiều nghi lễ
phong tục truyền thống diễn ra dưới mái nhà sàn. Nơi diễn ra các nghi lễ thờ

cúng tổ tiên, lễ mừng nhà mới, nơi thày cúng làm lễ xin tổ tiên chấp nhận cô dâu
mới...Sau mỗi lễ cưới, các nhân khẩu trong gia đình ngày một đơng thêm
Trang 21


×