Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Tiểu luận lịch sử việt nam Chiến dịch mùa xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (402.75 KB, 24 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BỘ MÔN DU LỊCH

TIỂU LUẬN HẾT MÔN HỌC

LỊCH SỬ VIỆT NAM
ĐỀ BÀI: Chiến dịch mùa xuân 1975 và chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử

Người chấm

Hà Nội 7/2020

MỤC LỤC



Nguồn tài liệu
1. vi.wikipedia.org
2. doisongphapluat.com
3. baotintuc.vn


PHẦN 1. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Giới thiệu về chiến dịch Mùa xuân 1975
Chiến dịch mùa xuân năm 1975 với tên gọi chính thức là Tổng tiến cơng và
nổi dậy mùa xn 1975, giải phóng hồn tồn miền Nam. Đây là những cuộc Tổng
tấn công quân sự cuối cùng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến
tranh Việt Nam. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 4 tháng 1 và kết thúc ngày 30 tháng 4 năm
1975. Ngoài Trận Phước Long được coi là trận đánh trinh sát chiến lược, cuộc Tổng
tấn công này gồm ba chiến dịch liên tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4 tháng 3


đến 24 tháng 3), Chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng (từ 21 tháng 3 đến 29 tháng 3)
và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4). Ngồi ra, cịn
có những chiến dịch nhỏ hơn nhưng diễn ra trên những địa bàn chiến lược như Long
Khánh – Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đơng, các trận đánh trên các
tuyến phịng thủ từ xa của QLVNCH như Tây Ninh – An Lộc – Dầu Tiếng, Phan Rang
– Ninh Thuận. Những chiến dịch này được thực hiện sau khi Hoa Kỳ đã rút quân viễn
chinh khỏi Việt Nam, chỉ cịn duy trì viện trợ và lực lượng cố vấn. Cán cân lực lượng
đã nghiêng hẳn sang phía lực lượng Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Kết quả thắng lợi quân sự của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chiến
dịch này đã dẫn đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc Chiến tranh Việt Nam.
1.2. Lực lượng các bên
1.2.1. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam
∗ Các đơn vị chủ lực của Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam:
− Qn đồn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) tham gia giai đoạn cuối chiến dịch
gồm: các sư đoàn bộ binh 312, 390, sư đồn phịng khơng 367, lữ đồn 202
tăng thiết giáp, trung đồn pháo binh 45, Lữ đồn cơng binh 299, trung đồn
thơng tin.
− Qn đồn 2 (Binh đồn Hương Giang) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các
sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, sư đồn phịng khơng 673, lữ đồn xe tăng
203, lữ đoàn pháo binh 164, trung đoàn đặc cơng 116, trung đồn thơng tin.
− Qn đồn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư
đoàn bộ binh 2, 10, 316, 320A, trung đoàn xe tăng 273, các trung đoàn pháo
binh 40 và 575, trung đồn đặc cơng 198, các trung đồn phịng khơng 232,
234 và 593, các trung đồn cơng binh 7 và 576, trung đồn thơng tin.
− Qn đồn 4 (Binh đồn Cửu Long) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư
đoàn bộ binh 5, 7, 9, các trung đoàn pháo binh 24, trung đồn đặc cơng 429,
trung đồn phịng khơng 71, trung đồn cơng binh 25, trung đồn thơng tin,
Trang 4



trung đoàn 26 tăng thiết giáp. Quân đoàn này trước khi đánh Xuân Lộc có
tổng quân số 35.112 người, trong đó, qn số trực tiếp chiến đấu 29.034 người
− Đồn 232 tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: sư đoàn bộ binh Phước
Long, 3 trung đoàn chủ lực khu VIII, 2 trung đoàn chủ lực khu IX.
− Các trung đồn khơng qn vận tải 918 và 919.
− Các hải đồn 124, 125, 126 Hải qn.
∗ Vũ khí và trang thiết bị quân sự
− Lực lượng tăng thiết giáp của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là 320 xe
tăng, 250 xe bọc thép gồm các loại xe tăng T-34, T-54/55, pháo tự hành SU100 của Liên Xô; xe tăng lội nước PT-76 của Ba Lan, các loại xe thiết giáp
BTR-40/50/60/152 của Liên Xô, xe tăng chủ lực kiểu 59, xe thiết giáp K-63
của Trung Quốc. Ngồi ra cịn có 679 xe ô tô các loại.
− Pháo binh yểm hộ mặt đất là 88 pháo lớn, 1561 súng chống tăng gồm các loại
pháo nòng dài 130 mm, 122 mm và 85 mm; lựu pháo 155 mm, 105 mm; súng
cối các cỡ nòng 120 mm, 81 mm; các dàn pháo phản lực H-12, BM-21 và BM13.
− Lực lượng phịng khơng được trang bị tên lửa SAM-2; 343 súng phịng khơng
gồm súng cao xạ các cỡ 100 mm, 57 mm, và 37 mm; súng máy phịng khơng
các cỡ 14,5 mm và 12,7 mm.
− Không quân (tham gia giai đoạn cuối) được trang bị 6 máy bay A-37 chiếm
được của Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại các sân bay Đà Nẵng và Thành
Sơn.
− Hải qn có các tàu phóng lơi, tàu tuần duyên, tàu vận tải và xuồng chiến đấu.
∗ Sự ủng hộ của người dân
Trước ngày Tổng tấn công và nổi dậy, phong trào đấu tranh chính trị của cơng
nhân, học sinh, sinh viên, các tổ chức hịa bình địi chấm dứt chiến tranh, đòi Thiệu từ
chức… nổ ra ở tất cả các thành phố lớn, diễn ra dưới nhiều hình thức, kết hợp bí mật
với cơng khai và bán cơng khai, hợp pháp và bán hợp pháp… đã tập hợp ngày càng
nhiều quần chúng ủng hộ quân Giải phóng, đẩy chính quyền Sài Gịn vào thế lúng
túng, hoang mang, bị động. Các hạt nhân chính trị ở vùng ven và nội đơ các thành phố
được tích cực xây dựng, với hàng chục vạn quần chúng có tổ chức sẵn sàng nổi dậy.
Từ vùng rừng núi đến nông thôn đồng bằng và đơ thị; trong nơng dân, cơng nhân, tín

đồ các tơn giáo, lực lượng trí thức, sinh viên, học sinh… đều thành lập cơ quan chỉ huy
kháng chiến và nổi dậy, tổ chức học tập chính trị, phân cơng nhiệm vụ theo phương án
kết hợp tổng tiến công và nổi dậy, như: biểu tình đấu tranh, trinh sát, dẫn đường, tiếp
tế lương thực, thực phẩm, may cờ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, làm công tác binh
Trang 5


vận và xuống đường phối hợp với các mũi tiến cơng qn sự giải phóng địa bàn. Cùng
với đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương nhằm diệt những binh lính
Việt Nam Cộng hịa cịn cố chống cự, phá vòng vây, khống chế và phá rã phòng vệ dân
sự, công tác binh vận cũng được tăng cường, nhằm tranh thủ lơi kéo binh lính, nhân
viên chính quyền Sài Gịn, các phe phái trong nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hịa,
mở rộng mặt trận đồn kết, cơ lập những kẻ cịn ngoan cố, góp phần đánh sập ý chí
chiến đấu, sức phản kháng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tạo thêm thế và lực cho
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và người dân vùng khác tiến hành tổng cơng
kích, hạn chế bớt đổ máu.

Trên chiến trường miền Nam, khắp các tỉnh, thành phố, nhân dân miền Nam đã
bao bọc cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam; tổ chức đào hầm bí mật để bảo vệ
cán bộ, cất giấu vũ khí, cùng binh sĩ Quân Giải phóng vận động lính Việt Nam Cộng
hịa khơng đi càn. Đặc biệt, để huy động lực lượng đến mức cao nhất, hàng vạn cán bộ
được điều động để tăng cường cho thành phố Sài Gòn - Gia Định. Riêng ở Quân khu
9, trong nửa đầu tháng 4-1975 đã có hơn 9.000 thanh niên gia nhập quân Giải phóng,
đưa tổng số tiểu đoàn quân chủ lực của quân khu từ 14 lên 23 tiểu đoàn. Quân khu 8
tuyển hơn 5.000 thanh niên, thành lập thêm 7 tiểu đoàn chủ lực. Nhiều tỉnh phát triển
từ 3 lên 6 tiểu đoàn. Lực lượng khởi nghĩa được tổ chức thành đại đội, tiểu đồn với số
lượng hơn 10.000 nam, nữ thanh niên… Chính sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là
động lực mạnh mẽ để quân Giải phóng quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975.


Nhân dân địa phương đã vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe
tăng và pháo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vượt qua. Nhân dân đã dẫn
đường cho các mũi đột kích của Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm
nhiều mục tiêu khác nhau trên chiến trường miền Nam. Trong ngày 30 tháng 4 năm
1975, những nơi chưa có bộ đội tiếp quản thì nhân dân, chủ yếu là công nhân, sinh
viên, học sinh tiếp quản. Chiến thắng trong Tổng tấn công và nổi dậy có phần đóng
góp to lớn của nhân dân hai miền Nam-Bắc.

Trang 6


1.2.2. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
∗ Binh lực
− Tổng quân số: 1.351.000 người gồm 495.000 quân chủ lực, 475.000 qn địa
phương, 381.000 qn "phịng vệ dân sự" có vũ trang.
− 13 sư đoàn bộ binh và binh chủng đặc biệt gồm: Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư








đoàn 3, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 21, Sư đoàn 18, Sư đoàn
22, Sư đoàn 23, Sư đoàn 25, Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy quân lục chiến.
Liên đồn 81 biệt kích dù.
18 liên đồn biệt động quân.
65 tiểu đoàn pháo binh.
20 thiết đoàn, 3 lữ đoàn và 57 chi đội xe tăng thiết giáp.

6 sư đồn khơng qn
5 hải đồn và 4 giang đồn.

∗ Vũ khí và trang thiết bị quân sự
− Lục quân Quân lực Việt Nam Cộng hồ có 2044 xe tăng, xe thiết giáp, trong
đó có gồm 383 xe tăng (M-48: 162 chiếc, M-41:221 chiếc); xe thiết giáp các
loại M-113, V-100 có 1.661 chiếc.
− Pháo binh có 1.556 khẩu các cỡ 175mm, 155 mm, 105 mm
− Khơng qn có 1.683 máy bay các loại gồm: 699 trực thăng UH-1; 61 trực
thăng CH-47) 61 cường kích cánh quạt A-1; 202 cường kích phản lực A-37;
129 tiêm kích phản lực F-5; 30 máy bay vận tải C-130; 52 vận tải C-47; 62
máy bay trinh sát các loại RC-47, RC-119 và RF-5; 167 máy bay quan sát-liên
lạc O-1, 31 máy bay quan sát-liên lạc O-2, 89 máy bay liên lạc U-1 và U17; 46
máy bay huấn luyện T-37 và T-41.
− Phịng khơng Qn lực Việt Nam Cộng hồ có 167 khẩu cao xạ cỡ nịng 40
mm.
− Hải quân có 579 tàu chiến, tàu chở quân, tàu vận tải, tàu vớt mìn, tàu phóng
lơi... trên biển; 1016 tàu xuồng chiến đấu, vận tải, vớt mìn... trên sơng.
1.3. Ý đồ, mục tiêu qn sự, chính trị của các bên
1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hồ và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam
Việt Nam
Tháng 4 năm 1974, Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam đã có Nghị quyết 21 yêu cầu các cơ quan chiến lược giúp Tổng
Quân uỷ chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự, trong đó, tập trung
xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Cuối tháng 8 năm 1974, Trung
ương Cục miền Nam và Quân uỷ miền cũng gửi ra Hà Nội bản Kế hoạch tác chiến
Trang 7


mùa khơ 1974-1975 với dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Nội

dung kế hoạch này cũng được bổ sung vào dự thảo kế hoạch của Quân uỷ Trung ương.
Bản kế hoạch sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó
Tổng Tham mưu trưởng, trình bày tại Hội nghị ngày 30 tháng 9 năm 1974 giữa Bộ
Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội.
Bản dự thảo kế hoạch chiến lược vạch ra các bước, các đợt hoạt động quân sự,
các hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường; dự định hoàn thành
trong 2 năm 1975-1976.
Bước 1 (1975): Kế hoạch dự kiến phát động một cách bất ngờ các hoạt động
quân sự trên phạm vi toàn bộ chiến trường miền Nam với ba đợt:
+ Đợt 1 (từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975): Hoạt động quân sự có
mức độ với mục tiêu thăm dị phản ứng của đối phương tại Đơng Nam bộ và Đồng
bằng sông Cửu Long.
+ Đợt 2 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1975): Mở chiến dịch tấn công quy mô lớn
ở Nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở Đông Nam bộ, Bắc Khu V, Trị
Thiên, Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Đợt 3 (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975): Phát triển tấn công ở Nam Bộ, mở
rộng vùng giải phóng ở Trị Thiên, Khu V, tiếp tục chuẩn bị lực lượng, vũ khí, phương
tiện.
Bước 2 (1976): Tiến hành tổng tiến công kết hợp với tổng khởi nghĩa, giải phóng
hồn tồn miền Nam Việt Nam dựa vào thời cơ có thể xuất hiện trong những giai đoạn
sau:
+ Phương án 1: Sau đợt 2 (đợt tấn công chủ yếu của năm 1975).
+ Phương án 2: Đầu đợt 3 (phát triển tấn công ở Nam Bộ trong mùa mưa).
+ Phương án 3: cuối năm 1975 (khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà tổ chức bầu
cử Tổng thống).
Phương châm hành động là tiến công với cường độ tăng dần từ nhỏ đến lớn; hạn
chế chiến tranh trong phạm vi chiến trường miền Nam Việt Nam; thăm dò và theo dõi
phản ứng và tái can thiệp của Hoa Kỳ; sẵn sàng đối phó với các hành động phản ứng
quyết liệt của Hoa Kỳ bằng không quân và hải quân, kể cả bằng lực lượng phản ứng
nhanh trên bộ; khai thác khả năng nổi dậy của dân chúng tại các vùng, đặc biệt là Sài

Gòn - Gia Định.

Trang 8


Các ý kiến bổ sung của Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp vào bản kế
hoạch cũng chỉ rõ: "Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng nhưng năm 1975 là
năm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng. Nếu thời cơ
đến vào năm 1975 thì lập tức tiến hành tổng tấn cơng, giải phóng hồn tồn miền Nam
trong năm 1975".
Mọi thành viên bộ chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung ương Cục
miền Nam Việt Nam đều nhất trí rằng Mỹ đã rút thì khó quay lại, nếu đánh bằng không
quân cũng không thể cứu nổi VNCH. Họ đã giành được quyền chủ động chiến trường,
tạo thế chiến lược vững chắc. Lực lượng quân sự, dự trữ vật chất được tăng cường, hệ
thống đường chiến lược, chiến dịch đang hồn chỉnh. Ở các đơ thị, phong trào đấu
tranh đòi lật đổ Thiệu đang phát triển. Vai trò của Mặt trận giải phóng được nâng cao.
VNCH đã suy yếu nghiêm trọng toàn diện và họ khẳng định "Ở miền nam, ta (quân
Giải phóng Miền Nam) đã mạnh hơn địch (Việt Nam Cộng Hịa).
Tất nhiên mọi chuyện cũng khơng hoàn toàn thuận lợi cho Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lam thời miền Nam Việt Nam. Mặc dù Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam biết họ đã giành được thế chủ động chiến lược ở miền
Nam Việt Nam, kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu vẫn khá thận trọng, bởi họ
vẫn đang phải đương đầu với một số vấn đề nghiêm trọng. So với đối phương, họ vẫn
kém xa về trang bị hạng nặng, đặc biệt về xe tăng thiết giáp và đại bác - điều kiện cần
để tấn công vào các căn cứ ở cấp sư đoàn và trung đoàn vốn được trang bị rất đầy đủ
của quân VNCH.
Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt ở danh mục "vũ khí tấn
cơng" (xe tăng và đại bác), đã giảm đáng kể từ sau Hiệp định Paris 1973. Trong 2 năm
1973-1974, VNDCCH chỉ nhận được 330 triệu USD viện trợ, chỉ bằng 19% giai đoạn
1971-1972. Trong khi đó, dù bị cắt giảm so với trước nhưng Việt Nam Cộng hòa vẫn

nhận được 2,65 tỷ USD viện trợ từ Hoa Kỳ, tức là nhiều gấp 8 lần so với đối phương.
Đầu năm 1975 khi biết VNDCCH chuẩn bị đánh lớn ở miền nam, Trung Quốc đã dừng
viện trợ quân sự.

Do thiếu về trang bị, nhiều đơn vị pháo binh của Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam, nhất là ở miền Nam, vẫn chỉ được trang bị súng cối hạng nhẹ, súng không
giật (DKZ), hoặc súng chống tăng vác vai (B-40). Ở địa bàn hoạt động của Văn phòng
Trung ương cục Miền Nam, tức là nửa phía nam của đất nước, bảy sư đoàn bộ binh (số
3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9) và khung quân đoàn 4 chỉ được yểm trợ bởi năm tiểu đồn pháo
(hai trong số đó trang bị pháo lấy được của Mỹ nhưng còn rất ít đạn) và ba tiểu đoàn
Trang 9


tăng thiết giáp thiếu tổ lái. Cho đến năm 1974, toàn bộ kho đạn pháo và đạn tăng của
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, bao gồm tất cả đạn dược của cả các đơn vị
chiến đấu ở chiến trường lẫn của các kho dự trữ chiến lược, tổng cộng chỉ được
100.000 viên, không đủ để đánh lớn quá 2 tháng. Tình hình đạn dược nghiêm trọng tới
mức các chỉ huy pháo binh phải thay pháo lớn ở một số đơn vị bằng các khẩu sơn pháo
lỗi thời 76,2mm và 57mm, lấy từ kho ra. Trong khi đó, quân đội VNCH dù bị giảm
viện trợ song vẫn có dự trữ vật tư chiến tranh dồi dào, lên tới 1.930.000 tấn với hàng
triệu viên đạn pháo.
Vì những vấn đề này, Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
ban hành sắc lệnh rằng tất cả các vũ khí hạng nặng và đạn dược còn lại phải được sử
dụng thật tiết kiệm, để dành cho một đòn quyết định, chỉ tiến hành khi trận cuối cùng
diễn ra. Kế hoạch 1975-76 chỉ cho phép dùng hơn 10% kho đạn tăng-pháo còn lại của
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cả chiến dịch 1975 (tức khoảng 10.000
viên). 45% được phân phối cho chiến dịch 1976, phần còn lại để dự trữ.
Tuy nhiên, trong Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam đã hồn tất việc chiếm tỉnh Phước Long và thu được 17.000 viên đạn
pháo. Chiến lợi phẩm ngồi dự tính này làm các nhà chỉ huy Quân Giải phóng miền

Nam Việt Nam rất vui mừng: 17.000 viên đạn pháo còn nhiều hơn tổng số đạn mà Bộ
Tổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trong suốt năm 1975. Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí cịn nhiều đạn dược hơn ở các
căn cứ lớn hơn. Do vậy, kế hoạch tấn công năm 1975 đã được điều chỉnh theo hướng
tăng thêm cường độ và tốc độ tiến công, sẵn sàng đánh dứt điểm ngay trong năm 1975
(kế hoạch ban đầu dự tính sẽ giành thắng lợi trong 2 năm 1975-1976). Trong quá trình
diễn ra chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất tích cực sử dụng chiến
lợi phẩm để khắc phục tình trạng thiếu đạn pháo. Nhiều trung đồn pháo của Qn
Giải phóng miền Nam Việt Nam và đã sử dụng tới 75% đạn pháo chiến lợi phẩm để
chiến đấu như Trung đoàn Pháo binh 68 của Sư đoàn 3, Lữ đoàn 164 Quân đoàn 2…
Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, lực lượng pháo binh quân khu 5 đã sử dụng 79% số
đạn, pháo xe kéo chiến lợi phẩm. Ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng 67 khẩu pháo 105mm, 155mm cùng 14.515
viên đạn chiến lợi phẩm để đánh địch.
Sau này, giới sử học phương Tây chủ yếu tìm hiểu xem tình trạng thiếu đạn dược
trong quân đội VNCH tác động như thế nào đến sự sụp đổ của nó, mà họ khơng biết
rằng chính Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam cịn chịu thiếu hụt nghiêm trọng hơn
nhiều. Sự sụp đổ nhanh chóng của quân VNCH, thực tế không nằm ở hỏa lực, mà theo
đánh giá của Merle L. Pribbenow thì "Địn tiêu diệt mạnh nhất chính là tâm lý chống
Trang 10


váng mà chiến lược tài ba và đầy bất ngờ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã nện vào tổng tư lệnh Việt Nam Cộng hịa."
1.3.2. Phía Việt Nam Cộng hoà
Trong giai đoạn 1973-1974, Mỹ dù rút quân nhưng vẫn tiếp tục viện trợ cho
chính quyền Sài Gịn. Mỹ để lại 250.000 tấn vũ khí, bom đạn và 102 máy bay. Từ ngày
29 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 12 năm 1974, Mỹ còn cung cấp thêm 694
máy bay, 580 xe tăng, 520 xe bọc thép, 800 pháo, 204 tàu xuồng chiến, 1.550.000 tấn
bom đạn và 2.530.000 tấn xăng dầu. Nhờ lượng vũ khí dồi dào, Việt Nam Cộng hịa cố

gắng tăng cường kiểm sốt lãnh thổ. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu
đưa ra kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ", sau đó là "Kiện tồn an ninh lãnh thổ", đẩy
mạnh "Bình định đặc biệt". Qn đội Việt Nam Cộng hịa huy động tồn bộ quân địa
phương và 40% quân chủ lực tiến hành càn quét lấn chiếm. Theo thống kê của quân
Giải phóng, trong thời gian từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 31-11-1974, Việt Nam
Cộng hòa mở 58.082 cuộc càn quét, ném hơn 17 vạn quả bom, bắn hơn 6 triệu quả đạn
pháo, giết và làm bị thương hơn 26.500 dân thường, buộc 1,6 triệu người di dời vào
trong 333 khu tập trung dân, trong đó có 163 khu mới lập sau ngày ký Hiệp định Paris.
Đầu tháng 8 năm 1974, tại Sài Gòn đã diễn ra phiên họp quan trọng của Hội
đồng An ninh quốc gia Việt Nam Cộng hoà dưới sự chủ trì của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu. Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá đặc biệt của Tổng thống, đã trình
bày bản Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975 do Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt
Nam Cộng hoà soạn thảo. Mục tiêu chiến lược của bản kế hoạch này không đề cập đến
các hoạt động tấn công rộng rãi để "tràn ngập lãnh thổ" như các kế hoạch Lý Thường
Kiệt 1973 và 1974 mà tập trung vào nhiệm vụ giữ vững những vùng chiếm đóng, tiếp
tục xố các điểm "da báo", xoá các "lõm" của quân giải phóng miền Nam.
Một trong các nhiệm vụ lớn được bàn thảo là việc ngăn chặn tiếp tế của Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam. Ý kiến của Phó đơ đốc
Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân, cho rằng tiếp liệu qua đường biển của đối phương
gần như đã bị Hải quân Việt Nam Cộng hồ cắt đứt hoặc ít nhất cũng bị gián đoạn
trong thời gian dài; do đó, khả năng đối phương đánh lớn trong năm 1975 là hạn chế.
Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không quân, đưa ra những kết quả trinh sát
đường khơng và cho biết đã có hàng chục vạn tấn tiếp liệu được đối phương đưa vào
miền Nam qua hàng vạn km đường hành lang Đông và Tây Trường Sơn. Hệ thống ống
dẫn dầu đã vào đến Bến Giàng (Quảng Nam) và đang tiếp tục được nối qua Hạ Lào và
Cao nguyên trung phần và đến địa đầu Quân khu III. Như vậy, nếu không đánh lớn
trong năm 1975, họ sẽ đánh lớn vào năm sau.
Trang 11



Đối với Quân khu I, Trung tướng Ngô Quang Trưởng cho rằng có hai vùng có thể
trở nên nguy hiểm:
− Huế và vùng phụ cận (Nam Quảng Trị) với binh lực đối phương lên đến gần
100.000 người và họ cũng rất dễ đưa quân tăng viện từ phía Bắc vào.
− Sau trận Nông Sơn - Thượng Đức, vùng Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tam
Kỳ cũng bị uy hiếp với 3 sư đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn chiến xa và các đơn vị
tăng phái khác của đối phương.
Ngô Quang Trưởng đề nghị bổ sung thêm quân tăng phái ngoài các sư đồn dù
và thuỷ qn lục chiến hiện có.
Đối với Quân khu II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú cũng yêu cầu cho giữ lại 3 liên
đoàn biệt động quân do Bộ Tổng tham mưu đã tăng phái và nếu có thể thì tăng phái
thêm với lý do địa bàn rộng, dài, khó kiểm sốt; lực lượng đối phương mạnh hơn năm
1972 và được tiếp tế đầy đủ.
Trung tướng Dư Quốc Đống cho rằng tình hình Quân khu III cũng khơng kém
nguy hiểm vì đối phương đang có những lực lượng rất mạnh ở Lộc Ninh, Tây Ninh,
Hậu Nghĩa, Kiến Tường, Rừng Sác... Trong cuộc thảo luận này, chỉ có tướng Nguyễn
Khoa Nam, tư lệnh Quân khu IV, là không có ý kiến về phối trí lại lực lượng.
Bản đồ dự kiến 5 tuyến trì hỗn chiến của Việt Nam Cộng hịa tại Phịng Tình
hình - Dinh Độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1975
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phân tích hai khả năng về quân sự:
− Một là đối phương sẽ duy trì cuộc chiến với cường độ tiệm tiến trên tồn lãnh
thổ để địi thi hành Hiệp định Paris. Thật ra thì họ đã áp dụng các giải pháp
này từ giữa năm 1974, phù hợp với nhu cầu và thực trạng của họ. Khả năng
này có thể tiếp diễn một thời gian nữa.
− Hai là đối phương sẽ mở cuộc tấn công tổng lực để quyết định nhanh chiến
cuộc. Nhưng khả năng này là thấp vì đối phương còn phải để ý đến phản ứng
của đồng minh Hoa Kỳ.
Nguyễn Văn Thiệu kết luận: Đối phương có thể mở cuộc tấn công vào đầu sang
năm với quy mô lớn hơn năm 1972 và kéo dài cả năm; có thể chiếm Quảng Trị, cô lập
Huế, Đà Nẵng, lấy Kontum để gây áp lực với Pleiku; lấy Tây Ninh làm thủ đơ đồng

thời đẩy mạnh hoạt động du kích ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trang 12


Theo Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng sẽ khó
giữ được Vùng I nên chỉ thị rằng "giữ được phần nào thì giữ" nhưng phải giữ vùng
duyên hải miền trung và Vùng II nếu có thể được vì tiềm năng dầu hoả ngồi khơi. Ở
Tây Ngun thì Bn Ma Thuột quan trọng hơn Kontum và Pleiku do tài nguyên dồi
dào và dân số đông hơn hai vùng trên. Nguyễn Văn Thiệu kết luận: Phương án tốt nhất
là giữ được Đà Nẵng, nếu được cả Huế càng tốt. Phương án thứ hai là lùi về Quảng
Nam, lấy Chu Lai làm căn cứ tiền tiêu. Phương án thứ ba là lui về Tuy Hoà. Ngoài các
lý do về quân sự thuần túy, một trong những lý do buộc Nguyễn Văn Thiệu phải tính
đến khả năng thu hẹp vùng lãnh thổ là để tương xứng với viện trợ từ Hoa Kỳ bị cắt
giảm từ hơn 1 tỷ USD xuống cịn 700 triệu USD trong năm tài khố 1975. Thực chất,
đây là cốt lõi của bản kế hoạch tái phối trí lại binh lực của Quân lực Việt Nam Cộng
hồ do Đại tướng Cao Văn Viên đệ trình hồi tháng 1 năm 1974 nhưng đã bị Nguyễn
Văn Thiệu gạt qua một bên.
Do khơng thể tự sản xuất vũ khí và phải nhập 100% từ bên ngoài, khả năng chiến
đấu của Qn lực Việt Nam Cộng hịa hồn tồn phụ thuộc vào mức viện trợ của Mỹ.
Trong một tài liệu do tướng John Murray và Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam
Cộng hịa trình lên tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tháng 10 năm 1974 cũng chỉ rõ:
− "Nếu mức viện trợ qn sự là 1,4 tỷ USD thì có thể giữ được các vùng đông
dân cư tại bốn vùng chiến thuật.
− Nếu mức viện trợ xuống 1,1 tỷ USD thì có thể khơng giữ được Qn khu I
− Nếu mức Viện trợ cịn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu
II và khó đương đầu với cuộc tổng tấn công của Bắc Việt.
− Nếu viện trợ chỉ cịn 750 triệu USD thì chỉ có thể phịng thu một vài khu vực
và sẽ khó điều đình với Bắc Việt.
− Nếu viện trợ chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ cịn có thể giữ được Sài Gịn và

vùng châu thổ sông Cửu Long".

Trang 13


PHẦN 2. DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH MÙA XUÂN 1975
2.1. Chiến dịch Đường 14 - Phước Long
Trận Phước Long chưa phải là trận mở màn cho Chiến dịch Mùa xuân 1975
nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến dịch này và được coi như một trận
trinh sát chiến lược. Ngoài mục tiêu đánh chiếm hoàn toàn một tỉnh không gần và
không xa trung tâm chỉ huy QLVNCH (cách Sài Gịn khoảng 120 km về phía Bắc), cắt
đứt điểm nối giữa Sài Gịn với Nam Tây Ngun, phía Bắc đông Nam Bộ và Đông
Bắc Cam pu chia qua đường 331 và quốc lộ 14; đây còn là một hoạt động quân sự
mạnh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hồ và Chính phủ Cách mạng Lam thời miền
Nam Việt Nam nhằm thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ cũng như khả năng ứng cứu, phản
kích, giải tỏa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và khả năng giữ vững những vùng đã
chiếm lĩnh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trước khi bước vào chiến dịch
lớn.

Hình 2.1 Bản đồ chiến dịch Phước Long
Từ đêm 13 rạng ngày 14 tháng 12 đến ngày 26 tháng 12 năm 1974, lần lượt các
chi khu quân sự Đức Phong, Bố Đức, Đôn Ln (Đồng Xồi) là những cứ điểm phịng
ngự vịng ngồi của thị xã Phước Long bị tấn công và rơi vào tay Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam. Từ sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm
1975, đến lượt quận lỵ Phước Bình và thị xã Phước Long bị Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam tấn cơng từ bốn phía đánh vào và đặc cơng Quân giải phóng từ trong
đánh ra. Các cứ điểm quan trọng như sân bay Long Bình, trung tâm hành quân, trận
địa pháo lần lượt bị tràn ngập. Quân lực Việt Nam Cộng hòa đồn trú tại đây tổ chức
nhiều cuộc phản kích nhưng đều bị những lực lượng mạnh hơn của đối phương đẩy
Trang 14



lùi. Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hịa lệnh cho Qn đồn III điều
động Liên đồn biệt kích dù số 81 đổ bộ đường khơng xuống tăng phái cho quân dồn
trú tại Phước Long nhưng không xoay chuyển được tình hình. Sau nhiều cố gắng đột
phá vịng vây, chỉ có 850 người trong số 5.400 quân nhân đủ loại của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa phòng thủ Phước Long rút ra hậu cứ an tồn.
Đối với phía Việt Nam Cộng hòa, đây cũng là dịp để họ xem xét phản ứng của
phía Hoa Kỳ theo lời cam kết sẽ hỗ trợ tối đa mà Tổng thống Gerald Ford đã hứa trong
thư gửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 10 tháng 8 năm 1974 và kiểm nghiệm
khả năng tác chiến của mình nhưng kết quả đã khơng được như mong đợi. Đại tá
Phạm Bá Hoa, phụ tá hành quân của đại tướng Cao Văn Viên nhận xét: "Có thể nói,
Phước Long là một địn thử sức đơi bên và kết quả đã quá rõ ràng".
Ngay sau thất bại trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long (tháng 2/1975), cố
vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu chính xác rằng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa sẽ
sớm diễn ra. Ơng viết:
Sài Gịn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một
thành phố được coi là "thủ đô tiêu dùng" nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng
nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm
đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày…
2.2. Chiến dịch Tây Nguyên
Từ tháng 2 năm 1974,hướng mặt trận Tây Nguyên đã được Quân ủy trung ương
và Bộ Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dự kiến là hướng đột phá
chủ yếu trong chiến lược giải phóng hồn tồn miền Nam Việt Nam trong 1975-1976.
Dự kiến này được cụ thể hoá thành kế hoạch tác chiến, ban hành kèm theo Nghị quyết
của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên (B3) tháng 12 năm 1974.
Thực hiện kế hoạch này, từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 3 năm 1975, các đơn vị
thuộc Bộ tư lệnh B3 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành các hoạt động
kiềm chế chủ lực Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Bắc Tây nguyên: Pháo kích khu
vực Pleiku, Kontum trong 6 ngày; cắt đứt đường 19 tại ba điểm ở cả phía Đơng và Tây

Pleiku, cắt đường 14 ở Ea H'Leo, cắt đường 21 ở phía Đơng Chư Cúc. Các cứ điểm
phịng ngự từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa lần lượt bị đánh chiếm: Azun hạ,
đèo Thượng An (ngày 4 tháng 3); Chư Sê (ngày 7 tháng 3); Thuần Mẫn (ngày 8 tháng
3); Núi Lửa, Đức Lập (ngày 9 tháng 3). Quân lực Việt Nam Cộng hịa sử dụng khơng
vận đưa Liên đồn 21 biệt động qn từ Pleiku về Bn Ma Thuột. Đơn vị này phối
hợp với 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 53 (sư đoàn 23 QLVNCH) hành quân lên Bn Hồ
để bảo vệ phía Bắc Bn Ma Thuột nhưng không lấy lại được Đức Lập. Đến chiều
Trang 15


ngày 9 tháng 3, Bn Ma Thuột đã hồn tồn bị cơ lập về đường bộ với các khu phịng
thủ khác trên địa bàn Quân khu II (Quân đoàn II - QLVNCH).
2 giờ sáng ngày 10 tháng 3, lực lượng bộ binh của các sư đoàn 10 và 316 Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam được tăng cường Trung đồn 198 đặc cơng và trung
đồn tăng-thiết giáp 273 dưới hỏa lực yểm hộ của hai trung đoàn pháo binh của các sư
đồn tấn cơng Bn Ma Thuột. Ngày 11 tháng 3, thị xã này thất thủ. Ngày 12 tháng 3,
Quân đoàn II (QLVNCH) điều động các trung đoàn bộ binh 44, 45 (sư đoàn 23), liên
đoàn 21 biệt động quân và bộ phân cịn lại của trung đồn 53 với sự yểm hộ của sư
đồn 6 khơng qn phản kích nhằm tái chiếm Bn Ma Thuột. Cuộc phản kích khơng
thu được kết quả do các trung đoàn 44, 45 bị sư đồn 320A (QĐNDVN) phản đột kích
vào phía sau đội hình hành quân và cầm chân tại Cẩm Ga, Thuần Mẫn trên đường 14;
liên đoàn 21 biệt động quân và tiểu đồn cịn lại của Trung đồn 53 bị các lực lượng
của sư đoàn 10 và sự đoàn 316 đã đánh chiến Bn Ma Thuột tấn cơng chính diện, bao
vây và tiêu diệt tại sân bay Hịa Bình (Phụng Dực). Ngày 17 tháng 3, những cố gắng
cuối cùng để tái chiếm Buôn Ma Thuột của QLVNCH thất bại.
Sáng 14 tháng 3, tại Cam Ranh, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho trung
tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân đoàn II - Quân khu II triệt thoái các lực lượng
QLVNCH khỏi Tây Nguyên. Do thời gian quá gấp gáp, không giữ được bí mật hành
qn, tổ chức khơng chặt chẽ và sai lầm trong việc chọn đường rút quân; phần lớn các
lực lượng này bị các sư đoàn 320A, 316 của Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam

truy kích suốt dọc đường số 7 và bị tan rã và thiệt hại đến 75% quân số và phương
tiện. Kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gần như mất toàn
bộ địa bàn Tây Nguyên (trừ tỉnh Lâm Đồng). Qn đồn II hầu như khơng cịn binh
lực, trừ sư đồn 6 khơng qn cịn ngun vẹn tại Phan Rang, liên đoàn 6 biệt động
quân và thiết đoàn 19 rút trước nên về được Tuy Hoà, Nha Trang. Chiến dịch này tạo
nên bước ngoặt đánh dấu giai đoạn bắt đầu sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa cùng với
quân đội của họ.

Trang 16


Hình 2.2 Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm Buôn Ma Thuột ngày
11.3.1975
2.3. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng
Chiến dịch Huế-Đà Nẵng được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động ngày 5 tháng 3, gần như đồng thời với
Chiến dịch Tây Nguyên. Khi nhận thấy QLVNCH đang tan vỡ trên đường số 7, Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam liền chuyển ngay sang phương án thời cơ, sử dụng
Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) phối hợp với Quân khu Trị-Thiên, Quân khu 5
tiến công chiếm cố đô Huế và ngay sau đó là Đà Nẵng - thành phố lớn thứ hai của
miền Nam và là trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế lớn nhất của Quân khu 1. Chiến
dịch này được tổ chức rất nhanh chóng, tiến hành theo chỉ thị từ xa và trực tiếp từ Bộ
Tổng Tư lệnh tại Hà Nội vừa thông qua Bộ Tư lệnh chiến dịch, vừa truyền đạt trực tiếp
đến các đơn vị qn đồn, sư đồn. Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức tấn
công trong hành tiến, vừa đánh vừa trinh sát chiến trường, triệt để tận dụng sự rối loạn
chỉ huy của QLVNCH để liên tục tăng cường các mũi đột kích sâu, hợp vây các đơn vị
của QLVNCH tại Quân khu I.
Việc Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động tấn công gần như cùng lúc
trên các mặt trận ở miền Nam đã làm cho Quân lực Việt Nam Cộng hồ khơng thể điều
động các lực lượng trù bị chiến lược đi ứng cứu cho các địa bàn then chốt. Sức tấn

công liên tục của bộ binh với hỏa lực của mạnh của xe tăng và pháo binh Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam trong điều kiện ít bị uy hiếp từ trên khơng đã nhanh chóng
đẩy các đơn vị QLVNCH vào thế bị động chống đỡ. Sự rối loạn trong chỉ huy tác
chiến các cấp của QLVNCH đã làm cho các đơn vị vốn thiện chiến và được trang bị tốt
cũng không thể kháng cự lâu dài một cách có tổ chức. Trong khi tình hình nguy ngập
thì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh rút các sư đoàn dù và thủy quân lục
chiến ra khỏi Quân khu I, nói là để bảo vệ các mục tiêu quan trọng hơn. Việc điều
Trang 17


quân này đã làm cho Quân đoàn I QLVNCH suy yếu. Trung tướng Ngơ Quang
Trưởng, tư lệnh Qn đồn I lần lượt phải cho quân rút bỏ Quảng Trị, sau đó đến Huế
và ra lệnh tử thủ tại Đà Nẵng. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã nhanh chóng
cơ động lực lượng cắt đứt giao thông trên bộ ở Bắc đèo Hải Vân, hất các đơn vị cánh
Bắc của Quân đoàn I QLVNCH chạy ra cửa biển Thuận An và Tư Hiền để chờ tàu hải
quân đến cứu. Cuộc tháo chạy đã diễn ra hoảng loạn vô tổ chức. Các đơn vị QĐNDVN
đã khóa chặt hai cửa biển này bằng pháo binh và bộ binh. Những đơn vị QLVNCH
thoát được lên tàu chạy vào đến Đà Nẵng cũng không còn là đơn vị chiến đấu nữa mà
còn làm cho rối loạn thêm tình hình tại Đà Nẵng. Các lực lượng cịn lại bỏ vũ khí hoặc
đầu hàng hoặc tan rã. Ngày 26 tháng 3, qn Giải phóng kiểm sốt hồn tồn thành
phố Huế.
Ngay sau khi chiếm cố đơ Huế, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hợp vây
Đà Nẵng từ ba phía Tây, Nam, Bắc và bắt đầu tấn công ngay từ ngày 26 tháng 3.
Thành phố hỗn loạn. Quân lính rã ngũ từ Huế kéo vào trở thành một đám cướp bóc. Sĩ
quan và binh lính cùng với dân cố gắng thoát khỏi thành phố bằng tàu hải qn. Phái
bộ MAACV tại Sài Gịn thì lập một cầu hàng không để di tản người Mỹ và các đồng
minh của họ. Các tuyến phòng thủ của QLVNCH quanh Đà Nẵng lần lượt tan vỡ sau
hai ngày giao chiến trong tuyệt vọng. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam bỏ qua vịng ngồi nhanh chóng đánh chiếm trung tâm thành phố mà không gặp
kháng cự nào đáng kể. Ngày 29 tháng 3, Đà Nẵng thất thủ. Tại đây khoảng 14 vạn sĩ

quan, binh lính QLVNCH đã ra hàng. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng kết thúc.
Cũng trong những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975, lần lượt các tỉnh
thành phố ven biển miền trung gồm Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà
bị bỏ lại. QLVNCH gom tất cả các đơn vị còn lại của các quân đồn (qn khu) I và II,
lập phịng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang và giao cho Tư lệnh Quân đoàn 3 QLVNCH
chỉ huy. Kết thúc chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chiếm được 14
tỉnh tại miền Nam Việt Nam với 50% đất đai và 40% dân số. Phía trước họ đã là Đơng
Nam Bộ và Sài Gòn.

Trang 18


Hình 2.3 Hàng loạt bộ qn phục mà lính Việt Nam Cộng Hòa vứt bỏ lại trên đường
rút chạy khi quân đội này thất bại và tan rã
2.4. Chiến dịch Hồ Chí Minh
Để đảm bảo chắc thắng trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam đưa thêm Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết thắng), gồm các
sư đoàn 312 và 320B cơ động bằng đường biển và đường khơng vào chiến trường. Sư
đồn 308 (cịn gọi là Sư đồn Qn Tiên phong) Qn Giải phóng miền Nam Việt
Nam được để lại để bảo vệ miền Bắc.
Xung quanh Sài Gịn, qn Giải phóng miền nam đã tập trung tất cả những lực
lượng mạnh nhất của mình, gồm 270.000 quân chủ lực và lực lượng vũ trang hình
thành tại chỗ, để chuẩn bị cho trận chiến mà họ tin chắc là sẽ đem đến toàn thắng cho
cuộc đấu tranh kéo dài 30 năm của đất nước.
Tại khu vực xung quanh Sài Gịn, Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có
13 đơn vị cấp sư đồn và các lữ đoàn, trung đoàn độc lập của các binh chủng bộ binh,
pháo binh, thiết giáp, phịng khơng, đặc cơng, cơng binh... Tất cả lực lượng này có quy
mơ tương đương một tập đoàn quân với bốn quân đoàn và một đơn vị tương đương
quân đoàn (các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đồn 232), được bố trí thành 5 hướng tấn cơng
chính vào Sài Gịn. Ngay từ ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng Lao động

Việt Nam đã chính thức đặt tên cho chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến
dịch Hồ Chí Minh diễn ra chỉ vẻn vẹn trong 4 ngày từ ngày 26 tháng 4 đến khi các đơn
vị của Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và lữ đoàn xe tăng 203 Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam chiếm được Dinh Độc Lập và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương
Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975.
17 giờ ngày 26 tháng 4, pháo binh tầm xa của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam bố trí tại Hiếu Liêm, Tân Phước Khánh, Tân Phước Trung, Mỹ Hạnh, Việt Cần,
Nhơn Trạch đã bắn vào các mục tiêu: Căn cứ quân sự Đồng Dù, Căn cứ quân sự Bến
Lức, Căn cứ quân sự Long Thành, trận địa pháo binh QLVNCH ở Thành Tuy Hạ, Sân
Trang 19


bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu QLVNCH... trong hơn một giờ. Bộ binh Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam có xe tăng-thiết giáp yểm hộ đồng loạt tiến qn trên
hướng Đơng và Đơng Bắc Sài Gịn. Đến ngày 27 tháng 4 tất cả các lực lượng ở các
hướng cịn lại cũng phát động tiến cơng.
Trên hướng Đơng, hồi 16 giờ cùng ngày, căn cứ Nước Trong và chi khu quân sự
Long Thành nằm trên đường số 15 thất thủ sau một ngày chống cự. Đến trưa ngày 28
tháng 4, số qn cịn lại của Sư đồn 18 QLVNCH mặc dù có trong tay 26 khẩu pháo
và một tiểu đoàn xe tăng mới được tăng phái nhưng dưới sức ép tấn cơng như gió lốc
của Qn Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phải bỏ chi khu quân sự Trảng Bom, rút
về Hố Nai. Bộ Tổng tham mưu QLVNCH định lập tuyến trì hỗn chiến Long Bình Long Thành nhưng khơng thể thực hiện được vì đã mất Long Thành từ chiều hơm
trước. Bộ tư lệnh Qn đồn III - QLVNCH phải di tản khẩn cấp về Gò Vấp. Sân bay
Biên Hòa cũng bị bỏ ngỏ từ chiều 28 tháng 4, một số máy bay của sân bay này được
đưa về Tân Sơn Nhất, số bị bỏ lại lên đến hàng trăm chiếc. Cũng trong ngày 28 tháng
4, sư đoàn 325 và các đơn vị địa phương Quân khu 7 của Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam chiếm lĩnh toàn bộ tỉnh Phước Tuy và thành phố Vũng Tàu.
Đến cuối ngày 28 tháng 4, Quân đoàn 2 đã bao vây Long Tân, áp sát xa lộ Sài
Gòn - Biên Hịa ở hướng Đơng. Trên hướng Bắc, Qn đồn 4 đã chiếm Trảng Bom,
tấn cơng Biên Hồ. Các chi đội đặc công phái đi trước của cánh quân này đã chiếm

cầu Xa Lộ bắc qua Sơng Sài Gịn. Ở hướng Tây Nam, Đoàn 232 cắt đứt quốc lộ số 4,
mở thêm bàn đạp tấn cơng nội đơ Sài Gịn. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 cắt đứt
đường số 1B đi Phnompeng và đường số 22 đi Tây Ninh. Hướng Bắc, Qn đồn 1 dã
có mặt tại cửa ngõ Thủ Dầu Một. Chiều ngày 28 tháng 4, ngay khi nhậm chức và tiếp
tục kêu gọi đàm phán, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh yêu cầu
người Mỹ ra đi. Sài Gịn trở thành một vùng lãnh thổ cơ độc của VNCH, nằm cách đối
phương không quá 30 km và thực sự đang ở trong tình thế chờ đợi đối phương "bấm
nút". Và như để khẳng định điều đó, 5 giờ 15 phút chiều 28 tháng 4, 5 chiếc máy bay
cường kích A-37 của Khơng lực Việt Nam Cộng hịa do những phi công của Không
quân Nhân dân Việt Nam cùng một phi cơng Sài Gịn đầu hàng điều khiển đã ném
bom sân bay Tân Sơn Nhất. Người Mỹ hiểu rằng, họ khơng thể di tản bằng máy bay có
cánh cố định được nữa. Ngày 29 tháng 4, cùng với việc lên Đài truyền hình quốc gia
trực tiếp tuyên bố Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với người Mỹ, Tổng thống Hoa
Kỳ Gerald Ford phát động chiến dịch "Gió lốc", di tản khẩn cấp người Mỹ khỏi Sài
Gòn bằng trực thăng trong vịng 24 giờ.
Để khơng gây các rắc rối với Hoa Kỳ, tránh động chạm đến tự ái dân tộc của họ,
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dừng lại bên ngoài thành phố một ngày để cho
Trang 20


người Mỹ di tản hết. Trong các ngày 28, 29 tháng 4, từ các tàu sân bay ngồi biển, lính
thủy đánh bộ Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài và một số người Việt đã
từng cộng tác sâu sắc với họ. Cuộc di tản đã diễn ra trong lộn xộn, có rất nhiều người
muốn ra đi nhưng khơng thể đáp ứng hết được. Tại các điểm đỗ của trực thăng, người
ta chen chúc nhau đến mức hỗn loạn để kiếm được một chỗ trên máy bay. Tại các điểm
di tản này, lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ dùng báng súng để cản những người Việt Nam
tuyệt vọng gây tắc nghẽn đường thốt và lính Việt Nam Cộng hịa nổ súng vào đám
người Mỹ ra đi, tạo nên một hình ảnh bi đát có ý nghĩa như một cột mốc đánh dấu
chấm hết cho sự dính líu kéo dài 21 năm của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Lúc 4 giờ 45 phút
sáng 30 tháng 4, Đại sứ Graham Martin và đoàn tùy tùng lên máy bay trực thăng rời

Sài Gịn với bức điện: "Lady 09 đã lên khơng trung với Cottu".
8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến nhanh
vào Sài Gịn và hầu như không gặp phải sức kháng cự lớn và có tổ chức nào. Tổng
thống Dương Văn Minh hạ lệnh đơn phương ngừng chiến, sẵn sàng đón quân Giải
phóng vào Sài Gịn để bàn giao chính quyền nhưng vị đại diện Quân Giải phóng miền
Nam Việt Namcó mặt tại Dinh Độc lập lúc 11 giờ 30 phút, đại uý Phạm Xn Thệ đã
tun bố rằng: "Các ơng chẳng cịn gì để bàn giao, các ông phải đầu hàng vô điều
kiện". 11 giờ 45 phút 30 tháng 4 1975 các sĩ quan Quân đội giải phóng đưa Tổng
thống Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.Cuộc chiến
tranh Việt Nam kéo dài 21 năm đã chấm dứt. Giống như Chiến dịch Điện Biên Phủ
trước đó 21 năm, Chiến dịch Mùa Xuân 1975 cũng kết thúc thắng lợi sau 55 ngày
đêm.

Hình 2.4 Các xe tăng số 390 (trái) và số 843 (phải) của Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975

Trang 21


PHẦN 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI
3.1. Kết quả
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đập tan bộ máy chính quyền tay sai của Mĩ,
đánh bại hoàn toàn âm mưu xâm lược của Mĩ ở miền Nam Việt Nam qua 5 đời tổng
thống với 4 chiến lược chiến tranh và kéo dài 21 năm.
3.2. Ý nghĩa lịch sử
3.2.1. Đối với dân tộc
Đây là một thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, giải phóng trọn vẹn miền
Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN.
Kết thúc 21 năm chống Mĩ, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc tay sai,
rửa sạch nỗi nhục mất nước hơn một thế kỉ của dân tộc.

Mở ra một kỉ nguyên mới của cách mạng Việt Nam: độc lập, thống nhất, đi lên
XHCN.
Cùng với chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, đại thắng
mùa xuân 1975 đã cắm thêm một mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của
lịch sử Việt Nam.
3.2.2. Đối với quốc tế
Đây là thất bại nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của Mĩ, tác động mạnh đến
nội tình nước Mĩ và cục diện thế giới.
Đây là một thắng lợi có tính có tính chất thời đại, làm phá sản học thuyết Ni –
xon, đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mĩ và đồng minh, thu hẹp và làm yếu hệ thống
thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
Cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng thế giới chống chủ nghĩa đế quốc.
3.3. Nguyên nhân thắng lợi.
3.3.1. Chủ quan
Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ
Chí Minh với đường lối quân sự, chính trị độc lập, tự chủ đúng đắn và sáng tạo. Đó là
đường lối tiến hành đồng thời Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và
Cách mạng XHCN ở miền Bắc.
Truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa anh hùng cách
mạng của dân tộc được khơi dậy và phát huy một cách tối đa, tạo nên sức mạnh to lớn
của cách mạng Việt Nam.
Trang 22


Miền Bắc đảm bảo nghĩa vụ hậu phương lớn, chi viện kịp thời về sức người sức
của, tiếp thêm sức mạnh cho cách mạng miền Nam.
Ngồi ra, tình đồn kết của nhân dân ba nước Đơng Dương cũng đã góp phần
làm nên thắng lợi của mỗi nước.
3.3.2. Khách quan
Nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCH anh em.

Sự đồng tình ủng hộ của phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc và
các lực lượng dân chủ hịa bình thế giới trong đó có nhân dân Mĩ.

Trang 23



×