MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .................................................................... 2
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài .................................................. 2
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .............................. 2
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 3
6. Kết cấu của đề tài ......................................................................................... 3
NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ............................ 4
1.1
Khái niệm , đặc điểm chứng cứ trong vụ án dân sự........................... 4
1.1.1
Khái niệm chứng cứ trong vụ án dân sự ...........................................................4
1.1.2
Đặc điểm chứng cứ trong vụ án dân sự .............................................................7
1.2
Quy định pháp luật hiện hành về chứng cứ trong vụ án dân sự ....... 12
1.2.1
Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong vụ án dân sự .............................12
1.2.2
Nguồn, thu thập, đánh giá, bảo quản, bảo vệ chứng cứ trong vụ án dân sự ...18
1.2.3
Sử dụng chứng cứ trong vụ án dân sự .............................................................30
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ KIÊN NGHỊ ................................................................................................... 33
2.1
Thực trạng về chứng cứ trong vụ án dân sự .................................... 33
2.1.1
Thực trạng về pháp luật chứng cứ trong vụ án dân sự theo BLTTDS 2015........
...................................................................................................................33
2.1.2
Thực tiễn khi áp dụng pháp luật về chứng cứ ................................................38
2.2
Kiến nghị về chứng cứ trong vụ án dân sự. ..................................... 48
2.2.1
Kiến nghị pháp luật về chứng cứ trong vụ án dân sự ....................................48
2.2.2
Kiến nghị trong thực tiễn khi áp dụng pháp luật về chứng cứ. ......................50
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ 54
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong một vụ án, muốn giải quyết một cách công bằng, khách quan thì chứng
cứ là một trong những cơ sở để xác định.Chứng cứ là vấn đề cơ bản, cốt lõi trong hoạt
động xét xử. Vụ án có thể giải quyết một cách triệt để hay khơng, có cơng bằng hay
đúng pháp luật hay khơng hồn tồn phụ thuộc vào chứng cứ và chứng minh chứng cứ
đó. Hoạt động cung cấp, cơng khai chứng cứ là hoạt động đầu tiên, đặt nền móng giải
quyết vụ án dân sự, sau đó bổ trợ cho việc nghiên cứu, đánh giá , sử dụng chứng cứ để
đi đến giải quyết vụ án dân sự một cách đúng đắn, khách quan theo quy đinh của pháp
luật.
Có thể nói rằng, chứng cứ là cơng cụ để các đương sự cũng như Tòa án sử dụng
khi muốn chứng minh một vụ án nào đó. Từ những chứng cứ cụ thể do đương sự cung
cấp, Tòa án căn cứ yêu cầu cụ thể của đương sự và quy định của pháp luật để đưa ra một
phán quyết phù hợp, cơng bằng nhất. Để có được lợi thế trong vụ án dân sự, đương sự
phải chú trọng tới hoạt động tạo lập, thu thập chứng cứ trước khi tiến hành khởi kiện
hay đứa ra bất kì yêu cầu nào của mình. Việc này tiến hành càng cẩn trọng thì càng có
cơ sở để cho Tịa án chấp nhận cao hơn.
BLTTDS 2015 ra đời đã hoàn thiện hơn, sử dụng chứng cứ làm căn cứ xác định
các tình tiết khách quan của vụ án một cách dễ dàng cũng như xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ là hợp pháp. BLTTDS 2015 ra đời là một bước tiến
đáng kể với những quy định pháp luật tiến bộ và khoa học giúp cho đương sự, Tịa án
thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình sử dụng chứng cứ một cách hợp lí, đúng
pháp luật nhằm phục vụ việc giải quyết tranh chấp dân sự được dễ hiểu và dễ dàng áp
dụng hơn.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Chứng cứ trong vụ án dân
sự” để nghiên cứu một cách tồn diện, phân tích một cách sâu sắc hơn, cũng là một
trong những cơ sở quan trọng để giải quyết vụ án, đây là một trong những đề tài em cảm
thấy hay và có thể hỗ trợ mình trong công việc sau này.
1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nhằm mục đích hiểu và nắm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản của về chứng
cứ trong vụ án dân sự , đồng thời nhận diện những tồn tại và bất cập trong việc thực
hiện các quy định của pháp luật trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả khi sử dụng chứng cứ trong vụ án dân sự.
Từ mục đích nghiên cứu đề tài như trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm
rõ những vấn đề cơ bản của chứng cứ trong vụ án dân sự, phân tích làm rõ các nội dung
các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và nghiên cứu, phân tích đánh giá thực
tiễn các quy định của pháp luật về chứng cứ tại Tòa án các cấp ở đây là Tịa án nhân dân
huyện Hồi Nhơn.
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản, nội dung
và các quy định của pháp luật hiện hành về chứng cứ trong vụ án dân sự và thực tiễn
thực hiện chúng tại Tòa án nhân dân huyện Hồi Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đề tài được nghiên cứu trọng phạm vi của chuyên ngành Luật.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, các quy định về tố
tụng dân sự của chứng cứ trong vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định tại Tòa
án cấp sơ thẩm .
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài liên quan đến chứng cứ trong tố tụng dân sự đã được nhiều tác giả, sinh
viên phân tích và chú ý đến. Một số tác giả đã phân tích khá hay cũng như đã đưa ra
những lập luận xác đáng vì chứng cứ vơ cùng quan trọng trong thủ tục tố tụng. Tôi đã
tham khảo qua nhiều luận văn thạc sĩ, những website trên internet để có thể học hỏi, rút
kinh nghiệm từ đó để phát triển bài khóa luận của mình. Cụ thể như luận văn thạc sĩ của
Lê Thị Thanh Tâm nói về “Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương
sự” hay tạp chí Tịa án với tựa đề “ Một số bất cập về chế định chứng cứ theo Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015”,.. “ Chứng cứ trong vụ án dân sự” là đề tài khá rộng, là cơ sở để
có cái nhìn tồn diện hơn, thống nhất hơn về hệ thống pháp luật và thực trạng pháp luật
2
Việt Nam hiện hành quy định chứng cứ, qua đó phát hiện những vướng mắc bất cập,
sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn xét xử các vụ án dân sự nói
chung, trên cơ sở đó đề cập những kiến nghị hoàn thiện pháp luật để có thể đảm bảo
quyền và lợi ích của các bên đương sự, đảm bảo vụ án được giải quyết công bằng,
khách quan và đúng pháp luật. Chính vì vậy đã tạo động lực cho tôi chọn đề tài :
“Chứng cứ trong vụ án dân sự” để giúp chúng ta có thể hiểu sâu hơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được áp dụng xuyên suốt
nhằm làm rõ vấn đề liên quan tới chứng cứ trong vụ án dân sự.
Phương pháp so sánh để tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt giữ bộ
luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 và bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Phương pháp thống kê khi nghiên cứu báo cáo tổng kết của tòa án nhân dân
huyện Hồi nhơn.
Phương pháp hệ thống hóa và khái qt hóa nhằm đưa ra những giải pháp hồn
thiện pháp luật về chứng cứ trong vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự
2015.
6.
Kết cấu của đề tài
Bài báo cáo gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung khóa
luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về chứng cứ trong tố tụng dân sự
Chương 2: Thực trạng về chứng cứ trong vụ án dân sự và kiến nghị
3
NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1
1.1.1
Khái niệm , đặc điểm chứng cứ trong vụ án dân sự.
Khái niệm chứng cứ trong vụ án dân sự
Chứng cứ có vài trị quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung, hoạt
động tố tụng dân sự nói riêng. Trong pháp luật tố tụng hình sự, hành chính hay trong
tố tụng dân sự đều có những điểm chung và vừa có tính lý luận sâu sắc, vừa có tính
thực tiễn rất cao. Nó là cơ sở quan trọng để xác định sự thật khách quan của vụ án. Để
tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏa nội dung vụ án dân sự thì phải có chứng
cứ. Đương sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi làm
phát sinh vụ án dân sự và trong q trình chứng minh có nghĩa vụ phải cung cấp
chứng cứ. Tòa án nhân dân khi quyết định về hướng giải quyết vụ án dân sự phải căn
cứ vào chứng cứ do các chủ thể chứng minh cung cấp để làm cơ sở chấp nhận hay
không chấp nhận yêu cầu của các bên trong các tranh chấp. Trong vụ án dân sự
thường có rất nhiều tài liệu, thơng tin, tình tiết, sự kiện được thể hiện dưới những hình
thức nhất định do Tịa án sử dụng làm cơ sở để giải quyết vụ án dân sự được gọi là
chứng cứ.
Chứng cứ và lý luận về chứng cứ là nội dung quan trọng, tất cả các thông tin,
tài liệu, sự kiện được thừa nhận là chứng cứ hoặc không là chứng cứ là tiền đề lý luận
và cơ sở pháp lý để các chủ thể chứng minh sử dụng làm căn cứ bảo vệ quyền lợi của
mình hoặc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án phát sinh tại cơ quan tư pháp.
Nhận thức được tầm quan trọng của chứng cứ, BLTTDS 2015 đã ghi nhận và quy
định chứng minh và chứng cứ từ điều 91 đến điều 110, chương VII. Trên cơ sở này,
các chủ thể sử dụng chứng cứ để phục vụ cho nhu cầu của mình và Tịa án dùng làm
căn cứ để giải quyết các tranh chấp của đương sự1.
Có nhiều định nghĩa về chứng cứ trên thế giới: Trong BLTTDS của Liêng
Bang Nga có quy định: “Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những sự thật khách quan
và theo đó mà Tịa án có cơ sở để Tịa án giải quyết vụ án dân sự” hay BLTTDS Nhật
1
Trường đại hoc Luật TP.Hồ Chí Minh, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 203.
4
Bản có định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thơng qua một tình tiết được Tịa án cơng
nhận và là một tư liệu, cơ sở thơng qua đó Tịa án được thuyết phục là một tình tiết
nhất định tồn tại hay khơng”. Có thể thấy, về nội hàm khái niệm của một số nước nêu
trên khẳng định lại chứng cứ là sự thật khách quan được Tòa án thừa nhận, xác định
làm căn cứ giải quyết vụ án.2
Còn ở Việt Nam trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học
về chứng cứ trong pháp luật TTDS của các nước, xuất phát từ thực tế khách quan của
bản thân chứng cứ không lệ thuộc vào ý thức con người, đánh giá chứng cứ trong mối
quan hệ biện chứng, mỗi chứng cứ đều có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành nên nó,
sự tồn tại của chứng cứ luôn liên quan đến nhau. Bất kỳ vụ án dân sự nào cũng xuất
hiện, diễn ra trong thế giới khách quan. Do đó, những tình tiết, sự kiện, diễn biến của
sự việc nó đều để lại các “dấu vết” với mn hình, mn vẻ, nhưng lại có hai dạng3:
Thứ nhất, các dấu vết phi vật chất, liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ
án được phản ánh vào ý thức của con người. Thông qua các biện pháp, các hình thức
thu thập chứng cứ để làm các dấu vết đó dưới những hình thức nhất định. Ví dụ: việc
lập biên bản lấy lời khai của đương sự, người làm chứng đã chứng kiến sự việc,..
Thứ hai, các dấu vết vật chất, ví dụ như vật chứng, các giấy biên nhận nợ, hợp
đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng trong các vụ án tranh chấp địi nợ,..
Các “dấu vết” được coi là chứng cứ của vụ án chính là phản ánh các mặt
riêng lẻ của sự thật đó được thu thập theo một trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định
làm căn cứ cho việc xác định sự thật của vụ án.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại điều 93 BLTTDS 2015: “Chứng
cứ trong vụ án dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tịa án trong q trình tố tụng hoặc do Tịa án
thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm
căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay
sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Như vậy theo như điều 93 thì
2
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 10.
3
Luật gia Tưởng Duy Lượng, Pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, trang 164.
5
chứng cứ trong vụ án dân sự là những chứng cứ có thật được cung cấp theo trình tự
thủ tục do Bộ luật quy định do đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp xuất
trình cho Tịa án hoặc do Tịa án thu thập được theo trình tự thủ tục do BLTTDS quy
định thì đương sự đều có thể biết, khơng bị che giấu, đương sự có quyền tiếp cận
công bằng chứng cứ liên quan đến vụ án để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình và
Tịa án dùng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan giải quyết vụ án dân sự
một cách cơng bằng.
Có những sự kiện, tình tiết đương sự khơng cần phải thu thập, cung cấp,
giao nộp chứng cứ được quy định tại điều 92 BLTTDS 2015. Những tình tiết, sự kiện
mà mọi người đều biết, Tòa án thừa nhận là những gì xảy ra trong thực tế được nhiều
người chứng kiến, ví dụ như thiên tai, hỏa hoạn, khủng bố,.. Bên cạnh đó có những
tình tiết, sự kiện xảy ra khá lâu cần có chứng cứ để chứng minh như hình ảnh, báo đài,
tạp chí,... Việc khơng chứng minh những tình tiết, sự kiện bởi chúng đã được cơng
nhận trước đó, hơn nữa việc chứng minh rất có thể sẽ cho một kết luận khác kéo theo
khá phức tạp trong việc giải quyết vụ án dân sự làm trì truệ thủ tục tố tụng.
Để giải quyết nhanh các vụ án dân sự, tránh những phức tạp khơng đáng có,
Tịa án khơng cho chứng minh lại những sự kiện, tình tiết đã được xác định, công
nhận trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp nghi ngờ tính đúng đắn của nó, Tịa
án cũng không chứng minh lại và cũng không được sử dụng những tình tiết, sự kiện
này làm chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự. Trong trường hợp này Tòa án có thể ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và nếu vấn đề xem xét lại sự kiện,
tình tiết bằng việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm.
Đối với những sự kiện, tình tiết đã cơng chứng, chứng thực thì khơng cần
phải chứng minh, vì nó đã được ghi lại dưới hình thức rõ ràng và đã được cơ quan có
thẩm quyền xác nhận. Tuy vậy, trên thực tế vì những lý do khác nhau đơi khi các tình
tiết, sự kiện đó được xác nhận chưa chính xác hoặc có biểu hiện giả mạo, gian dối. Do
vậy, đối với những tình tiết, sự kiện tuy đã được cơng chứng nhưng Tòa án vẫn phải
đi xác minh để phủ nhận hay cơng nhận văn bản đó.
Do đó, khơng có một giới hạn nào về độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện
6
được coi là chứng cứ mà không cần phải đi chứng minh. Tuy vậy, nếu xảy ra ở xã,
huyện mà ở đây theo thực tế là Tòa án nhân dân huyện Hồi Nhơn tỉnh Bình Định khi
giải quyết Tịa án phải chỉ ra đã xảy ra ở địa phương cho mọi người đều biết, vì như
vậy khi xem xét ở Tịa án cấp trên có thể dễ dàng biết được vì sao chúng được sử
dụng mà khơng cần phải chứng minh. Nhưng khi giải quyết vụ án dân sự nghi ngờ về
tính đúng đắn của nó, Tịa án vẫn có thể chứng minh trong q trình tố tụng. Do đó,
có thể thấy đương sự không cần thực hiện nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp
chứng cứ trong các trường hợp quy định đương sự không cần phải chứng minh.
Một khi đã khẳng định rằng, chứng cứ là những gì có thật được thu thập
theo đúng quy định của BLTTDS được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, thì cũng
có nghĩa là những gì khơng phản ánh đúng sự thật của vụ án sẽ không được coi là
chứng cứ của vụ án đó. Vì vậy những tài liệu có tồn tại nhưng khơng phản ánh đúng
bản chất của sự việc thì khơng được coi là chứng cứ trong vụ án.
Ví dụ : A và B là hai anh em ruột trong một gia đình. A là người mua nhà và
nhờ B đứng tên trong giấy tờ sở hữu, nhưng do tham lam nên B đã khai nhà là của B,
do B bỏ tiền mua cho A ở nhờ và kiện địi A trả nhà . B xuất trình giấy tờ sở hữu nhà
đứng tên B làm căn cứ cho yêu cầu của mình, A đã bác bỏ lời khai của B và xuất trình
giấy ủy quyền cho B đứng tên sở hữu thay cho A, đồng thời người bán nhà và các
nhân chứng chứng kiến việc mua bán đều khai như lời A.
Như vậy, trong trường hợp này những nội dung ghi B là chủ sở hữu thể hiện
trong giấy sở hữu nhà đứng tên B không được coi là chứng cứ vụ án, vì nếu như thừa
nhận những nơi dung đó là chứng cứ thì phải thừa nhận B là chủ sở hữu nhà đang
tranh chấp, phủ nhận những chứng cứ không bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của
các bên, không giải quyết đúng nội dung vụ án.
1.1.2
Đặc điểm chứng cứ trong vụ án dân sự
Để xác định thông tin, tài liệu, sự kiện là chứng cứ phải có những dấu hiệu
nhất định, có tính khoa học, bao hàm những yếu tố thể hiện tính riêng biệt và phân
biệt được với những khái niệm khác hoặc những vấn đề khác trong tố tụng nói chung
và TTDS nói riêng. Hiện nay, khái niệm về chứng cứ có nhiều quan điểm khác nhau
tùy thuộc vào khía cạnh nhận thức, phương pháp tiếp cận, cách đánh giá giá trị chứng
7
minh của chứng cứ. Dưới góc độ TTDS và quy định của BLTTDS, chứng cứ có thể
xác định với các đặc điểm đặc trưng phổ biến nhất như sau:
Thứ nhất, tính khách quan của chứng cứ: khơng phụ thuộc vào ý chí của con
người, biểu hiện sự độc lập của chứng cứ với mong muốn của con người. Tính có thật
của chứng cứ được xác định bởi những đơn vị đo lường nhất định còn gắn liền với sự
hiện hữu của chứng cứ, được thể hiện dưới những hình thức nhất định và thơng qua
đó, chủ thể chứng minh cung cấp được cho Tòa án và Tòa án xác định được những
nội dung mà dựa vào đó làm căn cứ giải quyết. Ngược lại những thông tin, tài liệu, sự
kiện mà không xác định được bằng một phương thức nào đó, khơng theo quy định
của bộ luật thì khơng được coi là chứng cứ và không thể sử dụng trong q trình
chứng minh. Tính có thật của chứng cứ gắn liền với tính khách quan của chứng cứ.
Nói cách khác, nếu chứng cứ là những gì khơng có thật thì bản thân nó khơng tồn tại
dưới những dạng vật chất nhất định và cũng khơng thể xác định được tính khách quan
của nó4.
Con người muốn có chứng cứ phải tìm kiếm, thu thập, bảo quản, kiểm tra,
đánh giá theo trình tự nhất định. Con người không thể tạo ra chứng cứ, làm ra thông
tin tài liệu, sự kiện theo hướng có lợi cho chính bản thân mình để tham gia vào hoạt
động chứng minh. Tuy nhiên, giữa tính khách quan của chứng cứ và nguồn gốc của
chứng cứ có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nguồn gốc của chứng cứ có mối quan hệ
mật thiết với tính khách quan của chứng cứ bởi vì nó là cơ sở để hình thành và xây
dựng tính khách quan của chứng cứ, sản phẩm hình thành do hành vi của con người
mà ra. Muốn có chứng cứ con người phải thơng qua các hoạt động khác nhau để thu
thập và sử dụng chúng theo thủ tục, trình tự do luật định.5
Trong đời sống xã hội, thông qua các hoạt động khác nhau, con người tạo ra
và để lại nhiều dấu vết, thông tin này xuất phát từ những hành vi hợp pháp hoặc
không hợp pháp của con người. Và cũng từ những thơng tin, dấu vết đó, thơng qua
những hoạt động theo quy định của pháp luật từ đó con người sử dụng nó để khẳng
định rằng mình có quyền lợi bị người khác xâm phạm hoặc không vi phạm quyền lợi
4
Trường đại hoc Luật TP.Hồ Chí Minh, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 204.
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 12.
5
8
của người khác6. Tuy nhiên, cần tránh nhầm lẫn giữa tính khách quan của chứng cứ
với sự hình thành nên chứng cứ. Thông thường một sự vật, tài liệu,.. được hình thành
từ ý muốn chủ quan của con người, ví dụ như di chúc, các nội dung của bản di chúc
do chủ sở hữu đó viết ra, q trình viết di chúc là quá trình hình thành của một văn
bản nó thể hiện ý chí, mong muốn chủ quan của chính chủ thể đó, mà sau này nếu có
khởi kiện chia thừa kế thì bản di chúc sẽ trở thành một nguồn của chứng cứ. Khi bản
di chúc đó ra đời và được thu thập theo đúng quy định BLTTDS thì những nội dung
thể hiện ý chí của chủ sở hữu về định đoạt tài sản sẽ là chứng cứ của vụ án tranh chấp,
chia thừa kế theo di chúc, nó tồn tại một cách khách quan.7
Tuy vậy, khơng phải mọi dấu vết, thông tin từ hành vi của con người cũng
được coi là chứng cứ trong vụ án dân sự mà chỉ có những dấu vết, thơng tin gắn liền
với việc Tịa án giải quyết vụ án đó và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết
các yêu cầu khởi kiện của đương sự. Nói cách khác, chỉ có những dấu vết, thơng tin
có giá trị làm căn cứ để Tòa án giải quyết các tranh chấp của đương sự được thu thập,
bảo quản, kiểm tra, đánh giá theo trình tự mà bộ luật quy định, tồn tại một cách độc
lập với ý chí cá nhân của con người mới được coi là chứng cứ. Mọi dấu vết, thơng tin
được làm ra theo ý chí của con người tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án dân sự
theo hướng có lợi cho họ, khơng phản ánh đúng bản chất của vụ án là chứng cứ giả
tạo.
Vì vậy, khi thu thập, nghiên cứu về chứng cứ phải rất chú ý đến tính khách
quan của nó, xem xét tài liệu chứng cứ đó có tính xác thực hay không, xuất hiện khi
nào, ai là người viết, lưu giữ, phát hiện ra nó và có phản ánh đúng bản chất của sự
việc hay không,… để xem xét, đánh giá.
Thứ hai, tính liên quan của chứng cứ: là thuộc tính quan trọng của chứng cứ,
nó gắn liền với sự kiện cần chứng minh trong các vụ án dân sự. Theo từ điển tiếng
việt: “Tính liên quan là sự liên hệ dính dáng nhau ở một hoặc một số tính chất”.
Những thơng tin, tài liệu, sự kiện có thật, tồn tại khách quan chỉ được coi là chứng cứ
khi nó có mối liên hệ với các sự kiện cần chứng minh trong vụ án dân sự mà Tòa án
6
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 13.
7
Luật gia Tưởng Duy Lượng, Pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, trang 169.
9
giải quyết, khi nó làm sáng tỏa một số tình tiết nào đó trong vụ án dân sự 8. Tính liên
quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ giữa chứng cứ và vụ án dân sự có mối quan hệ nhất
định, gắn liền với sự chứa đựng thông tin, tài liệu, sự kiện mà các đương sự và các
chủ thể tham gia chứng minh cung cấp cho Tòa án cũng như hoạt động sử dụng
chứng cứ của Tòa án trong việc kết luận một sự việc.
Trong đời sống xã hội, thông qua các hoạt động khác nhau của con người,
làm hình thành và tồn tại các dấu vết thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên,
chỉ có những dấu vết chứa đựng thơng tin gắn liền với việc Tịa án giải quyết vụ án
dân sự mới được sử dụng làm căn cứ giải quyết của đương sự - tính liên quan thể hiện
dưới hình thức trực tiếp. Như vậy, căn cứ vào yêu cầu của đương sự, đương sự có
trách nhiệm cung cấp các thơng tin có liên quan để chứng minh cho yêu cầu của mình
và phản đối yêu cầu của người khác. Tòa án chỉ thu nhận và sử dụng những thơng tin
cần thiết và hữu ích để giải quyết trong quá trình chứng minh. Hoạt động kiểm tra
chứng cứ là q trình Tịa án xác định tính liên quan của chứng cứ trong hoạt động
chứng minh9.
Tính liên quan còn được thể hiện dưới dạng gián tiếp, tức là dựa vào thơng
tin đó, phải qua một hoặc nhiều khâu trung gian mới giúp Tòa án đưa ra kết luận về
tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong vụ án dân sự 10. Những tài liệu, chứng cứ liên
quan đến vụ án phải xâu chuỗi, xem xét, đánh giá nó trong mối quan hệ với các tài
liệu, tình tiết khác, những chứng cứ khác mới thấy được giá trị chứng minh của nó.
Ví dụ: Vào ngày 10/05/2019 B có vay A số tiền 10.000.000 đồng, đến hạn
B khơng trả. A kiện địi nợ B, B khai khơng hề vay tiền A và cả ngày 10/05/2019 B
ngồi chơi bài cùng C, D, F.
Tòa án tiến hành lấy lời khai của nhân chứng, khi được hỏi C, D, F thì khai
ngày hơm đó khơng chơi bài với B. Nhân chứng R khai ngày 09/05/2019, B có đến
nhà chơi và nói đang thiếu tiền mua máy cày, R có cho B biết là A đang có tiền nhàn
rỗi, đến và hỏi vay xem. Nhân chứng H khai có nhìn thấy B đến nhà A ngày
8
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 207
Luật Dương Gia (2015), Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự, nguồn: dan-su
10
Luật Dương Gia (2015), Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự, nguồn: dan-su
9
10
10/05/2019 cịn đến để làm gì thì H khơng biết nhưng khi B từ nhà A ra có cầm một
xấp tiền.
Với nội dung khai của các nhân chứng C, D, F, R, H là những tài liệu chứng
cứ gián tiếp có liên quan đến vụ kiện địi nợ, nếu tách riêng từng lời khai, tài liệu,
chứng cứ thì khơng cịn ý nghĩa, khơng nói lên được điều gì liên quan đến vụ án.
Nhưng nếu xem xét trong mối liên hệ giữa các lời khai trên với nhau sẽ thấy được
những thông tin ý nghĩa và các tài liệu chứng cứ khác sẽ giúp chúng ta thấy rõ nét
hơn của sự việc, giúp Tịa án giải quyết đúng đắn, cơng bằng.
Như vậy, tính liên quan trong vụ án dân sự được hiểu là các tình tiết sự kiện
có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án dân sự mà Tòa án đang giải quyết. Tùy
vào từng vụ án, từng trường hợp mà tính liên quan thể hiện dưới dạng khác nhau.
Thứ ba, tính hợp pháp của chứng cứ: ngồi tính khách quan, liên quan,
thơng tin, tài liệu, sự kiện thì chỉ được coi là chứng cứ khi tuân thủ tính hợp pháp.
Tính hợp pháp gắn liền với sự tuân thủ trong việc thu thập, xác định chứng cứ và chỉ
được coi là chứng cứ khi được thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá theo thủ tục,
trình tự do luật định. Thủ tục trình tự này được quy định trong BLTTDS, có tính bắt
buộc và thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Tùy thuộc vào bảo chất, hình
thức, loại chứng cứ, pháp luật tố tụng quy định thủ tục thu nhập, kiểm tra, đánh giá
khác nhau. Mọi hoạt động thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khơng tn
thủ theo quy định của luật thì những thơng tin đó khơng được coi là chứng cứ11.
Tính hợp pháp của chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn gốc nhất định
theo pháp luật quy định, quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá, sử dụng chứng cứ
phải được tiến hành theo đúng quy định. Nếu thiếu thuộc tính này, việc thu thập, đánh
giá chứng cứ sẽ dễ dàng bị các chủ thể tố tụng lạm dụng, không bảo đảm tính đúng
đắn, cơng bằng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và các chủ
thế khác. Mọi hoạt động thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ không tuân
thủ theo quy định của luật thì sẽ khơng được coi là chứng cứ12.
11
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 208
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 13.
12
11
Khơng chỉ vậy, tính hợp pháp của chứng cứ gắn liền với giá trị chứng minh
của chứng cứ. Mọi chứng cứ được Tòa án sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ án dân
sự phải được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm khẳng định tính khách
quan của vụ án, thể hiện tính đúng đắn, chính xác của chứng cứ cũng như sự đồng
nhất của chứng cứ trong hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Nhà lập
pháp xác định tính hợp pháp của chứng cứ nhằm khẳng định sự chặt chẽ, độ tin cậy
của thông tin để làm căn cứ giải quyết các vụ án dân sự.
Ví dụ: Một bản di chúc, bản hợp đồng photocopy nhưng khơng có cơng
chứng, chứng thực là đã sao y bản chính; khơng có bản chính để xuất trình cho Tịa án,
trong khi các đương sự trong vụ án không thừa nhận nội dung, chữ ký… trong các tài
liệu photocopy này thì tài liệu đó cũng khơng có giá trị chứng minh, khơng được coi
là chứng cứ trong vụ án do khơng bảo đảm tính hợp pháp, không đúng theo thủ tục
pháp luật.
1.2
1.2.1
Quy định pháp luật hiện hành về chứng cứ trong vụ án dân sự
Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong vụ án dân sự
Theo khoản 1 điều 68 BLTTDS 2015, “ Đương sự trong vụ án dân sự là cơ
quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan”. Việc xác định tư cách đương sự là một trong vấn đề quan trọng và vấn đề
lợi ích của các chủ thể. Đồng thời chỉ khi Thẩm phán xác định đúng tư cách của
đương sự mới xác định chính xác về quyền và nghĩa vụ của họ và giới hạn về quyền,
bảo đảm vụ án được giải quyết đúng đắn. Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng dù là ai thì họ phải có năng
lực hành vi và năng lực tố tụng dân sự. Trong trường hợp khơng có hoặc có nhưng
khơng đầy đủ thì họ phải thực hiện thơng qua người đại diện hợp pháp của mình theo
Điều 69 BLTTDS 2015. Có thể nhận thấy rằng việc xác định tư cách đương sự trong
vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án đều dựa trên vấn đề lợi ích. Giải quyết tranh chấp cũng là giải quyết vấn đề lợi
ích, nên các chủ thể liên quan tới lợi ích của mình hoặc xâm phạm tới lợi ích của
người khác đều được xác định tư cách đương sự. Qua đó sẽ giải quyết được triệt để
các tranh chấp phát sinh cũng như giảm thiểu được các khiếu kiện kéo dài trong cùng
12
một vụ án. Dựa trên cơ sở đó, Tịa án có thể giải quyết được các tranh chấp.
Về nguyên tắc, khi tham gia tố tụng, các đương sự có quyền và nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ để chứng minh cho u cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp,
theo như khoản 1 điều 6 BLTTDS 2015 “ Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động
thu thập giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho u cầu của mình là có
căn cứ và hợp pháp”, do vậy đương sự có quyền và nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ
cho Tịa án, Tịa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy
định của pháp luật để giải quyết. Những tài liệu, chứng cứ đó kèm theo đơn khởi kiện
phải chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự bị xâm phạm và có thể bổ
sung hoặc giao nộp tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình
giải quyết vụ án được quy định rõ tại khoản 5 điều 189 BLTTDS 2015. Vì sao
BLTTDS 2015 lại đặt ra quyền và nghĩa vụ của các đương sự như vậy? Sở dĩ như vậy
là vì quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải
quyết là chủ yếu và khi các bên không giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có
u cầu Nhà nước hỗ trợ hay không? Mặt khác, các bên đương sự là những người hiểu
rõ vụ án của mình nhất, thường biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án của mình
có những gì và đang ở đâu. Do đó khi các bên đưa việc tranh chấp của họ ra Tịa, thì
Tịa án chỉ là trọng tài giúp giải quyết một cách khách quan và đúng pháp luật.
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, các đương sự có địa vị pháp lí
bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Khi làm đơn khởi kiện,
việc cung cấp chứng cứ là nghĩa vụ của nguyên đơn. Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu
mà không chứng minh được u cầu của mình là có căn cứ, có trong thực tế, trong khi
đó bị đơn đưa ra chứng cứ có tính thuyết phục để phản đối thì u cầu của ngun
đơn sẽ bị Tịa án bác bỏ. Nguyên đơn tham gia tố tụng với sự chủ động cao thể hiện ở
việc họ có thể lựa chọn thời điểm khởi kiện của vụ án, giới hạn phạm vi xét xử của tịa
án thơng qua đơn khởi kiện vì “tịa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện”
quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015 mặc dù sau này cịn có thể có u cầu phản tố của
bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi liên quan nhưng những
yêu cầu này phải có quan hệ gần gũi với việc khởi kiện ban đầu có quyền lựa chọn
Tịa án trong một số trường hợp tại Điều 40 BLTTDS 2015 “thẩm quyền giải quyết
của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn và người yêu cầu”. Nguyên đơn là người
cho rằng quyền và lợi ích của mình đang bị xâm phạm, thơng thường họ là một phần
13
trong quan hệ pháp luật .
Về phía bị đơn, họ là người bị kiện nên họ cũng có quyền cung cấp chứng
cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Trong tranh chấp, họ bị suy đốn là đã có hành vi
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn tham gia tố tụng
một cách bị động, tư cách của họ chỉ được xác lập sau khi ngun đơn xác định tư
cách của mình, họ có thể nới rộng phạm vi giải quyết vụ kiện nhưng vẫn bị phụ thuộc
vào đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.Tuy nhiên, việc cung cấp chứng cứ sẽ là
nghĩa vụ đối với bị đơn nếu bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn đưa
ra yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, có thể bị đơn chỉ chấp nhận một
phần và phản đối một phần cịn lại đó. Trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu có liên quan
đến yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chỉ ra yêu
cầu đó có cơ sở thực tế, cơ sở pháp lý đúng đắn13. Do đó, điều 91 BLTTDS 2015 đã
quy định “ Đương sự có yêu cầu Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”. Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình phải đưa ra căn cứ và chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của
mình.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là người tham gia tố tụng
vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích
của mình. Họ có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ khi yêu cầu độc lập và chứng
minh yêu cầu của họ là có căn cứ. Đây không phải là một bên trong quan hệ pháp luật
nhưng quyền hay nghĩa vụ của họ phát sinh khi có tranh chấp xảy ra. Do vậy, họ bị lôi
kéo vào vụ kiện, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu độc lập dù đứng về phía ngun đơn
hay bị đơn, họ đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cùng nguyên đơn hay
bị đơn vì lợi ích của họ liên quan đến vụ kiện. Việc cung cấp chứng cứ của họ nhằm
sáng tỏa các tình tiết của sự kiện để bảo vệ quyền lợi của đương sự mà họ đứng về
phía đương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ dưới một trong các bên
đương sự; hoặc chứng cứ của họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối về việc kiện đòi
13
Pham Thị Hải Yến, Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm,
nguồn: nghien-cuu-va-danh-gia-chung-cu-tai-toaan-cap-so-tham-phuc-tham.htm
14
hoàn lại mà một bên đương sự đặt ra cho họ14.
Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác theo khoản 1 điều 6 BLTTDS 2015 có quyền và nghĩa vụ
thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. Mặc dù cơ quan, tổ chức cá
nhân khơng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp nhưng là chủ
thể thì phải chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Quy định này thể hiện
sự bình đẳng, ngang bằng về quyền và nghĩa vụ, không loại trừ đương sự hay cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào dù đối tượng đó khởi kiện bảo vệ lợi ích của mình hay người
khởi kiện để bảo vệ lợi ích chung của xã hội hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, đối với tổ chức xã hội tham gia bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng thì khơng có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng theo điều 91 BLTTDS 2015.
Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 184 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ
sung 2011 thì: “Trong q trình Tồ án giải quyết án dân sự, đương sự có quyền và
nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tịa án; nếu đương sự khơng nộp hoặc nộp khơng
đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc khơng nộp và khơng đầy đủ đó, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”. Căn cứ vào quy định này, chúng ta có thể hiểu việc giao
nộp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các đương sự, đồng thời, luật cũng
không quy định thời gian đương sự phải nộp chứng cứ, do đó, đương sự có thể giao
nộp chứng cứ vào bất kì thời điểm, giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án.
Chính vì thế khoản 1 điều 96 BLTTDS 2015 đã quy định: “Trong q trình Tịa án
giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở
để giải quyết vụ việc thì thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng
cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp khơng đầy đủ tài liệu, chứng cứ do
Tịa án u cầu mà khơng có lý do chính đáng thì Tịa án căn cứ vào tài liệu, chứng
cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 BLTTDS
để giải quyết vụ việc dân sự” mà trong thực tiễn giải quyết vụ án dân sự, có rất nhiều
trường hợp ở giai đoạn xét sử sơ thẩm, đương sự mặc dù có chứng cứ nhưng không
14
Pham Thị Hải Yến, Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc
thẩm, nguồn: nghien-cuu-va-danh-gia-chung-cutai-toa-an-cap-so-tham-phuc-tham.htm
15
giao nộp, cố tình che giấu. Điều này đã góp phần kéo dài việc giải quyết vụ án dân sự,
làm giảm tính ổn định của bản án, quyết định, gây tốn kém thời gian cơng sức cho cả
Tịa án và đương sự15.
Điều 84 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 quy định: “Trong q
trình Tịa án giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng
cứ cho Tịa án”. Ngồi các quy định về thủ tục cung cấp, giao nộp chứng cứ,
BLTTDS năm 2004 thiếu quy định về thời hạn giao nộp, cung cấp chứng cứ đã tạo ra
một lỗ hổng pháp luật đó là các đương sự thường trì hỗn việc giao nộp chứng cứ,
chọn thời điểm có lợi cho mình mới giao nộp chứng cứ, dẫn đến thời gian giải quyết
vụ án dân sự bị kéo dài, tăng chi phí tố tụng, không bảo đảm điều kiện để các đương
sự thực hiện tranh tụng cơng khai tại phiên tịa. BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011
quy định quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ở bất kì thời điểm nào thì BLTTDS
2015 đã bổ sung thời hạn giao nộp chứng cứ nhằm hạn chế sự thiếu trung thực. Tuy
nhiên vì lí do chính đáng nếu chứng cứ tuy đã hết thời hạn cung cấp hoặc đáp ứng các
điều kiện do pháp luật quy định vẫn có thể được chấp nhận nhằm đảm bảo vụ việc có
đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án cũng như bảo vệ quyền lợi của các đương sự.
Chính vì vậy BLTTDS 2015 đã quy định lại về thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án không được vượt quá thời hạn chuẩn bị
xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Nếu sau khi quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm, đương sự
mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu nộp trước đó mà đương
sự khơng giao nộp được vì lý do chính đáng thì phải chứng minh lý do của việc chậm
nộp tài liệu, chứng cứ. Thời hạn giao nộp và trách nhiệm của đương sự phải sao gửi
tài liệu, chứng cứ khi giao nộp cho tòa án được quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 96
BLTTDS 2015 là hai khoản mới.
Việc quy định thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán xác định là phù
hợp vì thơng thường sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, đương sự
khơng có quyền cung cấp chứng cứ mới. Việc giới hạn thời hạn cung cấp chứng cứ của
đương sự sẽ buộc đương sự phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc thu thập, cung cấp
chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình. Khơng chỉ vậy cịn tránh trường hợp
15
ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Một số bất cập về chế định chứng cứ trong BLTTDS 2015, nguồn:
/>
16
đương sự lợi dụng quy định có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào của
quá trình tố tụng để kéo dài vụ kiện, Tòa cấp sơ thẩm phải hỗn phiên tịa để thu thập
chứng cứ, Tịa án cấp trên hủy án của Tòa án cấp dưới do đương sự xuất trình chứng
cứ mới trong quá trình giải quyết vụ án.
So với BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thì BLTTDS 2015 nhấn mạnh
thêm quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ của đương sự. Do đó, để đương
sự thực hiện được quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ thì khoản 1 Điều 97 BLTTDS
2015 quy định các biện pháp thu thập chứng cứ mà đương sự được thực hiện nhằm
đảm bảo các chứng cứ có được, mang tính hợp pháp. Đó là, thu thập tài liệu đọc được,
nghe được, nhìn được; thơng điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người
làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã
chứng thực chữ ký của người làm chứng; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ
nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án ra quyết định
trưng cầu giám định, định giá tài sản; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện
công việc khác theo quy định của pháp luật. Ngồi ra, các đương sự có quyền và
nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án nhằm buộc đương sự phải giao nộp tất cả các
chứng cứ mà họ có cho Tịa án, tránh tình trạng họ giữ lại các chứng cứ để tại phiên
tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm họ mới giao nộp nhằm gây khó khăn cho Tịa án và các
đương sự khác16.
Có thể thấy không chỉ pháp luật TTDS Việt Nam mà cả pháp luật tố tụng
dân sự nước ngoài khi đã quy định việc cung cấp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa
vụ của các bên đương sự thì pháp luật đã dành cho đương sự quyền lựa chọn phương
án hành động có lợi đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hay chứng cứ
nhằm phản đối, bác bỏ yêu cầu của người khác, hoặc phương án hành động bất lợi là
không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì đương sự phải gánh
chịu hậu quả tương ứng với phương án mà họ đã tự định đoạt, tự lựa chọn.
Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của
16
ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Một số bất cập về chế định chứng cứ trong BLTTDS 2015, nguồn:
/>
17
mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền định đoạt của đương sự đối với
quyền khởi kiện của mình. Nguyên tắc này thể hiện sự khác biệt rất lớn giữa tố tụng
dân sự và tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự các bị can, bị cáo khơng có nghĩa vụ
phải cung cấp chứng cứ, khơng có nghĩa vụ chứng minh mình vơ tội. Dù bị can, bị cáo
không cung cấp chứng cứ, không chứng minh được sự vơ tội của mình thì cơ quan tiến
hành tố tụng cũng khơng thể dựa vào đó để kết tội họ. Trong khi đó, trong TTDS
việc cung cấp chứng cứ, chứng minh vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự 17.
Dưới góc độ của pháp luật TTDS, quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của
đương sự được hiểu như hoạt động tố tụng dân sự của chủ thể trong việc phát hiện,
ghi nhận, thu giữ, bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theo một trình
tự thủ tục mà pháp luật quy định.
1.2.2
Nguồn, thu thập, đánh giá, bảo quản, bảo vệ chứng cứ trong vụ án
dân sự
Thứ nhất, nguồn chứng cứ trong vụ án dân sự:
Chứng cứ chỉ có thể hình thành và được thu thập từ những nguồn nhất định.
Nguồn của chứng cứ là hình thức tồn tại, chứa đựng chứng cứ từ đó rút ra các chứng
cứ, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị chứng minh của mỗi loại chứng
cứ. Bất kì loại chứng cứ nào cũng phải tồn tại trong một nguồn chứng cứ nhất định,
nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào đó thì nhất thiết trong
đó sẽ chứa đựng chứng cứ. Do đó, khơng được đồng nhất nguồn chứng cứ với chứng
cứ, vì như thế sẽ phạm sai lầm trong đánh giá, sử dụng.
Ví dụ: Biên bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng cứ, nhưng có
trường hợp tồn bộ lời khai đó là gian dối, bịa đặt cũng khơng được coi là chứng cứ
của vụ án.
Hình thức tồn tại, chứa đựng chứng cứ hình thành từ các nguồn nhất định.
Theo điều 94 BLTTDS 2015, nguồn chứng cứ bao gồm: “Các tài liệu đọc được, nghe
được, nhìn được, dữ liệu điện tử; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của
người làm chứng; kết luận giám định; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Kết quả
17
Luật gia Tưởng Duy Lượng, Pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, trang 169.
18
định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do
người có chức năng thành lập; Văn bản cơng chứng, chứng thực; Các nguồn khác mà
pháp luật có quy định”.
Ngồi 8 nguồn chứng cứ quy định tại điều 82 BLTTDS 2004 sửa đổi năm
2011, BLTTDS 2015 bổ sung thêm các nguồn sau: Dữ liệu điện tử, Văn bản ghi nhận
sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng, chứng thực.
Trên cơ sở điều 82 BLTTDS 2004, sửa đổi 2011, điều 94 BLTTDS 2015 đã bổ sung
khoản 1, khoản 8 và khoản 9. Cụ thể như sau:
Một là, các tài liệu đọc được nội dung là những loại tài liệu khác nhau mà
thông qua hành vi nhìn của con người để xác định nội dung của tài liệu. Thơng tin đó
phải rõ ràng, có tính xác thực liên quan tới vụ án, đúng theo quy định của pháp luật và
các tài liệu khác không thể đọc, nghe, nhìn thì pháp luật khơng thừa nhận18. Các tài
liệu đọc được, nhìn được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao cơng chứng, chứng
thực hợp pháp do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản
chính là bản gốc hoặc bản dùng làm cơ sở lập ra các bản sao đều có hiệu lực pháp luật.
Hai là, tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ phải xuất trình
kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan
tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu đó có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng
ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh, USB, thẻ nhớ, ổ đĩa vi tính,.. nếu đương sự khơng
xuất trình được các văn bản nêu trên thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự
giao nộp không được coi là chứng cứ19.
Ba là, vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc thể
hiện bằng những hình dáng, kích thước, tính năng, cơng dụng nhất định. Các vật
chứng phải là những vật cụ thể, thể hiện nội dung phải gắn liền với những tình tiết
cần phải chứng minh, sử dụng được trong hoạt động chứng minh 20. Vật chứng cũng là
một nguồn chứng cứ, nó có thể chứa đựng chứng cứ. Khi thu thập vật chứng, Thẩm
phán phải lập biên bản miêu tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính của sự vật, đặc
18
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 213
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 15
20
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 213
19
19
biệt các dấu vết thể hiện trên vật chứng đó. Đối với vật khơng di chuyển được thì phải
xem xét tại chỗ, vật mau hỏng phải xem xét kịp thời và phản ánh đầy đủ trong quá
trình xem xét bằng biên bản, chụp hình, ghi hình,...21
Bốn là, lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng là hình thức thể
hiện ý chí của đương sự, người làm chứng về các vấn đề liên quan đến vụ án dân sự
mà Tòa án đang giải quyết. Lời khai của đương sự thường thể hiện ở hai dạng là lời
khai về tình tiết, sự kiện, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, vi phạm; lý lẽ liên quan
đến việc đề xuất yêu cầu, phản bác yêu cầu mà họ đưa ra khi tham gia tố tụng. Dạng
thứ hai là lời thừa nhận của đương sự. Là việc đương sự khai nhận một hoặc một số
tình tiết, trách nhiệm của mình đối với vụ án dân sự. Tuy nhiên, lời thừa nhận của
đương sự sẽ không được chấp nhận nếu không đảm bảo sự tự nguyện22.
Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng nếu được ghi bằng văn
bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo
đúng thủ tục như đã nêu tại khoản 2 điều 95 hoặc khai bằng lời tại phiên tịa thì được
coi là chứng cứ.
Như vậy, phương tiện ghi nhận lại chứng cứ so với trước đã được mở rộng
hơn, nó phản ánh sự ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong cuộc sống thường
ngày của người dân cũng như đời sống pháp lí trong xã hội hiện đại. Đây là một thuận
lợi cho các bên đương sự trong quá trình ghi nhận lại các sự kiện, các tình tiết có giá
trị làm sáng tỏa sự thật, chứng minh cho các yêu cầu, phản tố của mình.
Năm là, kết luận giám định của giám định viên là kết quả sử dụng kiến thức,
phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận những vấn đề có
liên quan đến vụ án do người giám định thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến
hành tố tụng, chỉ được coi là chứng cứ nếu vụ án giám định đó được tiến hành theo
đúng thủ tục do pháp luật quy định. Kết luận giám định có vai trò quan trọng trong
hoạt động chứng minh khi các chủ thể chứng minh cần sử dụng các kiến thức chuyên
môn hoặc kiến thức cần thiết để giải quyết vụ án dân sự. Tuy vậy, kết luận giám định
cũng có thể sai lầm hoặc gian dối, do đó, kết quả giám định có thể giám định lại hoặc
giám định bổ sung. Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội
21
22
Luật gia Tưởng Duy Lượng, Pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, trang 174
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 214
20
dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên
quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó. Việc giám định lại
được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có
nghi ngờ về kết quả giám định hoặc mâu thuẫn giữa các kết luận giám định về cùng
một vấn đề giám định, việc giám định lại có thể do người đã giám định trước đó hoặc
do người giám định khác thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng23.
Sáu là, biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ là văn bản do chủ thể tiến
hành tố tụng lập với sự chứng kiến của những chủ thể liên quan tại nơi có đối tượng
cần xem xét, thẩm định24. Ngồi việc nội dung đó phản ánh đúng sự thật của vụ án
dân sự, đồng thời về mặt hình thức, thủ tục đó phải được tiến hành theo đúng các quy
định pháp luật.
Bảy là, kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản là văn bản xác định giá
trị tài sản của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc này chỉ
được tiến hành khi giữa các bên tranh chấp không thống nhất về giá trị của tài sản và
phải được xác định bằng một cơ quan chuyên môn nhất định được quy định cụ thể tại
điều 105 BLTTDS 2015.
Tám là, Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ
liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức
tương tự theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử cũng được coi là chứng cứ
trong vụ án.
Chín là, văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người chức năng lập
tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập biên bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
được tiến hành theo đúng thủ tục pháp luật.
Mười là, văn bản công chứng, chứng thực là một trong những chứng cứ nếu
thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những văn bản khi đương sự khơng nộp
bản gốc cho Tịa án làm chứng cứ mà nộp bản photo hoặc sao chép buộc phải cơng
chứng, chứng thực văn bản đó theo đúng quy định của pháp luật mới được công nhận.
23
24
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 215
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 215
21
Thứ hai, thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự:
Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Lẽ
đó, đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự phải tiến hành thu thập chứng cứ cung cấp cho Tòa án nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. Tịa án cũng tham gia vào việc thu thập chứng cứ nhưng vị
trí, vai trị của Tịa án trong hoạt động chứng minh có điểm khác so với các chủ thể
khác. Việc thu thập chứng cứ của Tịa án chỉ mang tính chất hỗ trợ đương sự.
Thu thập theo như từ điển tiếng việt là động từ tìm kiếm, góp nhăt, tập hợp
lại. Hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thế tìm kiếm,
phát hiện, thu nhận các thơng tin, tình tiết, sự kiện để làm căn cứ bảo vệ quyền lợi cho
chính mình. Về ngun tắc, khi tham gia tố tụng, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, do vậy các
đương sự phải có nghĩa vụ thu thập chứng cứ cho Tịa án. Việc thu nhập chứng cứ
ngồi đương sự cung cấp thì Tịa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để
thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể thu thập được hoặc có u
cầu25.
Ngồi ra, trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cũng có quyền thu thập
chứng cứ. Tuy nhiên, các biện pháp mà Viện kiểm sát sử dụng để thu thập chứng cứ
được giới hạn trong phạm vi yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm26. Với quy định tại khoản 4 điều 97 BLTTDS 2015 thì trừ
giai đoạn sơ thẩm, Viện kiểm sát khơng có quyền thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng
Viện kiểm sát có quyền tham gia các phiên tịa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa
án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản cơng, lợi ích cơng
cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc một bên đương sự là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về thể chất, tâm thần được quy định rõ tại điều 7 BLTTDS 2015.
Thu thập chứng cứ của đương sự là việc mà đương sự có nghĩa vụ phải tự
mình thu thập, bảo quản, cất giữ chứng cứ. Trường hợp chứng cứ do cá nhân, cơ quan
25
Lê Thị Thanh Tâm(2015), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS 2015, Luận
văn thạc sĩ luật học, trang 22.
26
Khoản 6, điều 97 BLTTDS 2015.
22
tổ chức khác đang lưu giữ, quản lí thì đương sự có quyền yêu cầu các chủ thể này
cung cấp. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cá nhân, cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình
đang lưu giữ, quản lí khi có u cầu của đương sự và phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc cung cấp tài liệu chứng cứ đó. Nếu chủ thể này khơng cung cấp
được thì phải thơng báo bằng văn bản cho đương sự biết và nêu rõ lí do của việc
khơng cung cấp tài liệu, chứng cứ đó. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng tất cả
các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn khơng thể tự mình thu thập được
thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ27.
Thu thập chứng cứ của Tòa án là các hoạt động thu thập chứng cứ do Thẩm
phán có quyền chủ động tiến hành các biện pháp bao gồm: Lấy lời khai của đương sự,
người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét thẩm định tại chỗ; ủy thác thu
thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu
đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ án dân sự; xác
minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú và các biện pháp khác theo
quy định của BLTTDS 2015:
Một là, lấy lời khai của đương sự: Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của
đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng
hoặc đương sự không thể tự viết được. Đương sự là người chưa đủ 6 tuổi, hoặc người
từ đủ từ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi, hoặc người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được
tiến hành lấy lời khai khi có người đại diện hợp pháp. Thẩm phán lấy lời khai tại Tịa
án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tịa án.
Biên bản phải có chữ kí của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của
Tịa án thì mới có hiệu lực pháp luật28.
Hai là, lấy lời khai của người làm chứng: Thủ tục lấy lời khai của người làm
chứng được tiến hành như việc lấy lời khai của đương sự. Theo như yêu cầu của
đương sự, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại Tịa án hoặc ở
ngồi Tịa án. Trước khi lấy lời khai của người làm chứng, thẩm phán phải giải thích
27
28
Trường đại hoc Luật TP.HCM, Tài liệu học tập Luật tố tụng dân sự, trang 224
Điều 98 BLTTDS 2015
23