Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

de tai ly luan chinh tri

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.18 KB, 22 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>MỤC LỤC PHẦN. NỘI DUNG. TRANG. Mục lục. 1. Tài liệu tham khảo. 2. PHẦN THỨ NHẤT – ĐẶT VẤN ĐỀ. 3. 1. Lý do chọn đề tài. 3. 2. Mục đích nghiên cứu.. 4. 3. Giới hạn phạm vi của đề tài. 4. 4. Phương pháp nghiên cứu. 4. 5. Kết cấu đề tài. 5. PHẦN THỨ HAI - NỘI DUNG. 6. I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu.. 1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. 2. 7. Thực trạng tình hình chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. 2.1. Đặc điểm tình hình. 2.2. Thực trạng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. III. 6. Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. II. 6. 10 10 10. Mục tiêu, phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. 16. trong thời gian tới 3.1. Mục tiêu. 16. 3.2. Phương hướng. 16. 3.3. Giải pháp. 17. PHẦN THỨ BA – KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ. 21. Kết luận. 21. 1.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> 2. Kiến nghị. 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, XI . 2. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006 3. Tài liệu học tập nghị quyết TW 2 (Khoá VIII) của Đảng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 1998). 4. Luật giáo dục (sửa đổi) năm 2005. 5. Điều lệ trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có nhiều cấp học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT năm 2011. 6. Nhiệm vụ năm học 2011 – 2012 của Phòng GD&ĐT huyện Mộc Châu..

<span class='text_page_counter'>(3)</span> PHẦN THỨ NHẤT – ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Chúng ta là những người đang sống và làm việc trong một xã hội có những thay đổi như vũ bão về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Đất nước, con người Việt Nam đang thay đổi từng ngày ở mọi lĩnh vực, trong đó có ngành giáo dục & đào tạo. Vì vậy, để có được những định hướng, nhiệm vụ cụ thể thì cũng cần có được nguồn nhân lực có đầy đủ đức và trí. Có ý chí, năng lực và sự nhiệt tình ở những công việc mà họ được đảm nhận. Nhà trường là nơi đào tạo nhân lực phát triển nhân tài. Để có nhân tài góp phần vào xây dựng đất nước đòi hỏi hoạt động dạy và học giữ vai trò nòng cốt. Để hoạt động dạy và học theo kịp xu thế trên toàn cầu nói chung và Sơn La nói riêng đòi hỏi người quản lý phải có năng lực sư phạm, có trình độ chuyên môn vững chắc, có uy tín, nghệ thuật quản lý. Nếu quản lý chỉ đạo tốt đúng theo yêu cầu kế hoạch đề ra thì chắc chắn hiệu quả giáo dục được nâng lên. Chúng ta đã biết trong bất kỳ một lĩnh vực nào, nếu chuyên môn nghiệp vụ bị hạn chế thì hiệu quả cũng sẽ tương tự. Đối với người giáo viên, ngoài vấn đề về kiến thức đã được trang bị trong các nhà trường sư phạm ra thì còn đòi hỏi mỗi người giáo viên phải thường xuyên bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ; đặc biệt là giai đoạn hiện nay, khi Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm tới giáo dục như chính sách đối với giáo viên, cơ sở vật chất được nâng lên không ngừng. Phương pháp giáo dục phải đảm bảo phát huy được tính tích cực, tự giác, tự động sáng tạo của học sinh phù hợp với từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh..

<span class='text_page_counter'>(4)</span> Trong thực tế về công tác chuyên môn ở trường THCS Hua Păng còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên phần lớn trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề, một số giáo viên năng lực còn hạn chế, chưa vận dụng được tốt các phương pháp dạy học tích cực khi lên lớp, nhiều giáo viên chưa hiểu hết được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, chất lượng chuyên môn trong nhiều năm liền không được nâng lên. Bên cạnh đó cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn: Phòng học xây dựng kiên cố không đủ, học sinh phải học nhà tạm; bàn ghế phục vụ học tập không đúng tiêu chuẩn, rất khó khăn trong việc sử dụng đồ dùng thực hành, thí nghiệm; không có các phòng chức năng phục vụ cho công tác dạy và học; trình độ học sinh không đồng đều, đa số là con em dân tộc ở cách xa trường. Đứng trước thực trạng trên của nhà trường. Là người hiệu trưởng, tôi không khỏi băn khoăn, lo lắng và suy nghĩ làm thế nào để quản lý chuyên môn của trường mình được tốt, khắc phục những nhược điểm của năm học trước. Tiếp bước tiến lên để đạt được những mong muốn của mình. Vì lý do trên tôi đã tiến hành nghiên cứu và khảo sát: "Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường THCS Hua Păng - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La". 2. Mục đích nghiên cứu. Tìm hiểu cơ sở lý luận của quản lý chất lượng giảng dạy. Tìm hiểu thực trạng quản lý chất lượng giảng dạy ở trường THCS Hua Păng - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La. Đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả chất lượng giảng dạy ở trường THCS Hua Păng - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay. 3. Giới hạn phạm vi của đề tài. Đề tài này chỉ nghiên cứu các giải pháp quản lý chất lượng giảng dạy ở trường THCS Hua Păng - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La trong năm 2010 – 2011 và 2011 – 2012, tiếp tục phát triển trong các năm học sau. 4. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế trình độ chính trị, năng lực chuyên môn, chất lượng giảng dạy, vấn đề tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên trong nhà trường. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động giáo dục..

<span class='text_page_counter'>(5)</span> - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp thống kê. 5. Kết cấu đề tài. Đề tài được chia làm 3 phần: Phần thứ nhất: Đặt vấn đề Phần thứ hai: Nội dung I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. II. Thực trạng tình hình chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. III. Mục tiêu, phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu trong thời gian tới. Phần thứ ba: Kết luận, kiến nghị..

<span class='text_page_counter'>(6)</span> PHẦN THỨ HAI - NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. 1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong hệ thống các trường học. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ chức quản lý… Giáo dục sẽ giúp cho mọi người có một vốn liếng về lịch sử, văn hoá của dân tộc Việt Nam và thế giới, mà nếu không có nó thì sẽ không giữ vững được nền độc lập dân tộc, không thể tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”. Đi đôi với việc coi trọng giáo dục, Người rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ thầy giáo. Theo Hồ Chí Minh: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Người đánh giá rất cao vị trí, vai trò đội ngũ giáo viên: “Là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt, anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh, phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc”. Do đó phải xây dựng đội ngũ những thầy giáo tốt, xứng đáng với vị trí người thầy. Đó là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu chăm sóc, giáo dục học sinh. Trong hệ thống quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm về phát triển giáo dục và đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng. Đảng ta luôn khẳng định vai trò trung tâm, đặc biệt quan trọng của giáo dục và đào tạo trong công cuộc Đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Tại Đại hội này, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội trong Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội đã đề ra mục tiêu của giáo dục là “hình thành và phát triển toàn diện nhân cách.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội” Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đưa ra định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ quá độ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” 2. Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định sự nghiệp và chất lượng giáo dục. Trong những năm gần đây, điều kiện giáo dục và đời sống giáo viên được cải thiện, những đổi mới trong chính sách đối với giáo sinh đã thu hút ngày càng nhiều học sinh giỏi vào các trường sư phạm, mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên là những yếu tố tác động tích cực đến chất lượng đội ngũ nhà giáo. Luật giáo dục năm 2005 chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đã được nâng dần, từ gần 11% năm 1996 lên 20% tổng chi ngân sách Nhà nước vào năm 2010. Đây là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục. Nhiều địa phương, bên cạnh ngân sách trung ương, còn có thêm từ ngân sách địa phương đầu tư cho giáo dục và đã có nhiều cố gắng cải tiến việc phân bổ, điều hành ngân sách; đồng thời huy động nguồn lực của nhân dân để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường, bảo đảm.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> chất lượng dạy và học. Đóng góp của nhân dân cho giáo dục là một khoản đầu tư đáng kể, đáp ứng khoảng 30- 40% chi phí hàng năm của ngành Giáo dục. Các nguồn vốn ODA và hỗ trợ không hoàn lại từ nước ngoài cũng đã được bổ sung cho phát triển giáo dục. Luật giáo dục năm 2005 đã quy định: “Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học”. Việc nâng cao chất lượng cũng là một nhiệm vụ của người giáo viên được quy định trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học: “Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh”. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Mộc Châu: “Tập trung chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học, tạo ra sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường phổ thông có cấp THCS. Tích cực triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học; chú trọng bồi dưỡng năng lực giáo dục đạo đức, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm đánh giá; quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán; chú trọng tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động của tổ bộ môn; nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc tổ chức, phối hợp giáo dục toàn diện quản lý học sinh”. Đối với nhà trường, Ban giám hiệu phải tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch chuyên môn, bám sát kế hoạch đã được duyệt. Đặc biệt chú ý đến thực hiện chương trình các môn học, thời khóa biểu, thời gian ra vào lớp, chỉ đạo thực hiện các loại hồ sơ sổ sách theo đúng quy định, chú ý quan tâm đến giáo án, đặc biệt là chất lượng bài giảng. Chuyên môn nhà trường lên kế hoạch từ đầu tháng. Các tổ chuyên môn dựa vào kế hoạch của nhà trường, chuyên môn trường, thực tế của tổ để lên kế hoạch cho tổ. Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 lần/tháng vào chiều thứ 5 tuần 1 và tuần 3. Hội đồng giáo dục phải thường xuyên sinh hoạt và có nội dung sát với yêu cầu công.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> việc thực tế trong từng thời điểm. Ban giám hiệu phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn kịp thời những sai phạm, đồng thời động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nề nếp chuyên môn của giáo viên. Mỗi công việc đều được chuẩn bị, triển khai chi tiết, phải có kế hoạch dài hạn để có thời gian thực hiện, trong các công việc đều phải phân công người phụ trách cụ thể để đôn đốc, kiểm tra, báo cáo kịp thời những vướng mắc trong quá trình thực hiện, để Ban giám hiệu giải quyết, điều chỉnh kịp thời, giúp giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn của mình..

<span class='text_page_counter'>(10)</span> II. Thực trạng tình hình chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. 2.1. Đặc điểm tình hình: 2.1.1. Đặc điểm chung của xã Hua Păng - Mộc Châu - Sơn La Hua Păng là một xã vùng 2 khó khăn, có địa hình chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, tài nguyên thiên nhiên ít, cách xa trung tâm huyện, đời sống của bà con nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp; người dân tộc thiểu số chiếm đại đa số, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Xã có diện tích khá rộng trải dài trên 10 bản, song phần lớn là đồi núi dân cư sống rải rác, phân bố không đều, việc đi lại ở một số bản còn gặp nhiều khó khăn; học sinh đi học vất vả nhất là vào mùa lũ. Trình độ dân trí của đại đa số nhân dân còn thấp, nhận thức của nhiều phụ huynh còn hạn chế chưa hiểu rõ vai trò giáo dục trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Vẫn còn phó mặc cho nhà trường – Thầy cô về chất lượng hiệu quả đào tạo cũng như giáo dục quản lí học sinh... Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của GV trong quá trình tự học hỏi nâng cao chất lượng chuyên môn bản thân. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và của bản thân các CBGV còn nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng phần nào đến các nhu cầu học hỏi, trao đổi giao lưu với các trường, các vùng có điều kiện phát triển mạnh. Công tác truyền thông về giáo dục đã có thực hiện nhưng hiệu quả không cao, chưa đi vào thực tế cuộc sống của nhân dân, người dân chưa hiểu nhiều và chưa ủng hộ nhiều cho công tác giáo dục trên địa bàn xã. 2.1.2.Đặc điểm chung của nhà trường Về cơ cấu tổ chức: - Bước vào năm học 2011-2012, nhà trường có 12 lớp với 391 học sinh. - Nhà trường chia làm 3 tổ ; có 1 chi bộ Đảng ; 1 chi đoàn và 1 tổ chức công đoàn cơ sở. Tổng số CB,GV, CNV: 29. Trong đó: + Nữ: 17; Dân tộc: 05; Nữ dân tộc: 03. + Số CB, GV là người ở địa phương sở tại: 04. + Số CB, GV thuộc diện tăng cường, luân chuyển có thời hạn: 06.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> - Tổng số Đảng viên 15 chia ra: Nữ: 06; Dân tộc: 02 ; Nữ dân tộc: 1. Về cơ sở vật chất: - Nhà trường có 12 phòng học. - Tất cả các phòng chức năng phục vụ cho việc giảng dạy đều chưa có, thiết bị thí nghiệm không có phòng chuyên biệt để sử dụng. 2.2. Thực trạng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu. Ngay từ những ngày đầu tháng 9 của năm học, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng của nhà trường qua các năm học và thu được kết quả như sau: 2.2.1. Những việc làm được. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn song trong những năm học qua dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT, sự quan tâm của chính quyền địa phương trực tiếp là xã Hua Păng, trường THCS Hua Păng đã quan tâm rất lớn đến việc nâng cao chất lượng hai mặt giáo dục trong đó có việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên. Số lượng học sinh yếu kém có giảm, số học sinh khá giỏi đã tăng theo từng năm, số tiết dạy của giáo viên đánh giá yếu giảm. Nguyên nhân đạt được: Từ cuối các năm học căn cứ vào thực tế giáo viên và quy mô trường lớp dự kiến năm học mới nhà trường xây dựng kế hoạch năm học tiếp theo, phân công chuyên môn, cử giáo viên tham gia lớp bồi dưỡng hè. Do vậy ngay từ những ngày đầu của năm học hoạt động chuyên môn đã được tiến hành và duy trì tốt. Trong năm học mặc dù có nhiều diễn biến gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy như: Phân phối chương trình thay đổi theo từng tuần, giáo viên nghỉ thai sản ở các thời điểm khác nhau trong năm, sự luân chuyển cán bộ giáo viên ở các thời điểm khác nhau song nhà trường vẫn luôn tổ chức thực hiện đảm bảo chương trình và kế hoạch giảng dạy bằng cách tiến hành phân công lại chuyên môn, sắp xếp lại thời khoá biểu kịp thời. Tổ chức học bù buổi chiều ngay sau mỗi lần nghỉ dạy. Từ đầu năm học nhà trường đã xây dưng nội quy, quy chế chuyên môn dựa trên quy chế của Bộ GD&ĐT, Sở Giáo dục - Đào tạo Sơn La cũng như của phòng GD& ĐT Mộc Châu thống nhất về nội dung hình thức sinh hoạt chuyên môn ra vào lớp, xây dựng kế hoạch công tác, cách kiểm tra quá trình.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> thực hiện đối với các tổ và giáo viên trong toàn trường. Ban giám hiệu nhà trường đã thống nhất các nội dung cam kết thi đua, tiêu chí thi đua phấn đấu thống nhất nội dung sinh hoạt tổ, nhóm sinh hoạt chuyên môn, thống nhất hình thức thi đua khen thưởng đồng thời thống nhất tiêu chí thực thi kỉ luật đối với giáo viên nào vi phạm quy chế chuyên môn. Quy định các đầu sổ; quy định ghi chép nội dung, ghi chép trong từng loại sổ sách, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo đúng quy định 2lần/tháng, kiểm tra, đánh giá xếp loại hồ sơ sổ sách. Trong quá trình thực hiện, nhà trường có kế hoạch, yêu cầu cụ thể cho từng tháng, tuần được triển khai tới toàn thể giáo viên thông qua họp hội đồng, giao ban. 2.2.2. Những mặt còn hạn chế: Mặc dù đã có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp này không cao, không động viên, khuyến khích được giáo viên lòng nhiệt tình, sự hăng say với nghề, chưa coi trường là nhà, chưa có sự cố gắng khắc phục khó khăn để vươn lên dẫn đến những hạn chế trong chất lượng chuyên môn của nhà trường không được giải quyết triệt để. Qua các đợt thanh tra của phòng giáo dục, đoàn thanh tra đã có những kết luận về các biện pháp quản lý chuyên môn nhà trường là: "Ban giám hiệu đã xây dựng được các biện pháp quản lý chất lượng chuyên môn nhà trường. Tuy nhiên, các biện pháp này còn mang tính hình thức, hời hợt, chưa sát với tình hình thực tiễn cụ thể, hiệu quả không cao, chưa đáp ứng được với những yêu cầu của công tác quản lý nhà trường". Kết quả đánh giá của các đợt thanh, kiểm tra của phòng giáo dục; của nhà trường trong các năm học gần đây: * Về phía giáo viên: Bảng 1: Chất lượng đội ngũ giáo viên từ 2008-2009 đến 2010-2011 Năm học. Tổng số GV. 2008-2009 2009-2010. 28 28. Kết quả giảng dạy Chưa Giỏi Khá ĐYC ĐYC (%) (%) (%) (%) 10,7 35,7 35,7 17,9 14,3 39,2 28,6 17,9. 2010-2011. 26. 15,4. * Về phía học sinh:. 38,4. 30,8. 15,4. Kết quả hồ sơ Giỏi (%). Khá ĐYC (%) (%). 14,3 17,9. 32,1 32,1. 35,7 32,1. Chưa ĐYC (%) 17,9 17,9. 15,4. 38,4. 30,8. 15,4.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> Bảng 2: Chất lượng hai mặt giáo dục từ 2008-2009 đến 2010-2011. Năm học. Tổng số. 2008-2009 424 2009-2010 413 2010-2011 402 * Nhận xét:. Học lực Giỏi (%). Khá (%). 0,47. 16,5. 0,48 0,5. TB (%). Hạnh kiểm Yếu (%). Tốt (%). Khá (%). TB (%). Yếu (%). 63,22 19,81. 39,6. 44,3. 13,5. 2,6. 16,7 63,93 18,89 41,41 44,79 11,62 14,93 65,67 18,9 41,04 44,78 11,94. 2,18 2,24. Căn cứ vào bảng thống kê chất lượng trên, chúng ta có thể nhận thấy trong nhiều năm liền chất lượng chuyên môn của nhà trường gần như không được nâng lên tình trạng học sinh học yếu, bỏ học nhiều, số lượng học sinh giỏi rất ít, trình độ giáo viên không được nâng lên, chất lượng chuyên môn hạn chế. Đi vào tìm hiểu nguyên nhân yếu kém của các biện pháp này tôi thấy có một số vấn đề cơ bản sau: Nguyên nhân chủ quan: Ban giám hiệu đã có tuyên truyền tư tưởng chính trị với cán bộ giáo viên trong trường, song chỉ mang tính hình thức một chiều trên các buổi họp hội đồng mà chưa đi sâu vào tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của anh chị em giáo viên, chưa nắm bắt được điều kiện hoàn cảnh của từng người trong trường. Chưa tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về nghiên cứu, tìm hiểu quán triệt chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS nói riêng, nhiều khi chỉ yêu cầu tự nghiên cứu một cách chung chung, các hoạt động mang tính chất tuyên truyền còn nghèo nàn về nội dung, ít có sự phối kết hợp với các tổ chức đoàn thể. Công tác quản lý của Ban Giám hiệu chưa chưa chặt chẽ, không sát sao, thiếu sự kiểm tra đánh giá trong quá trình thực hiện của cán bộ giáo viên. Bên cạnh đó không có sự phân công trách nhiệm cho các tổ, các cán bộ giáo viên một cách cụ thể, rõ ràng theo đúng vị trí, vai trò. Sử dụng chưa đúng người, đúng việc. Quá trình quản lý cách soạn bài của giáo viên còn yếu kém: không đưa ra được quy định cụ thể mẫu cho một giáo án, việc kiểm tra sơ sài, không đánh giá chặt chẽ và đưa ra những nhận xét, góp ý hiệu quả cho việc soạn bài của giáo viên..

<span class='text_page_counter'>(14)</span> Chương trình dạy học là pháp chế bắt buộc người dạy phải thực hiện một cách đầy đủ tuy nhiên người cán bộ quản lý lại nhiều khi buông lỏng, để giáo viên tự do thực hiện, thiếu sự kiểm tra một cách khoa học, hệ thống, hiệu quả. Một hiện tượng không thể tránh khỏi là có những giáo viên không tận tụy với công việc đã cắt xén chương trình, dạy dồn, dạy ghép ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chung của nhà trường. Việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn chưa sáng tạo, chưa thu hút được mọi người tham gia hiệu quả, chủ yếu dừng lại ở việc kiểm tra hồ sơ, sổ sách. Đội ngũ giáo viên không đồng đều về tuổi đời và tuổi nghề, nhiều đồng chí đang nuôi con nhỏ, gia đình gặp nhiều khó khăn nên ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Sự thiếu nhiệt huyết của một số giáo viên còn chưa thực sự tìm tòi, nghiên cứu, chưa đề cao vai trò tự học, tự bồi dưỡng, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng dạy học chỉ dừng lại ở mức độ trung bình; chưa có ý thức vươn lên. Đa số giáo viên nhà ở xa trường nhưng vẫn đi lại hàng ngày do đó tâm lý tập trung cho công tác chuyên môn còn hạn chế, một số đồng chí không yên tâm công tác, nhất là những đồng chí giáo viên luân chuyển đến có thời hạn. Nguyên nhân khách quan: Sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của nhà nước còn hạn chế dẫn đến cơ sở vật chất nhà trường thiếu thốn: không có các phòng chức năng (phòng thí nghiệm, phòng thư viện), xưởng trường, vườn trường, máy chiếu, khu tập thể dục thể thao chưa có, việc dạy các chủ đề tự chọn, phụ đạo HS yếu, bồi dưỡng HS giỏi còn gặp nhiều khó khăn. Đa số HS là con em các dân tộc Thái, Dao nhận thức còn chậm, chưa đồng đều. Hoàn cảnh kinh tế gia đình phần lớn còn gặp nhiều khó khăn, số hộ nghèo nhiều, địa bàn xã rộng, đường đi lại khó khăn, chưa có nhà bán trú cho HS ở xa đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng học tập. Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã có những sự quan tâm nhất định song chưa có những biện pháp cụ thể, hiệu quả trong công tác tuyên truyền, vận động người dân, chỉ đạo các ban quản lý bản làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Nhận thức của nhiều phụ huynh còn hạn chế chưa hiểu rõ vai trò giáo dục trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Vẫn còn phó mặc cho nhà trường – Thầy cô về chất lượng hiệu quả đào tạo cũng như giáo dục quản lí học sinh. Vẫn còn một số phong tục tập quán lạc hậu, nạn tảo hôn, nghiện hút, cờ bạc rải rác xảy ra trên các bản của xã, việc tiếp thu văn hóa thành thị thiếu chọn lọc của một bộ phận thanh niên đua đòi, ham chơi đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục.. III. Mục tiêu, phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng – Huyện Mộc Châu trong thời gian tới..

<span class='text_page_counter'>(16)</span> 3.1. Mục tiêu. Trong tình hình phát triển giáo dục hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ đạt chuẩn, có năng lực chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, mới có thể đảm đương được nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục đặt ra. Việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Vì vậy, nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất và trí tuệ,"thầy ra thầy, trò ra trò", thầy giỏi tất sẽ có trò giỏi. Nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên là quá trình thường xuyên, liên tục, gắn với công việc hàng ngày và được quyết định bởi sự cố gắng học hỏi của mỗi giáo viên, dưới sự giúp đỡ của đồng nghiệp và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan, sẽ soi sáng cho việc tìm ra các thực trạng của đội ngũ giáo viên nhà trường, để từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp có tính khả thi, nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng - Mộc Châu, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp Giáo dục&Đào tạo. 3.2. Phương hướng. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường người cán bộ quản lý cần làm tốt các nội dung sau: Xây dựng đội ngũ giáo viên có tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, nhiệt huyết với nghề. Lấy việc nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng dạy học là giải pháp then chốt. Trong đó làm tốt công tác tự học, tự bồi dưỡng và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên một cách cụ thể; thực hiện nghiêm túc kiểm tra đánh giá, đảm bảo chất lượng thực chất; thực hiện nghiêm túc yêu cầu dạy học theo hướng bám sát chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, dạy theo đối tượng, vùng miền trong đó chú trọng phân loại học sinh để có phương pháp dạy phù hợp. Đẩy mạnh các hoạt động bồi dưỡng tại trường, làm tốt công tác tự học, tự bồi dưỡng để tự hoàn thiện bản thân, tích cực tham gia các lớp học bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ..

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Dựa trên cơ sở phân loại (phân loại theo trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức) có kế hoạch để bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Thường xuyên theo dõi đánh giá khách quan, đúng mức kết quả công tác của của từng cán bộ, giáo viên, tạo điều kiện cho họ phát huy hết khả năng của mình trong công tác đạt hiệu quả cao. 3.3. Giải pháp. 3.3.1. Giải pháp thứ nhất: Nâng cao tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho giáo viên trong nhà trường: Chi ủy chi bộ, Ban giám hiệu, mà trước hết là Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường phải nắm chắc và hiểu sâu sắc những diễn biến tư tưởng, hoàn cảnh gia đình, những khó khăn, thuận lợi của từng giáo viên và thực hiện tốt một số công việc sau: Tích cực tổ chức cho cán bộ, giáo viên nghiên cứu, tìm hiểu quán triệt chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS nói riêng. Mỗi giáo viên phải thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Trước hết, phải làm tốt công tác tư tưởng; làm cho giáo viên hiểu sâu sắc mục đích cao cả của nghề, bởi nghề giáo không chỉ dạy chữ mà còn dạy đạo lý làm người cho học sinh; phải lấy nhân cách để giáo dục nhân cách. Thực hiện tốt Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"bằng các việc làm cụ thể. Tổ chức quán triệt quy định về đạo đức nhà giáo trong toàn thể cán bộ giáo viên nhà trường, các tổ chức chính trị trong trường thường xuyên giáo dục đạo đức nghề nghiệp đối với các thành viên trong tổ chức, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức giai cấp, truyền thống văn hóa, chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam gắn với quy định về đạo đức nhà giáo (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 16/4/ 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) và cuộc vận động ‘‘Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo’’ Tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia các hoạt động văn hoá, thi tìm hiểu truyền thống lịch sử, luật pháp, tham quan du lịch... để củng cố thêm tình yêu quê.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> hương, đất nước, giúp nâng cao nhận thức về vị trí, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên phối hợp, kết hợp với các tổ chức, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao. Từ đó giúp cho cán bộ giáo viên thêm đoàn kết, thêm yêu đời, yêu nghề, yêu trường hơn. 3.3.2. Giải pháp thứ hai: Tổ chức tốt các hoạt động bồi dưỡng đội ngũ tại nhà trường: Phải coi trọng việc học tập lý luận chính trị, quản lý nhà nước, cập nhật kịp thời Nghị quyết, chính sách, chỉ thị của Đảng, Nhà nước các cấp, coi đây là chìa khoá cho mọi cán bộ, giáo viên. Đề cao việc tự học, bồi dưỡng rèn luyện của mỗi cán bộ giáo viên, gồm: đẩy mạnh phong trào tự học tập nâng cao trình độ, năng lực và rèn luyện đạo đức cách mạng; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên về tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, phương pháp công tác của người cán bộ lãnh đạo. Nâng cao trình độ khả năng tổ chức thực tiễn, nắm bắt, xử lý các vấn đề nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý. Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với lãnh đạo các cấp có kế hoạch cử cán bộ quản lí, giáo viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về LLCT, kiến thức, kỹ năng quản lý giáo dục; Đối với giáo viên nhà trường chủ động cử giáo viên tham gia tập huấn các lớp bồi dưỡng thường xuyên tại huyện; thường xuyên dự giờ rút kinh nghiệm tìm ra cách dạy phù hợp với trình độ nhận thức và điều kiện thực tế của nhà trường với nhận thức của học sinh, tổ chức cho các giáo viên thường xuyên dự giờ thăm lớp tìm ra cách dạy phù hợp với điều kiện thực tế của trường, dạy các dạng bài kiểu bài tham gia rút kinh nghiệm tìm ra cách dạy hay tích cực, áp dụng vào thực tế dạy học của trường, qua đó các giáo viên có sự chuẩn bị bài tốt hơn, có dịp để trao đổi với đồng nghiệp về các vấn đề còn băn khoăn, khúc mắc trong cách thực hiện. Khuyến khích giáo viên nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng. Xây dựng kế hoạch cho giáo viên thực hiện tốt các yêu cầu của Thông tư 31/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 của Bộ GD&ĐT về chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> trung học cơ sở. Đối với bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên về kiến thức và phương pháp giảng dạy. Nhà trường liên hệ với các trường vùng I có chất lượng chuyên môn cao để giáo viên dự giờ học hỏi kinh nghiệm. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn CBQL, GV trung học theo tiêu chuẩn mới; Coi trọng việc đánh giá, xếp loại cán bộ, giáo viên theo từng năm học thực chất, công bằng. Tăng cường kỷ cương, nền nếp trong dạy học, chấp hành quy chế chuyên môn; đề cao trách nhiệm của người thầy trong kiểm tra và chấm điểm. Tham gia có hiệu quả các Hội thi chất lượng: Thi GV dạy giỏi cấp trường, thi đồ dùng dạy học; Tổ chức hội thảo “Đổi mới phương pháp giảng dạy” và hội thảo “công tác chủ nhiệm” đáp ứng yêu cầu thực tiển công tác giáo dục trên địa bàn. Có kế hoạch đăng ký, kiểm tra và xét duyệt các sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu ngay đầu năm học; Tiếp tục phối hợp với Công Đoàn trường để thi đua thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào thi đua "Hai tốt". Tổ chức có hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên bộ môn và bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục (bao gồm cả Tổ trưởng, phó tổ trưởng, cán bộ chủ chốt); bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm lớp. Triển khai thực hiện đánh giá CBQL và giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ chính sách cho cán bộ, giáo viên theo đúng quy định. Nhà trường khuyến khích giáo viên chưa có trình độ chuyên môn đạt chuẩn tham gia học tập để đảm bảo đạt chuẩn về trình độ chuyên môn. Thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng giáo viên cốt cán, đặc biệt là giáo viên trẻ, nhiệt tình, có năng lực. 3.3.3. Giải pháp thứ ba: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá: Ban giám hiệu chỉ đạo cho giáo viên dựa vào đặc điểm bộ môn, thực tế của nhà trường, trình độ nhận thức của học sinh. Từ đó, giáo viên tự nguyện đăng kí chỉ tiêu phấn đấu của từng môn do mình phụ trách. Tổ chức họp giao ban, họp hội đồng giáo dục định kỳ để quán triệt những nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên trong trường. Thực hiện “ Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, cá nhân phụ trách” mỗi Đảng viên là một người lãnh đạo. Qua Chi bộ Ban giám hiệu chỉ đạo các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên thực hiện tốt công việc nhà trường..

<span class='text_page_counter'>(20)</span> Quan tâm đến tâm tư tình cảm của giáo viên, giúp giáo viên tháo gỡ những khó khăn từ đó giáo viên toàn tâm toàn ý làm giáo dục. Phát huy vai trò đội ngũ Tổ trưởng, bởi đội ngũ Tổ trưởng chính là người thay mặt Ban giám hiệu giám sát chỉ đạo mọi hoạt động ở tổ. Làm tốt công tác thi đua khen thưởng, khen đúng kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc. Nghiêm khắc xử lý với những cán bộ giáo viên vi phạm quy chế chuyên môn, nội quy trường lớp. Ban giám hiệu phải phát huy vai trò của mình là người quản lý và lãnh đạo hoạt động của trường, do đó Ban giám hiệu phải thực sự đoàn kết, có tâm huyết với nghề, giàu tình thương với trẻ. Có lý luận soi đường, được đào tạo cơ bản sẽ tác động tích cực đến hiệu quả giáo dục. Công tác thanh kiểm tra đặc biệt được coi trọng, kiểm tra để đôn đốc đánh giá hoạt động của giáo viên thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiểm tra bằng nhiều hình thức: thường xuyên, đột xuất, kiểm tra chéo, định kỳ hàng tháng, Việc kiểm tra giờ lên lớp của giáo viên tập trung vào: - Việc chuẩn bị của giáo viên gồm giáo án và đồ dùng dạy học. - Việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, giáo dục tư tưởng, mối quan hệ giữa thầy và trò. - Sự tiếp thu bài của học sinh sau tiết học. Kiểm tra không phải với mục đích tìm ra cái sai của giáo viên để phê bình, chỉ trích, kỉ luật mà kiểm tra với mục đích uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những thiếu sót của giáo viên, hình thành trong đội ngũ giáo viên ý thức tự kiểm tra, tự đánh giá là chính. Kế hoạch thanh kiểm tra phải được xây dựng hàng ngày, hàng tuần, không kiểm tra tức không tham gia quản lý. Tập trung thanh kiểm tra có chiều sâu; thanh kiểm tra trực tiếp các hoạt động giáo dục và công tác dạy học trên lớp; hạn chế việc kiểm tra hồ sơ, nghe báo cáo một chiều.. PHẦN THỨ BA – KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ..

<span class='text_page_counter'>(21)</span> 1. Kết luận. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, việc quản lý chỉ đạo chuyên môn đối với người quản lý nói chung được xem như một phương thức làm cho những hoạt động được hình thành tốt, với những hiệu suất cao thông qua đối tượng quản lý của mình, sự nghiệp nghiên cứu khoa học giáo dục giúp chúng ta có cơ sở khoa học, óc tư duy và thực hành chỉ đạo. Qua nghiên cứu và khảo sát: "Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường THCS Hua Păng - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La" trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi nhận thấy: - Công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Păng - Mộc Châu với nội dung đổi mới phương pháp dạy học là hướng đi đúng đắn, tích cực đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo giáo viên, phụ huynh học sinh trong nhà trường. Thông qua việc bồi dưỡng giúp đội ngũ giáo viên có thêm nhận thức về tầm quan trọng của công tác tự học, tự bồi dưỡng. Họ nhận thức được rằng việc tự học tự bồi dưỡng là việc làm thường xuyên của mỗi nhà trường, mỗi giáo viên. - Đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng, chủ yếu trong nhà trường, là yếu tố quyết định đến sự nghiệp phát triển của nhà trường. Người quản lý phải coi việc bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình đào tạo. Qua việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên sẽ tạo điều kiện cho mỗi giáo viên ngày một nâng cao chất lượng giảng dạy (chuyên môn), Nói đến việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là việc làm đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người lãnh đạo trong nhà trường phải có tinh thần trách nhiệm, kỷ cương, phép tắc đối với mọi thành viên để họ thực sự là người giáo viên yên tâm, phấn khởi, tâm huyết với nghề, có kỷ luật, có chí tiến thủ vươn lên, tự giác trong công việc, xứng đáng là tấm gương về đạo đức, tự học, sáng tạo cho học sinh noi theo. 2. Kiến nghị. 2.1. Với UBND huyện Mộc Châu..

<span class='text_page_counter'>(22)</span> Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đảm bảo cho giáo viên yên tâm công tác, thuận lợi trong quá trình giảng dạy. Lựa chọn, đào tạo, bố trí giáo viên là người địa phương để đảm bảo sự gắn bó lâu dài, bền vững với sự nghiệp giáo dục của nhà trường. 2.2. Với Phòng GD&ĐT Mộc Châu. Cần chú trọng hơn nữa công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, tạo điều kiện cho các giáo viên vùng sâu có dịp giao lưu học hỏi các trường trung tâm, trường có chất lượng cao. Chọn những giáo viên có kinh nghiệm dạy những tiết chuyên đề để thống nhất phương pháp, đồng thời để giáo viên mới ra trường có điều kiện học hỏi. Đáp ứng đầy đủ, kịp thời các trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học. Tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ quản lý nhà trường được tham gia học tập các lớp lý luận chính trị, quản lý giáo dục... 2.3. Với UBND xã Hua Păng. Cần quan tâm hơn nữa tới công tác giáo dục của xã, tuyên truyền và làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hương ước bản, xã về tham gia hoạt động giáo dục. Hua Păng, ngày 19 tháng 10 năm 2012 NGƯỜI VIẾT. Lương Văn Linh.

<span class='text_page_counter'>(23)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×