ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LÊ THỊ HỒNG HIẾU
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LÊ THỊ HỒNG HIẾU
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Ngành: Luật Dân sự & Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Hồng Nhung
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ này là cơng trình nghiên cứu của
riêng tác giả và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng
Nhung. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa
công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Trong Luận văn có sử dụng trích dẫn
một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được
trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tác giả xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về nội dung Luận văn Thạc sĩ của mình. Trường Đại học Kinh tế - Luật
không liên quan đến những vi phạm tác giả, bản quyền do tác giả gây ra trong q
trình thực hiện (nếu có).
Tác giả
Lê Thị Hồng Hiếu
CÁC TỪ VIẾT TẮT
-
TNBTCNN: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
-
TTHS: Tố tụng Hình sự
-
NTHCV: Người thi hành cơng vụ
-
TNDS: Trách nhiệm dân sự
-
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự
-
BLDS: Bộ luật Dân sự
-
CQĐT: Cơ quan điều tra
-
VKS: Viện kiểm sát
-
TA: Tòa án
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................7
1.1. Lý do chọn đề tài ..............................................................................................1
1.2. Tình hình nghiên cứu .......................................................................................2
1.3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................4
1.4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................5
1.5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................5
1.6. Kết cấu đề tài ...................................................................................................6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ..........................................................7
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự ........................................................................................................................7
1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự
...................................................................................................................................10
1.3. Ý nghĩa của quy đinh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động tố tụng hình sự................................................................................................15
1.3.1. Đảm bảo những nguyên tắc của pháp quyền .................................................15
1.3.2. Đảm bảo quyền con người, quyền công dân ..................................................16
1.3.3. Nâng cao ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự ..............................................................................................................18
1.3.4. Bảo đảm quyền bình đẳng giữa Nhà nước với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
trong quan hệ bồi thường thiệt hại ............................................................................19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……….....………..……………………………………19
CHƯƠNG 2: CHỦ THỂ, CĂN CỨ VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG
BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
...................................................................................................................................20
2.1. Chủ thể trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong
hoạt động tố tụng hình sự .......................................................................................20
2.1.1. Chủ thể gây thiệt hại .......................................................................................25
2.1.2. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường .................................................................23
2.1.3. Chủ thể giải quyết bồi thường .........................................................................24
2.1.4. Chủ thể được bồi thường.................................................................................25
2.2. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố
tụng hình sự .............................................................................................................31
2.2.1. Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và có yêu
cầu bồi thường ...........................................................................................................32
2.2.2. Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại .......................................................34
2.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại
……………………………………………………………………………………...35
2.3. Xác định thiệt hại được bồi thường và thiệt hại không được bồi thường ..37
2.3.1. Thiệt hại được bồi thường ............................................................................37
2.3.1.1. Xác định thiệt hại về vật chất……...…......………………….…………….38
2.3.1.2. Xác định thiệt hại về tinh thần……………………………...……..………51
2.3.2. Thiệt hại không được bồi thường…….……………………..……………….57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................59
CHƯƠNG 3: THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ...................................................................................................................61
3.1. Tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ...........61
3.1.1. Hồ sơ yêu cầu bồi thường và thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường .......................61
3.1.2. Cơ quan giải quyết bồi thường ........................................................................62
3.1.3. Thương lượng việc bồi thường .......................................................................71
3.2. Tại Tòa án nhân dân ........................................................................................73
3.2.1. Quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường ..............................................................73
3.2.2. Thẩm quyền của Tòa án ..................................................................................74
3.2.3. Khả năng hòa giải............................................................................................75
3.2.4. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường....76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................77
KẾT LUẬN…………………………………........………………………………..79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong những thập kỷ qua, những hành xử, việc làm vi phạm pháp luật trong
khi thi hành công vụ của một số cán bộ, cơng chức vơ tình hay cố ý gây ra ngày
càng nhiều, điều đó đã để lại những những hậu quả thiệt hại nặng nề cho công dân,
cho xã hội, và nó gây nên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Nhận thức được điều
đó, trong những năm qua, đặc biệt là một số năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã
rất quan tâm đến việc thực hiện các biện pháp khác nhau để đảm bảo giải quyết triệt
để tình trạng này. Một trong những cơng cụ quan trọng để Nhà nước ta khắc phục
những hậu quả thiệt hại cho công dân và xã hội xuất phát từ những hành xử, việc
làm của một số cán bộ, công chức gây ra là xây dựng Luật TNBTCNN. Việc định
hướng xây dựng, hồn thiện Luật TNBTCNN được coi là có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do
hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra; góp phần tăng cường ý thức
trách nhiệm của cán bộ, công chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước,
thúc đẩy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Luật TNBTCNN đã cụ thể hóa được rõ ràng phạm vi trách nhiệm bồi thường
trên các lĩnh vực như: quản lý hành chính; tố tụng hình sự; tố tụng dân sự; tố tụng
hành chính; thi hành án hình sự; thi hành án dân sự. Việc quy định rõ ràng các lĩnh
vực trong phạm vi TNBTCNN đã cho thấy tính phù hợp với thực tiễn, ràng buộc cụ
thể và vận dụng một cách linh hoạt và nhanh chóng vào các tình huống vi phạm cụ
thể. Điều đó sẽ góp phần tạo tính khả thi tốt trong việc thực hiện TNBTCNN, đảm
bảo đưa luật vào cuộc sống một cách sinh động, nghiêm túc.
Tuy nhiên, một thực tế đau lòng xảy ra thời gian gần đây bởi dư luận đã rất
bức xúc về việc ngày càng nhiều vụ án oan sai được phanh phui, cùng đó là cơng
2
tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai còn nhiều bất cập như:
Nhiều trường hợp thân nhân của người bị oan sai bị từ chối bồi thường thiệt hại về
tinh thần khi người bị oan vẫn cịn sống hoặc chết mà khơng phải ngun nhân bởi
hành vi vi phạm của NTHCV với lí do Luật TNBTNN năm 2017 không quy định cụ
thể; Việc quy định các thành phần tham gia buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính cơng
khai lại khơng hề có NTHCV có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại bắt buộc phải
tham gia; Luật mới quy định việc phục hồi danh dự đối với người chết chỉ được thể
hiện dưới hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính cơng khai; Việc xác định cơ quan
có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong hoạt động TTHS khi người yêu cầu bồi
thường nộp đơn tại cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV là cơ quan gây thiệt hại cho
người bị buộc tội ở giai đoạn tố tụng sau cùng cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Trước thực tiễn đó, tác giả nhận thấy rằng TNBTCNN trong hoạt động TTHS vẫn
còn nhiều tồn tại nhiều bất cập, chưa đi sát với nhu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội.
Nhận thức được điều này, tác giả mạnh dạn quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài
“Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự”.
1.2. Tình hình nghiên cứu
Trên cơ sở những quy định Luật TNBTCNN, trong quá trình tìm hiểu, tác giả
thấy đã có các luận văn, bài viết, sách chuyên khảo về lĩnh vực TNBTCNN, tiêu
biểu có thể kể đến như sau:
-
Nguyễn Thị Oanh (2017), “Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của Nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học –
Khoa Luật, Đại Học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn đã nêu và phân tích các khái niệm, cấu thành, bản chất pháp lý, ý
nghĩa của chế định TNBTCNN cũng như đi vào phân tích sâu các căn cứ xác định
TNBTCNN. Thơng qua đó Luận văn cũng nêu và đánh giá thực tiễn áp dụng các
quy định về căn cứ xác định TNBTCNN theo pháp luật hiện nay và một số kiến
nghị hoàn thiện.
Ở Luận văn này mới chỉ đi vào nghiên cứu về căn cứ xác định TNBTCNN chứ
chưa đi vào nghiên cứu hết các quy định TNBTCNN trong hoạt động TTHS.
3
-
Châu Nữ Thu Hân (2015), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của
Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ chí Minh.
Ở luận văn này đã đưa ra những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS (khái niệm, đặc điểm, chủ thể
trong quan hệ bồi thường, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường, thủ tục giải
quyết yêu cầu bồi thường); cũng như đưa ra những bất cập và hướng hoàn thiện
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS.
Luận văn đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về TNBTCNN nhưng lại chỉ giới hạn
ở hoạt động người của TA gây ra trong hoạt động TTHS. Trong khi TNBTCNN
trong hoạt động TTHS diễn ra ở rất nhiều khâu (từ điều tra, truy tố đến xét xử), tức
là cịn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của cơ quan tố tụng khác gây ra
như VKS hay CQĐT.
-
Trần Văn Hùng (2018), “Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và vấn
đề bảo vệ quyền con người”, tạp chí Luật sư Việt Nam, số 4.
Bài viết nêu và phân tích vấn đề bảo vệ quyền con người trong TNBTCNN
như là: quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường và được
thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường; quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong giải quyết yêu cầu
bồi thường… Bài viết có ý nghĩa đối với tác giả trong việc xây dựng lên ý nghĩa của
TNBTNN trong hoạt động TTHS.
-
Nguyễn Sĩ Dũng, Lê Hà Vũ (2008), “Bồi thường Nhà nước với những nguyên
tắc của pháp quyền”, nghiên cứu lập pháp số 7(123).
Bài viết nêu và phân tích ra những nguyên tắc pháp quyền trong TNBTCNN
và khẳng định các nguyên tắc pháp quyền vừa là nền tảng để đặt vấn đề
TNBTCNN, vừa chi phối các nội dung pháp lý cụ thể của chế định này. Bài viết có
ý nghĩa đối với tác giả trong việc xem xét những vấn đề của nguyên tắc pháp quyền
trong TNBTCNN và xây dựng lên ý nghĩa của TNBTNN trong hoạt động TTHS.
-
Sách chuyên khảo: Đỗ Văn Đại, Nguyễn trương Tín (2018), “Pháp luật Việt
4
Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật
gia Việt Nam.
Các tác giả đã đi vào phân tích, đánh giá các quy định của Luật TNBTCNN
năm 2017. Thơng qua đó các tác giả còn đi vào so sánh các quy định của pháp luật
hiện hành với quy định cũ trước đó cũng như các văn bản pháp luật có liên quan.
Ngồi ra, các tác giả còn đưa vào những bản án cụ thể minh họa để làm rõ các quy
định của pháp luật trên thực tế; so sánh với pháp luật nước ngồi để chỉ ra những
điểm cịn hạn chế của Luật hiện hành và trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị để
góp phần hồn thiện TNBTCNN.
Sách chun khảo trên đã trình bày hết các vấn đề TNBTCNN nhưng chỉ
mang tính khái quát, chưa đi chuyên sâu ở một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên sách đã
mang đến cho tác giả nhiều kiến thức cả về giá trị khoa học và thực tiễn. Trên cơ sở
đó, tác giả đi vào nghiên cứu sâu TNBTCNN trong hoạt động TTHS.
Tóm lại, tất cả các cơng trình trên đều mang lại cho tác giả giá trị cả về mặt lý
luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, có những cơng trình do sự thay đổi về mặt thời
gian nên đến nay khơng cịn phù hợp với quy định mới của Luật. Có những cơng
trình đi vào nghiên cứu một cách khá sâu nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào
đó của TNBTCNN trong lĩnh vực TTHS. Có những cơng trình lại mang tính tổng
qt hết các quy định của pháp luật TNBTCNN…Chính vì lẽ đó, tác giả đã mạnh
dạn đi vào nghiên cứu, phân tích và làm rõ TNBTCNN trong hoạt động TTHS để
góp phần hồn thiện hơn những quy định của pháp luật hiện hành về TNBTCNN.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài là “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình
sự”. Do vậy tác giả đi vào nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về
TNBTCNN trong hoạt động TTHS, đặc biệt khai thác sâu Luật TNBTCNN năm
2017 với các văn bản hướng dẫn thi hành trong mối tương quan với những bản án,
tình huống thực tế xoay quanh vấn đề TNBTCNN để từ đó tìm ra những điểm chưa
phù hợp của những quy định pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động TTHS.
Thơng qua đó, tác giả cũng xin đưa ra những kiến nghị, giải pháp góp phần hồn
5
thiện hơn pháp luật TNBTCNN trong hoạt động TTHS của Việt nam trong giai
đoạn hiện nay.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật Việt Nam liên
quan đến TNBTCNN trong hoạt động TTHS. Thơng qua đó, tác giả lần lượt đi vào
+ Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật và thực trạng áp dụng
quy định pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động TTHS. Theo đó, đề tài chỉ
nghiên cứu giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV và
theo thủ tục tố tụng dân sự về yêu cầu bồi thường. Đề tài không đi vào nghiên cứu
yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tịa án.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng những phương pháp
nghiên cứu luật truyền thống như:
- Phương pháp so sánh: trong bài Luận văn của mình, tác giả thường đưa ra
những so sánh Luật TNBTCNN năm 2009 và Luật TNBTCNN năm 2017 khi quy
định về một vấn đề (ví như so sánh quy định của luật về chủ thể có trách nhiệm bồi
thường; so sánh quy định về xác định thiệt hại về tinh thần trong hoạt động TTHS;
so sánh quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường…). Thông qua phương
pháp này tác giả đưa ra được những ưu điểm của luật TNBTCNN năm 2017 so với
luật TNBTCNN năm 2009 để từ đó đánh giá cao những bước tiến mới trong quy
định của luật về vấn đề TNBTCNN trong hoạt động TTHS.
- Bài Luận văn của tác giả cịn có sử dụng phương pháp phân tích, bình luận,
đánh giá các quy định pháp luật liên quan TNBTCNN trong hoạt động TTHS cũng
như các tình huống đã xảy ra trong thực tiễn được nêu qua các bản án, các bài báo
6
để từ đó chỉ ra được những bất cập từ quy định của luật và đưa ra kiến nghị để hoàn
thiện luật hơn.
1.6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn Thạc sĩ
được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động
tố tụng hình sự
Chương 2: Chủ thể, căn cứ và cách xác định thiệt hại trong bồi thường của
Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
Chương 3: Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ
NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự
“Trách nhiệm”, theo như Từ điển tiếng Việt được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Nghĩa thứ nhất: Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm
làm trịn, nếu kết quả khơng tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; Nghĩa thứ hai: Sự
ràng buộc đối với lời nói, hành vi của họ, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải
gánh chịu phần hậu quả1. Như vậy, cả hai cách hiểu trên đều xem xét trách nhiệm
gồm hai thành phần cơ bản: một là những việc phải làm, được làm, như là bổn phận,
nhiệm vụ, quyền hạn; hai là sự cam kết đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn và chịu trách nhiệm đối với kết quả đó. Do đó, có thể hiểu: Trách nhiệm là phần
việc, công việc được giao cho phải đảm bảo hoàn thành với kết quả tốt, nếu kết quả
không tốt sẽ phải gánh chịu phần hậu quả.
“Bồi thường thiệt hại” là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành
vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất
và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại2.
“Bồi thường thiệt hại” được hiểu theo thuật ngữ pháp lý là hình thức TNDS
buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Cơ sở phát
sinh trách nhiệm này là: phải có sự thiệt hại xảy ra đối với một bên, có việc xử sự
bất hợp pháp của bên khác, có quan hệ nhân quả giữa việc xử sự bất hợp pháp với
thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại3.
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng các quy tắc chung của xã hội, khơng thể vì lợi ích
Viện Ngơn ngữ học, Trung tâm Từ điển học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 1020.
Bộ tư pháp viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 84.
3 Nguyễn Mạnh Hùng (2003), “Thuật ngữ pháp lý”, tập 1 (A - K), sách tham khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 52.
1
2
8
của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một
người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính
người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình đã gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả
bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Như vậy, người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, duy trì cơng bằng
xã hội.
Như vậy, về ngun tắc thì người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm
bồi thường. Đây là trách nhiệm bồi thường xét trong mối quan hệ giữa người gây
thiệt hại và người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta cịn bắt gặp có những
trường hợp người gây thiệt hại ở một vị thế rất đặc biệt - họ là những cán bộ, công
chức trong bộ máy Nhà nước, gây thiệt hại khi đang thực hiện nhiệm vụ nhân danh
Nhà nước.
“Nhà nước” là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người
được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lí xã hội,
phục vụ lợi ích chung của tồn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền
trong xã hội4. Thực chất Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý nhằm duy trì
trật tự xã hội thơng qua những cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước. Vậy
nên, hành vi của những cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước là hành vi
thực thi quyền lực nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước nên trong q trình thực thi
cơng vụ, những cán bộ, cơng chức trong các cơ quan Nhà nước có thể gây thiệt hại
trái pháp luật cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào thì Nhà nước phải có trách nhiệm
đứng ra bồi thường thay cho họ, và có thể hiểu “ Trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước là trách nhiệm pháp lý dân sự thể hiện việc Nhà nước phải gánh chịu hậu quả
bất lợi mà cụ thể là bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị xâm hại xuất phát từ hành vi
4
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), giáo trình lí luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 25.
9
trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ được Nhà nước giao”5
Cũng đồng với quan điểm đó, TS. Trần thái Dương cũng cho rằng “TNBTNN
là trách nhiệm pháp lý trong đó nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho cá nhân, tổ
chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.”6
TTHS là quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự. Q trình đó bao gồm nhiều hoạt động của cơ quan tiến hành tố
tụng như CQĐT, VKS, TA; của người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát
viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án; của người tham gia tố tụng
như người bị giữ, tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người bào chữa, người làm
chứng và các chủ thể khác. Trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng này, do
tính phức tạp của vụ án hình sự, do những điều kiện khách quan hoặc do hạn chế về
trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp mà một số quyết định của
cơ quan tiến hành tố tụng khơng tránh khỏi những sai sót mặc dù đã qua sự kiểm tra
giám sát chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền. Kết quả của những sai lầm trong
hoạt động này sẽ để lại những hậu quả hết sức nặng nề. Một trong những hậu quả
của sự sai lầm đó có thể là làm oan người vơ tội. Do vậy, vấn đề đặt ra là việc bảo
vệ quyền con người trong TTHS không chỉ bằng những quy định cụ thể về các
quyền của người bị giữ, tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại…mà còn chú ý đến
việc bảo đảm quyền được bồi thường và khôi phục lại danh dự cho người bị oan,
người bị thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra.
Theo như quy định Luật Nhà nước bồi thường của nước Cộng hịa nhân dân
Trung Hoa cho rằng: “bồi thường hình sự là việc nhà nước bồi thường cho những
tổn thất do các cơ quan Công an, Kiểm sát, Xét xử, quản lý trại giam xâm phạm
quyền nhân thân, tài sản của đương sự trong quá trình tiến hành TTHS gây nên. Bồi
Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2018), “Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Nxb. Hồng
Đức - Hội luật gia Việt nam, tr.15.
6 Trần thái Dương (2009), “Trách nhiệm bồi thường Nhà nước, nhận diện và phân biệt với đền bù Nhà nước”, tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 5 (142), tr.33.
5
10
thường hình sự phát sinh bởi những quyết định sai trong TTHS của các cơ quan tư
pháp như phán quyết sai, bắt sai, tạm giam sai và có những hành vi vi phạm pháp
luật như bức cung gây nên tổn hại về quyền nhân thân, quyền tài sản đối với công
dân, pháp nhân và các tổ chức khác, những quyết định sai dẫn đến tổn hại và những
hành vi vi phạm pháp luật do các nhân viên của cơ quan tư pháp hình sự gây ra. Do
chủ thể xâm phạm là các cơ quan Nhà nước thực hiện các chức năng điều tra, truy
tố, xét xử, quản lý trong hoạt động TTHS, vì vậy đương nhiên Nhà nước phải đảm
nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra chứ không phải là một cá nhân nhân
viên tư pháp nào đó đảm nhận”7. Như vậy, rõ ràng rằng, những quy định Luật Nhà
nước bồi thường của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong hoạt động TTHS về
cơ bản giống quy định của Luật TNBTCNN ở Việt Nam ta. Các chủ thể xâm phạm
là các cơ quan Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, vì lợi ích của nhà nước nên
trong q trình thực thi cơng vụ, những cán bộ, cơng chức trong các cơ quan Nhà
nước có thể gây thiệt hại trái pháp luật cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào thì Nhà
nước phải có trách nhiệm đứng ra bồi thường thay cho họ.
Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách cơ bản về TNBTCNN trong
hoạt động TTHS: là một loại trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động TTHS.
1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta dễ dàng bắt gặp các quan hệ giữa
NTHCV thực thi công vụ được giao (đại diện cho Nhà nước) và người dân. Thông
thường, các quan hệ này thường là quan hệ “công” - Tức là hoạt động công quyền,
dựa trên cơ sở vận dụng quyền lực được Nhà nước cho phép. Hoạt động được thực
hiện bởi một pháp nhân công quyền, được quyền lực Nhà nước đảm bảo và sử dụng
nó để thực hiện các nhiệm vụ quản lý do Nhà nước chỉ định trong phạm vi hệ thống
Nguyễn Hoàng Hạnh (2001), “Pháp luật và cơ chế thực hiện bồi thường thiệt hại cho công dân do bị bắt giữ, xét xử
oan sai ở Trung Quốc”, Thông tin khoa học pháp lý, Nxb. Bộ tư pháp, viện nghiên cứu khoa học pháp lý, tr. 25.
7
11
chính trị của quốc gia, vì lợi ích cơng của tồn xã hội; có nghĩa vụ, quyền lợi, trách
nhiệm do luật định.8 Tuy nhiên, khi NTHCV có hành vi trái pháp luật, làm phát sinh
TNBTCNN thì quan hệ giữa Nhà nước và người dân (người bị thiệt hại) khơng cịn
là quan hệ công thuần túy nữa, mà là quan hệ bồi thường dân sự liên quan đến Nhà
nước. Theo đó, “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp
luật của NTHCV gây ra theo quy định của Luật TNBTCNN”9. Xét về bản chất, đây
là mối quan hệ dân sự, vì vậy, TNBTCNN trong hoạt động TTHS là một loại
TNDS. Ngoài những đặc điểm của TNDS nói chung như: hành vi làm phát sinh
TNDS phải là hành vi vi phạm pháp luật dân sự (đó là việc không thực hiện, thực
hiện không đúng hoặc thực hiện khơng đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân
sự); TNDS là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền, lợi ích bị xâm
phạm; ln mang đến hậu quả bất lợi cho người vi phạm nghĩa vụ; TNDS nhằm đền
bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm… Bên cạnh đó, TNBTCNN
trong hoạt động TTHS là loại trách nhiệm phát sinh từ hoạt động thực hiện quyền
lực Nhà nước, vì vậy, nó cịn có những điểm khác biệt so với quan hệ dân sự thuần
túy khác ở chỗ:
Thứ nhất: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động TTHS là
loại “trách nhiệm dân sự thay thế”. Nhà nước thực hiện chức năng của mình thơng
qua NTHCV, hành vi của NTHCV là thực thi quyền lực Nhà nước, vì lợi ích của
Nhà nước nên NTHCV có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì Nhà nước chịu
trách nhiệm đứng ra bồi thường thay cho người thi hành công vụ, đây là loại trách
nhiệm bồi thường “do người khác gây ra” 10 vì người gây thiệt hại là NTHCV,
nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường lại là Nhà nước. Do đó có thể khẳng định
Ngô Thành Can (2018), “công vụ và quản lý thực thi cơng vụ”, sách chun khảo, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật,
tr.30.
9 Điều 598, BLDS năm 2015.
10 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2013), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người khác gây ra”, tạp chí khoa học
pháp lý (5), tr.69.
8
12
“trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước thực chất là trách nhiệm dân sự
thay thế”11, hay “trách nhiệm gián tiếp”.12
Các quốc gia trên thế giới thì có hai cách tiếp cận về vấn đề TNBTCNN.
TNBTCNN là trách nhiệm thay thế và TNBTCNN là trách nhiệm trực tiếp.”13 Cách
tiếp cận TNBTCNN là trách nhiệm trực tiếp thì cho rằng: Nếu coi TNBTCNN là
trách nhiệm thay thế thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ là cơng chức thì
với khả năng tài chính của mình, cơng chức khơng thể bồi thường, và như vậy thì
người bị thiệt hại khơng được đảm bảo quyền lợi. Mặt khác, nếu xem TNBTCNN là
trách nhiệm thay thế thì sẽ dẫn đến suy diễn Nhà nước được miễn trách nhiệm –
quan điểm lỗi thời ảnh hưởng bởi thuyết “vua khơng làm gì sai”; Việc xem
TNBTCNN là trách nhiệm thay thế nó sẽ mâu thuẩn trách nhiệm bảo vệ công dân
của Nhà nước, bởi lẽ nếu nhà nước có trách nhiệm bảo vệ cơng dân thì tại sao Nhà
nước lại khơng chịu trả tiền bồi thường cho công dân với tư cách là trách nhiệm tự
thân14.
Theo quan điểm của tác giả thì tác giả đồng tình với quan điểm TNBTCNN
trong hoạt động TTHS là loại “trách nhiệm dân sự thay thế”. Ở đây, Nhà nước phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi do hành vi vi phạm từ NTHCV gây ra bởi
vì NTHCV lại là người nhân danh Nhà nước thực hiện công việc và đem lại lợi ích
cho Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
công dân nên Nhà nước sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thay và sau đó cơng
chức Nhà nước có trách nhiệm hồn trả cho Nhà nước. Chính vì vậy mà tại Chương
Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, (2018) “pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Nxb. Hồng
Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 19
11
Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2007), “cơ sở pháp lý phát sinh và phạm vi trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước”, tạp chí khoa học pháp lý (5), tr. 38.
12
Bộ tư pháp(2005), “Luật bồi thường Nhà nước”, Dự án Jica, Kỷ yếu tọa đàm Nhật bản và Bộ tư Pháp Việt Nam,
tr.40.
13
14 Bộ
tư pháp(2005), “Luật bồi thường Nhà nước”, Dự án Jica, Kỷ yếu tọa đàm Nhật bản và Bộ tư Pháp Việt Nam, tr.44
13
VII Luật TNBTCNN năm 2017 đã đưa ra quy định “trách nhiệm hoàn trả” vào
trong luật này. Hoàn trả trong trách nhiệm thay thế là theo hướng Nhà nước thay
cán bộ cơng chức để bồi thường vì Nhà nước có khả năng thanh tốn trước tiên và
sau đó NTHCV có hành vi vi phạm sẽ phải có nghĩa vụ hồn trả lại cho Nhà nước
theo quy định. Việc NTHCV phải có trách nhiệm vật chất đối với hành vi gây thiệt
hại của mình là hồn tồn hợp lý, đảm bảo lẽ cơng bằng và tính trách nhiệm.
Thứ hai, hành vi làm phát sinh TNBTCNN trong hoạt động TTHS xuất phát từ
hành vi vi phạm của NTHCV trong khi thi hành nhiệm vụ
Về nguyên tắc, TNDS phát sinh xuất phát từ hành vi vi phạm của con người.
Còn TNBTCNN trong hoạt động TTHS, trách nhiệm cũng phát sinh từ hành vi vi
phạm của con người. Tuy nhiên, đối với TNDS thông thường thì hành vi vi phạm
làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là hành vi của bất kỳ ai, còn TNBTCNN
trong hoạt động TTHS, hành vi vi phạm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là
hành vi trái pháp luật của NTHCV trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra của
CQĐT, cơ quan đươc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; truy tố
của VKS; xét xử của TA các cấp. Như vậy, chủ thể có hành vì làm phát sinh
TNBTCNN trong hoạt động TTHS giới hạn, được xác định cụ thể hơn so với TNDS
nói chung. Đối với TNDS nói chung, hành vi làm phát sinh trách nhiệm có thể xảy
ra ở bất kì hồn cảnh nào của đời sống xã hội, còn đối với TNBTCNN trong hoạt
động TTHS, hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường phải là hành vi của
NTHCV trong khi thực thi nhiệm vụ mà Nhà nước giao (tức trong khi thi hành cơng
vụ). Thực ra, một NTHCV sẽ có ít nhất hai tư cách là tư cách của NTHCV (thực
hiện công việc của Nhà nước) và tư cách cá nhân. TNBTCNN trong hoạt động
TTHS chỉ phát sinh đối với hành vi của người này với tư cách là người thi hành
công vụ thực hiện công việc của nhà nước. Nếu việc làm của NTHCV với tư cách
cá nhân thì khơng làm phát sinh TNBTCNN.
14
Thứ ba, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường lại là Nhà nước. Trong TNDS về
nguyên tắc chung, người có hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chính là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại “người nào có hành vi xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp
pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”15, trừ một số trường
hợp ngoại lệ đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự….gây thiệt hại thì cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại sẽ là người phải bồi thường. Còn TNBTCNN
trong hoạt động TTHS, chủ thể gây thiệt hại là NTHCV, mà NTHCV lại là “người
được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà
nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người
khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan
đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” 16, nghĩa là NTHCV là
người đại diện cho Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ tố tụng. Do vậy,
TNBTCNN trong hoạt động TTHS thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường lại là
Nhà nước mà không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi
thi hành công vụ đều được xác định là hành vi, quyết định của Nhà nước. Nếu hành
vi đó trái luật, gây thiệt hại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng
nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành cơng vụ thì
chính họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình, trường hợp này Nhà
nước không phải bồi thường.
Thứ tư, phương thức bồi thường trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động TTHS hạn chế hơn so với phương thức bồi thường trong dân sự.
15
16
Khoản 1, Điều 584, BLDS năm 2015.
Khoản 2, Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017.
15
Trong TNDS, “các bên có thể thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền,
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc”17. Trong TNDS, tiền bồi thường là tiền
của người chịu trách nhiệm bồi thường và chúng ta không quan tâm tới nguồn gốc
của khoản tiền sử dụng bồi thường đó, miễn anh có tiền thì anh bồi thường. Việc
bồi thường bằng tiền, hiện vật hay là thực hiện một cơng việc là do thỏa thuận của
hai bên. Cịn TNBTCNN trong hoạt động TTHS chỉ có hình thức bồi thường bằng
tiền “Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước
để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Kinh phí bồi thường bao gồm
tiền chi trả cho người bị thiệt hại”.18
1.3. Ý nghĩa của quy đinh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động tố tụng hình sự
1.3.1. Đảm bảo những nguyên tắc của pháp quyền
Nguyên tắc của pháp quyền là cơ sở để đặt vấn đề Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường hay khơng có trách nhiệm bồi thường khi gây ra những thiệt hại về vật
chất hoặc tinh thần cho các chủ thể khác. “Trước thế kỷ XIX, TNBTCNN chưa
được ghi nhận ở bất kỳ Nhà nước nào, ngay cả ở những nước châu Âu và những
nước phát triển như Anh, Mỹ vì quan điểm “Vua khơng thể làm điều sai” - Nhà
nước không thể làm những điều trái pháp luật. Hành vi gây thiệt hại của các cơ quan
Nhà nước luôn được coi là hành vi trái pháp luật do lỗi của NTHCV, ngay cả trong
khi thi hành công vụ”19.
“Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, ở Nhà nước phong kiến, người đứng
đầu Nhà nước là vua, vua có quyền quyết định tối cao về các vấn đề qn sự, chính
trị, kinh tế và tơn giáo. Trong chế độ này, Nhà nước không phải chịu bất kỳ trách
nhiệm gì về những quyết sách do mình đặt ra, thần dân khơng có quyền gì ngồi sự
Khoản 1, Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điểm a, khoản 1, Điều 60, Luật TNBTCNN năm 2017.
19 Nguyễn Minh Đoan, “ Một số vấn đề và thực tiễn về Trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức,
cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 218
17
18
16
phục tùng và phụng sự Nhà nước”20. Như vậy, trong xã hội phong kiến, Nhà Vua là
tối thượng nên pháp quyền và bồi thường Nhà nước còn là những vấn đề xa lại.
Ngày nay, Việt Nam ta là xã hội dân chủ, cùng với sự phát triển vượt bậc về
kinh tế - xã hội thì quyền con người cũng được quan tâm nhiều hơn. Nhờ đó pháp
quyền được biết đến như là phương thức tổ chức quyền lực Nhà nước sao cho sự
lạm quyền không xảy ra và quyền của người dân được bảo vệ. Bên cạnh đó, học
thuyết về quyền miễn trừ xét xử của Nhà nước không phải là tuyệt đối. Đặc quyền
miễn trừ xét xử chỉ có thể được sử dụng khi Nhà nước hành động với quyền hạn của
chủ quyền quốc gia. Nhà nước hoặc cán bộ của nhà nước phải chứng minh được
rằng, hành động bị khiếu nại là hoàn toàn tuân theo Hiến pháp hoặc các văn bản
pháp luật. Khi vượt qua những giới hạn này thì quyền miễn trừ của Nhà nước khơng
thể được áp dụng21. Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân và đều là
một thực thể của pháp luật. Nhà nước là một thực thể pháp lý công. Nhà nước cũng
thực hiện các hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi
hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền của mình. Và khi có hành vi gây
thiệt hại cho các chủ thể khác thì Nhà nước cũng có nghĩa vụ bồi thường một cách
bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội.
1.3.2. Đảm bảo quyền con người, quyền công dân
Hiến pháp năm 1992 quy định “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt
khi chưa có bản án kết tội của Tồ án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị
giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật
chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố,
xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”22 và “mọi hành vi
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và cơng dân
Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, (2018) “pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Nxb. Hồng
Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 13.
21 Nguyễn Sĩ Dũng, Lê Hà Vũ (2008), “Bồi thường Nhà nước với những nguyên tắc của pháp quyền”, nghiên cứu lập
pháp số 7(123), tr11.
20
22
Điều 72, Hiến pháp năm 1992.
17
phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường
về vật chất và phục hồi danh dự”23 .
Tinh thần này lại được tiếp tục duy trì trong Hiến pháp năm 2013 “mọi người
có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những
việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền
được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp
luật” 24 và “người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và
phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp
luật”25.
Việc ghi nhận quyền được bồi thường trong Hiến pháp không thôi là chưa đủ.
Để quyền bồi thường thiệt hại thật sự đi vào cuộc sống cần có một văn bản dưới
Hiến pháp ghi nhận chính thức quyền này và Luật TNBTCNN 2009 ra đời đã chính
thức ghi nhận quyền này. Cụ thể “người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có
trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật
hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người
bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường”26.
Đến Luật TNBTCNN năm 2017 cũng quy định về quyền yêu cầu bồi thường:
“những người sau đây có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường: Người bị thiệt hại;
Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ
chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; Người đại
Điều 74, Hiến pháp năm 1992.
Khoản 1, 2, Điều 30, Hiến pháp năm 2013.
25 Khoản 5, Điều 31, Hiến pháp năm 2013.
26 Khoản 1, Điều 4, Luật TNBTCNN 2009.
23
24