Tải bản đầy đủ (.docx) (216 trang)

Thơ bảy âm tiết trong thơ mới (1932 1945) từ góc nhìn thi luật (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (968.13 KB, 216 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG SANH

THƠ BẢY ÂM TIẾT TRONG THƠ MỚI (1932 - 1945)
TỪ GĨC NHÌN THI LUẬT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGƠN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Hồng Sanh

THƠ BẢY ÂM TIẾT TRONG THƠ MỚI (1932-1945)
TỪ GĨC NHÌN THI LUẬT

Chun ngành: Lí luận ngơn ngữ
Mã số: 62220101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TSKH. Lý Toàn Thắng PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1. PGS. TS. Hoàng Quốc
2. TS. Trần Thanh Nguyện PHẢN BIỆN :
1. PGS. TS. Hoàng Quốc
2. TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh


3. TS. Trần Hồng

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020


3

LỜI CAM ĐOAN

Tơi hội
được
xin
thực
cam
hiện
đoan
dưới
đây
sự

hướng
dẫn
trình
khoa
nghiên
học
cứu
của
của
cán


bộấn
nhân
hướng
tơi
dẫn.
Ngoại
luận
án,
trừ
chúng
những
tơi
đoạn
khơng
tham
sao
khảo,
chép
trích
nội
dẫn
dung
đã
từ
được
những
nêu

phẩm

trong
khác.
trung
thực
Các
ngữ

liệu,
chưa
được
số
liệu
cơng
được
bố
dưới
trình
bất
bày
cứ
trong
hình
thức
luận
nào
án

ngồi
yếu
các

bài
báo
thảo.
được
đăng
tải
trên
các
tạp
chí
chun
ngành

kỉ


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận án chun ngành Lí luận ngôn ngữ, tôi đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ tận tình từ thầy cơ, cán bộ nhà trường, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè.
Đầu tiên tơi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Bộ môn Ngơn ngữ, cán bộ nhà
trường, Phịng Sau đại học và Phịng Quản lí khoa học của Trường Đại học
KHXH&NV đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt q trình học
tập tại trường.
Tơi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Trường Đại học Quảng Nam và Lãnh
đạo Khoa Ngữ văn & Công tác xã hội đã tạo điều kiện về thời gian để tôi nghiên cứu đề
tài. Cảm ơn anh chị em đồng nghiệp, đặc biệt chị Thanh Thảo, chị Phương Trâm, anh
Tấn Phước, em Kim Thoa và em Anh Thư đã khuyến khích, động viên, hỗ trợ tôi trong
công việc để tôi tập trung hồn thành luận án.
Tơi xin được bày tỏ lịng cảm ơn sâu sắc đến GS. TSKH. Lý Toàn Thắng, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận án. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS. Huỳnh Thị

Hồng Hạnh đã động viên, giúp đỡ tôi để tôi tự tin thực hiện đề tài. Tôi xin cảm ơn TS.
Trần Hồng đã chia sẻ cho tơi những tài liệu q giá liên quan đến luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến anh Trần Anh Tuấn, em Ung Thị Hoàng Hiếu và em
Trịnh Phú Thiện đã giúp chúng tôi thu thập và xử lí dữ liệu liên quan đến luận án.
Cảm ơn những người bạn thân thương, đặc biệt là bạn Phan Thanh Bảo Trân và
chị Nguyễn Thị Tịnh luôn ln bên cạnh tơi mỗi khi tơi gặp khó khăn trong q trình
thực hiện luận án.
Cuối cùng tơi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, cảm ơn chồng tôi, ba
mẹ hai bên, anh chị em và con trai đã luôn bên cạnh tôi, tạo động lực to lớn để tôi theo
đuổi công việc học tập và thực hiện thành công luận án.
TP. HCM, tháng 10 năm 2020
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Hồng Sanh


MỤC LỤC
4.2.1.................................................................................................................................
KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 180
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................... 187


DANH MỤC VIẾT TẮT
* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TÊN TÁC GIẢ
1. NB : Nguyễn Bính
2. XD : Xuân Diệu
3. VHC : Vũ Hoàng Chương
4. HMT : Hàn Mặc Tử
5. BK : Bích Khê
6. TL : Thế Lữ
7. TH : Tế Hanh

8. ĐVC : Đoàn Văn Cừ
9. LTL : Lưu Trọng Lư
10. NNP : Nguyễn Nhược Pháp
11. THT : Trần Huyền Trân
12. HC : Huy Cận
13. VC: Việt Châu
14. TT: Thâm Tâm
* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TÊN TÁC
1. BHPN: Bài hành phương Nam
2. BSĐK: Bên sơng đưa khách
3. CNBT: Có những bài thơ
4. CMCĐH: Cùng một cô đào hát
5. DCTĐ: Dấu chân trên đường
6. ĐMG: Đêm mưa gió
7. HSHTG: Hai sắc hoa tigôn
8. HGTL: Hát giang trường lệ
9. HCN: Hết cố nhân
10. HNHT: Hết ngày hết tháng
11. HA: Huyền ảo
12. HVR: Hoa với rượu
13. KHBS: Khúc hát bên sông

15. HD : Hồ DZếnh
16. PHT : Phạm Huy Thông
17. H.MT: H. Minh Tuyền
18. ĐH: Đinh Hùng
19. ĐP: Đồ Phồn
20. ĐHN: Đỗ Huy Nhiệm
21. CLV: Chế Lan Viên
22. LKL: Lưu Kỳ Linh

23. PVH: Phạm Văn Hạnh
24. NG: Nguyễn Giang
25. NXS: Nguyễn Xuân Sanh
26. NV: Nguyễn Vỹ
27. PH: Phạm Hầu

23. LTM: Lời tuyệt mệnh
24. MCT: Một chút tình
25. MNT: Một nửa trăng
26. MH: Mơ hoa
27. MM: Muộn màng
28. NXCN: Ngày xưa còn nhỏ
29. ON: Oan nghiệt
30. STTT: Sơn Tinh Thuỷ Tinh
31. TH: Tân hôn
32. TĐ: Tình điên
33. VĐTQ: Vẻ đẹp thống qua
34. VHTN: Viếng hồn trinh nữ
35. VB: Vô biên


14. KTRL: Khi thu rụng lá
36. XR: Xuân rụng
15. GPCL: Giây phút chạnh lòng
37. VTTC: Viết tên trên cát
16. GBTG: Ghé bến trần gian
38. VHTN: Viếng hồn trinh nữ
17. GATHT: Gửi anh Trần Huyền
39. TCVTT: Trò chuyện với Thơ
Trân

Thơ
18. LCS: Lịng chiến sĩ
40. TC: Tình cờ
19. LTTCNMT: Lời than thở của nàng Mỹ thuật
20. LTVTGH: Lời thơ vào tập gửi hương
21. BNĐKCTGTĐDRĐTN: Bao nhiêu đau khổ của trần gian tôi để dành riêng để
tặng nàng 22: NBNTSG: Những bóng người trên sân ga
* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TRONG BẢNG BIỂU
1. CT : Chân thơ
2. B/T : Bằng / Trắc; b/t: Bằng/ Trắc trong trường hợp không theo luật thơ
3. ĐT: Điển thể
4. BT: Biến thể
5. PT: Phá thể
6. BT/PT: Biến thể / Phá thể
7. SL: Số lượng
8. TL: Tỉ lệ
9. TĐ: Tiết điệu
10. TT : thứ tự
* CHÚ THÍCH TRONG CÁCH VIẾT TẮT NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG
1. Chú thích chương 3: Mơ hình điển thể - ĐT (tiết điệu đúng theo luật thơ); Mơ
hình biến thể - BT (tiết điệu khơng theo luật thơ ở vị trí 1, 3, 5); Mơ hình phá thể - PT
(tiết điệu khơng theo luật thơ ở vị trí 2, 4, 6, 7).
2. Chú thích chương 4: Viết tắt Đ (đoạn thơ) và D (dòng thơ). Cách đọc mơ hình
bài thơ khơng chia khổ (ví dụ: đọc 4D là bài thơ có 4 dịng thơ). Cách đọc mơ hình bài
thơ chia khổ (ví dụ: 2Đ(4D) là bài thơ có 2 đoạn thơ, mỗi đoạn 4 dịng hoặc 2Đ(4D) +
1Đ(3D) là bài thơ có 3 đoạn thơ, trong đó 2 đoạn đầu có 4 dịng và 1 đoạn thơ cuối có 1
dịng thơ). Trình tự sắp xếp các mơ hình là số đoạn thơ tăng dần và số dòng thơ tăng
dần.
DANH MỤC BẢNG




9

DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Văn chương nói chung và thi ca nói riêng, cũng như một số đối tượng và vấn đề
khác của văn học, cần phải được nghiên cứu liên ngành; ít nhất cũng là được soi chiếu
dưới hai góc độ - văn học (lí luận và phê bình văn học) và ngơn ngữ học. Việc phân tích
thơ ca dưới lí thuyết lí luận phê bình và ngôn ngữ giúp bổ sung cho nhau và đã đạt được
những thành tựu nhất định. Thế nhưng trước những năm 60 của thế kỉ XX, không chỉ
trong giới học thuật ở Việt Nam mà cả trên thế giới, đa phần nhìn nhận, nghiên cứu thơ
ca từ cái nhìn một phía của văn học: nghĩa là vẫn tồn tại quan niệm thơ ca trước hết là
đối tượng nghiên cứu của thi pháp - một phân mơn của lí luận văn học.
Đến khi tác phẩm Ngữ học và Thi học của Roman Jakobson xuất hiện, thi pháp
mới được xác định có mối liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ học. Roman Jakobson đã
phác hoạ mối quan hệ giữa lí luận thi ca và ngôn ngữ học khi xác định thi học như một
bộ phận của ngữ học chuyên xử lí chức năng thơ trong quan hệ khác với các chức năng
của ngôn ngữ. Ơng nghiên cứu sâu các yếu tố ngơn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân
tích chức năng ngơn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống. Những luận điểm của
Roman Jakobson gợi mở đường hướng cho các nhà nghiên cứu bước sang một con
đường nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lí thuyết về chức năng ngôn
ngữ thơ. Bài viết của Roman Jakobson tuy chưa phân tích những dữ liệu cụ thể nhưng
lại có sức thuyết phục bởi tư tưởng khái quát mang tính định hướng nghiên cứu cho
những người muốn đào sâu khai thác vào địa hạt của văn học, thơ ca từ góc độ ngơn
ngữ - một góc độ dù đã được giới nghiên cứu nhắc đến, vận dụng và phân tích song vẫn
chưa thực sự có nhiều thành tựu.
Tuy nhiên dù đã chú ý về ngôn từ của tác phẩm văn chương, giới nghiên cứu đa
phần chỉ quan tâm đến cách dùng từ ngữ, cách thiết lập câu và cách sử dụng các biện
pháp tu từ, phương tiện tu từ trong tác phẩm... mà ít đề cập đến cơ cấu tổ chức ngữ âm

của thơ - một đặc trưng cơ bản làm nên sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn
ngữ thơ ca. Kết quả là xuất hiện khơng ít những nhận định chung về thi pháp cho cả thơ
và cho cả văn xi. Trước tình hình đó, giới học thuật cho rằng cần phải có một ngành
học để bàn riêng, bàn sâu chỉ về những gì đặc trưng cho ngôn ngữ của thơ (Poetry), chứ
không bàn chung những chuyện này với cả bên văn (Prose). (Lý Toàn Thắng, 2015,


10

tr.17).
Đó là lí do thi học - một phân mơn mới thuộc thi pháp nhưng vẫn nằm trong lãnh
địa ngôn ngữ học - chuyên sâu vào mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ ra đời và tập
trung vào những đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Nghĩa là phạm vi nghiên cứu nghệ thuật
thơ ca được khuôn hẹp lại và màu sắc ngôn ngữ thơ được tô đậm - nhưng không phải ở
mọi phương diện mà chỉ giới hạn cụ thể ở mặt tổ chức âm thanh (phương diện ngữ âm
như vần điệu, nhịp điệu, tiết điệu (phối thanh bằng trắc), các kiểu loại âm tiết, dung
lượng câu thơ, đoạn thơ, bài thơ... của ngơn ngữ thơ. Bên cạnh đó, với mục đích làm nổi
bật vai trị, chức năng, đặc trưng ngữ âm (âm tiết, thanh điệu, trọng âm, nhịp điệu, ngữ
điệu,.) của thơ trong việc tạo dựng nên cấu trúc, tổ chức âm thanh của một văn bản thơ,
thi luật - một khái niệm liên quan mật thiết với thi học, luôn chú ý “khảo sát những kĩ
thuật liên quan đến câu thơ, đến sự họp nhóm câu thơ thành đoạn thơ, đến nhịp điệu,..ra đời để tìm ra “các quy tắc, các kỹ thuật - hay nói chung là các luật lệ ngữ âm - mà
nhà thơ phải tuân theo khi sáng tác ra đứa con ngôn từ nghệ thuật của mình.” (Lý Tồn
Thắng, 2015, tr.17). Như vậy, có thể thấy, thi học và thi luật có mối quan hệ khăng khít,
khơng thể tách rời. Cho nên, nghiên cứu thi học của một nền thi ca thực chất là đi tìm
các ngun lí, các yếu tố và quan hệ cấu thành hệ thống thi luật của nền thi ca đó.
Thơ Mới là một bước ngoặt trong lịch sử thi ca dân tộc, là một dấu son rực rỡ trên
thi đàn, là niềm tự hào của thơ ca Việt Nam. Thơ Mới là một thành tựu của thơ ca Việt
Nam với những cách tân mạnh mẽ, thoát khỏi thi luật Đường thi và là điểm khởi đầu
của quá trình hiện đại hố thi ca dân tộc. Khơng chỉ về hình tượng thơ mà cả nhịp điệu,
cách gieo vần, bố trí thanh diệu... của Thơ Mới đều chuyển biến theo khuynh hướng tự

do hố, hiện đại hố. Thơ Mới có nhiều thể loại thơ trong đó thơ bảy âm tiết là một thể
thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới. Theo số lượng thống kê trong Tuyển tập Thơ
Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm thì thơ bảy âm tiết chiếm số lượng rất lớn gồm
456 bài / 1017 bài, chiếm 44%, cụ thể: thơ bảy âm tiết có 456 bài, thơ tám âm tiết có
259 bài, thơ lục bát có 136 bài, thơ tự do có 85 bài, thơ năm âm tiết có 67 bài, thơ song
thất lục bát có 7 bài, thơ bốn âm tiết có 4 bài và thơ hai âm tiết có 3 bài. Đối với Thơ
Mới bảy âm tiết, Hồi Thanh (2015) có một nhận xét xác đáng: “Thất ngôn và ngũ ngôn
rất thịnh (...) thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do Đường luật giãn và nới ra, cho nên
êm tai hơn.” (tr,49). Ý kiến của Hoài Thanh là một gợi ý cho những tìm kiếm về luật


11

Thơ Mới bảy âm tiết, khảo sát những sự kế thừa và cách tân của các nhà Thơ Mới ở mặt
hình thức biểu hiện của thơ, về ngơn ngữ thơ. Xét về luật thơ, Thơ Mới bảy âm tiết đã
thoát khỏi thi luật Thơ Đường, tiếp thu thơ tự do của phương Tây và định hình cho
mình một phong cách riêng cả về tư tưởng lẫn thể loại. Thơ Mới bảy âm tiết là cái riêng
của các nhà thơ Việt Nam trên nền tảng cái truyền thống. Thơ Mới bảy âm tiết cũng
chưa hẳn đã phá vỡ hoàn toàn thi luật và khơng phóng khống, tự do như thơ đương đại
cho nên có thể tìm cái đặc trưng, điển dạng.
Mặc dù Thơ Mới 1932 - 1945, tiêu biểu thơ bảy âm tiết là một tiếng vang trong
mạch thơ ca Việt Nam với những sự mới lạ trên nhiều phương diện, đặc biệt là sự cách
tân mạnh mẽ về hình thức, và sự đột phá đó thể hiện rõ ở các cấp độ bài thơ, đoạn thơ
và câu thơ, nhịp điệu... nhưng khơng có nhiều cơng trình nghiên cứu một cách tồn diện
về Thơ Mới, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ. Chọn Thơ Mới bảy âm tiết làm đối tượng
nghiên cứu, luận án hi vọng mang lại phát hiện mới về đặc điểm và giá trị của thơ bảy
âm tiết giai đoạn Thơ Mới 1932 - 1945 trong chiều dài lịch sử thi ca.
Từ những luận điểm trên, chúng tơi cho rằng, vấn đề tìm hiểu những đặc trưng
ngữ âm của Thơ Mới dưới điểm nhìn của thi học, cụ thể là lí thuyết thi luật, là cần thiết.
Đó cũng chính là lí do luận án nghiên cứu đề tài “Thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới

(1930 -1945) từ góc nhìn thi luật”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, nghiên cứu văn chương, cụ thể là thơ ca khơng cịn là vấn đề mới mẻ.
Có thể điểm qua các hướng nghiên cứu sau đây:
2.1.

Một số khuynh hướng nghiên cứu thơ ca

2.1.1.

Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca từ góc độ thi pháp trong mối liên

quan đến ngơn ngữ
Từ những năm 80, xuất hiện cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học: văn học
được nhìn nhận từ góc độ thi pháp trong mối liên quan đến ngôn ngữ. Đã có nhiều cơng
trình giá trị nghiên cứu về thơ như: Thơ và thẩm bình thơ của Nguyễn Nguyên Trứ
(1991), Thi pháp ca dao của Nguyễn Xn Kính (1992), Ngơn ngữ với sáng tạo và tiếp
cận văn học của Nguyễn Lai (1996), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
của Hà Minh Đức (1997), Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Tốn (2012)... Các
cơng trình trên có chú ý đến ngơn ngữ khi nghiên cứu tác phẩm văn chương. Tuy nhiên


12

trong các cơng trình này, các tác giả khơng bàn nhiều về những đặc trưng làm nên “sự
khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn mà chỉ tập trung phân tích về từ ngữ, ngữ
pháp và các biện pháp tu từ, phương tiện tu từ... - những yếu tố cũng xuất hiện với mật
độ và giá trị tương đương trong ngôn ngữ văn. Như vậy, những sự nghiên cứu đó vẫn
chưa thật sự bàn sâu về phương diện hình thức, về các đặc điểm ngữ âm của ngơn ngữ
thơ, vẫn là cách nhìn có phần chung chung và chưa làm rõ được ranh giới, sự khác biệt

giữa ngôn ngữ của thơ và ngơn ngữ của văn.” (Lý Tồn Thắng, 2015, tr.55).
2.1.2.

Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca trong mối liên quan chặt chẽ đến

ngôn ngữ
Trong khuynh hướng này, nghiên cứu thơ ca đã được chú ý nhiều đến mặt ngơn
ngữ. Đầu tiên là Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên & Hà
Minh Đức (1997)... Các tác giả đã bước đầu quan tâm đến đặc trưng và cấu trúc của các
hình thức thơ ca trong từng thể loại cũng như quy luật phát triển về hình thức thơ ca.
Những kết cấu của thơ mới như thanh điệu, nhịp điệu, vần thơ, thể thơ, trong đó sự cách
tân về thể thơ của thơ mới so với thể thơ truyền thống được nhấn mạnh. Công trình đề
cập đến “thể bốn từ”, “thể năm từ”, “thể bảy từ”, “thể tám từ”, “thể lục bát” của thơ
mới. Tiếp theo, trong bài viết Thử bàn thêm về thể thơ lục bát của tác giả Nguyễn Tài
Cẩn - Võ Bình (1996), những vấn đề liên quan đến thể thơ lục bát được phân tích cặn kẽ
dưới góc độ ngơn ngữ. Thơng qua q trình thống kê và phân tích ngữ liệu một cách tỉ
mỉ, các tác giả đưa ra những nhận định có giá trị và gợi mở một hướng nghiên cứu thú
vị.
Các cơng trình Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt (2000),
Phong cách học tiếng Việt hiện đại (2001), Phong cách học với việc dạy văn và lý luận
phê bình văn học (2002) của Hữu Đạt cũng là những nghiên cứu có giá trị tạo nền tảng
cho việc nghiên cứu về văn học nói chung, thơ ca nói riêng từ phương diện phong cách
học, nghĩa là nghiên cứu các biện pháp tu từ, phương tiện tu từ, phong cách ngôn ngữ...
trong sự biểu đạt nội dung tác phẩm.
Cùng hướng nghiên cứu trên, Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh (1987) đã
dùng thao tác, nguyên lí của ngơn ngữ học để tìm hiểu thơ. Tác giả ứng dụng lí thuyết
về ngữ học hiện đại để phân tích hình thức và nội dung của thơ ca. Có thể nói đây là
một cơng trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn



13

ngữ (trong cái nhìn phân biệt giữa ngơn ngữ thơ với ngơn ngữ văn xi). Ngồi ra, cơng
trình Cấu trúc thơ của Thuỵ Khuê (1997) cũng cung cấp cái nhìn nhất định về cấu trúc
hình thức thơ ca. Ngồi ra, Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt (1998) đã có những
nghiên cứu về đặc điểm cơ bản của ngơn ngữ thơ tiếng Việt trên cơ sở vận dụng khá
nhuần nhuyễn các lí thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn... Mai Ngọc Chừ (2005),
trong Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học đặc biệt chú ý đến hình thức thể
hiện của thơ ca (cụ thể là vấn đề vần). Tác giả đã công phu, tỉ mỉ khai thác triệt để vấn
đề vần thơ Việt Nam: khái niệm vần, chức năng của vần, mối quan hệ giữa vần với các
yếu tố khác cũng như nghiên cứu đơn vị hiệp vần, vai trò và quy luật phân bố cấu tạo
âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần thơ, vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động
của các loại vần trong các thể thơ, đoạn thơ, vần xét về mặt hòa âm. Đây là một trong
những cơng trình khẳng định được vai trị của ngơn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ
Việt, dù mới chỉ đi sâu vào cấp độ vần thơ (có đặt vần thơ trong mối liên hệ với các hiện
tượng khác như nhịp điệu, ngữ điệu., trong mối liên hệ với các câu thơ, đoạn thơ, thậm
chí bài thơ).
2.1.3.

Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca dưới góc nhìn của lí thuyết thi

học
Nghiên cứu thơ chuyển mình sang một hướng mới khi được soi chiếu dưới góc
nhìn của lí thuyết thi học. Đầu thế kỉ XXI, lí thuyết thi học mới được các nhà Việt thi
học đưa vào phân tích thơ ca tiếng Việt. Theo khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu
bàn sâu vào vấn đề thi học, xem thi học là một ngành khoa học với chức năng tiếp cận,
phân tích thơ ca từ góc độ ngơn ngữ học. Một số tác giả cịn tìm hiểu lí thuyết thi luật,
về câu thơ, đoạn thơ, dịng thơ, tiết điệu... Lý Tồn Thắng có nhiều bài nghiên cứu thơ
ca trên cơ sở lí thuyết thi học. Quan điểm “nhìn” thơ, “nghe” thơ bằng hai con mắt, hai
lỗ tai - một của văn học và một của ngơn ngữ học được tác giả hiện thực hóa bằng việc

cơng bố hàng loạt cơng trình nghiên cứu về thanh điệu, nhịp điệu, vần điệu của thơ ca,.:
“Thơ mới bảy chữ của Xuân Diệu: đoạn thơ và luật thơ” (1999), “Lục bát truyện Kiều:
câu Lục và luật phối thanh” (1999), “Bằng trắc Thơ Bảy chữ Xuân Diệu” (2002), “Đọc
lại Tống Biệt Hành của Thâm Tâm” (2006), “Thử đo đếm Thơ” (2006), “Âm điệu trong
thơ Hàn Mạc Tử” (2007),. Theo tác giả, thơ ca cần được nghiên cứu chí ít là ở hai góc
nhìn - của thi pháp học và của thi học. Ngoài ra, Lý Toàn Thắng cũng đã công bố công


14

trình nghiên cứu về cơ sở lí thuyết thi học Thi luật lục bát truyện Kiều (2015). Trong
cơng trình này, lí thuyết thi luật cũng như những đặc trưng và cách phân loại của thi luật
được hệ thống hóa một cách đầy đủ. Những phát hiện mới mẻ và những kết luận có giá
trị từ q trình nghiên cứu của tác giả đã chứng minh cách tiếp cận thơ ca từ góc nhìn
ngơn ngữ học - cụ thể là thi học - là khả thi.
Cùng khuynh hướng nghiên cứu thơ ca từ lí thuyết thi học, khơng thể khơng kể
đến nhóm tác giả Nguyễn Quang Hồng & Phan Diễm Phương (2015) với cơng trình Âm
tiết tiếng Việt và Ngơn từ thi ca (Chun luận Thi học). Trong cơng trình này, các tác giả
đi sâu vào phân tích các thể loại thơ ca như tục ngữ, thể thơ lục bát, song thất lục bát,
thơ Đường luật trong thi ca tiếng Việt, thể hát nói. Đặc biệt tác giả cịn bàn đến thể thơ
tám tiếng. Khơng chỉ vậy, cơng trình cịn trình bày sâu về lí thuyết vần điệu, nhịp điệu,
tiết tấu, âm điệu và mối quan hệ giữa chúng. Có thể nói, đây là cơng trình có giá trị về
nghiên cứu thi luật thơ tiếng Việt.
Cũng cần kể đến luận án “Nghiên cứu sự tự do hóa ngơn ngữ thơ tiếng Việt hiện
đại thế kỷ XX (trên tư liệu tập thơ của một số tác giả)” của Nguyễn Thị Phương Thuỳ
(2007). Tác giả nghiên cứu sự tự do hoá trong thơ và hiện đại hoá trong thơ ở cấp độ bài
thơ, đoạn thơ và câu thơ. Tác giả tiếp cận thơ từ điểm nhìn của thi học thơng qua q
trình nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp,
thanh điệu) thuộc các thể loại khác nhau như thơ 5 chữ, 6 chữ, bảy âm tiết, 8 chữ, lục
bát, song thất lục bát, tự do...

Trong các tác giả trên, chúng tôi chọn quan điểm của một số tác giả như Lý Toàn
Thắng, Nguyễn Quang Hồng & Phan Diễm Phương, Nguyễn Thị Phương Thuỳ làm cơ
sở lí luận cho q trình nghiên cứu của luận án.
2.2. Lịch sử nghiên cứu thi điệu, thi tiết, thi đoạn
Ngoài những cơng trình tiêu biểu trên, dưới đây, chúng tơi lần lượt trình bày cụ thể
hơn về lịch sử nghiên cứu thi điệu, thi tiết và thi đoạn.

2.2.1.

Vấn đề nghiên cứu thi điệu

Xuất phát từ lí thuyết của thi học, các nhà ngơn ngữ học trên thế giới đã có nhiều
cơng trình nghiên cứu có giá trị về đặc trưng ngữ âm của thơ ca, tiêu biểu như: Poetic
Rhythm: An introduction (Đại cương về nhịp điệu thơ) (1996), The Rhythms of English
Poetry (Nhịp điệu của thơ tiếng Anh) (2003) của Derek Attridge; Meter and Meaning:


15

An introduction to Rhythm in Poetry. (Tiết điệu và Ý nghĩa - đại cương về nhịp điệu
trong thơ) của Thomas Carper và Derek Attridge (2015)...
Cơng trình Poetic Rhythm: An introduction giới thiệu về nhịp điệu (rhythm) và tiết
điệu (meter) của thơ. Theo tác giả Derek Attridge (1996) “Nhịp điệu thơ” (poetic
rhythm) được xây dựng trên kiến thức (knowledge) và kinh nghiệm (experience)” và
“Nhịp điệu thơ” giúp người đọc có trải nghiệm và thích thú với nhịp điệu của nó trong
tất cả các sức mạnh của mình, sự tinh tế và đa dạng, và sẽ phục vụ như là một công cụ
vô giá cho những người muốn viết hoặc thảo luận về thơ tiếng Anh ở mức độ cơ bản
cũng như mức độ phức tạp.) (tr.51).
Trong Meter and Meaning : An introduction to Rhythm in Poetry, Thomas Carper
và Derek Attridge (2015) đã chỉ ra “cách để khám phá nhịp điệu của thơ tiếng Anh” và

“đề nghị một phương pháp mới hoàn tồn để đọc thơ”. Cơng trình này “giúp người đọc
đánh giá cao việc sử dụng nhịp điệu trong thơ của tất cả các loại nhịp và hiểu mối quan
hệ quan trọng giữa tiết điệu và ý nghĩa.” (tr.57).
Ở Việt Nam, về nhịp điệu thơ, một vài tác giả có quan tâm và đưa ra một vài nhận
xét về nhịp của thơ. Chẳng hạn, đề cập đến nhịp điệu Thơ Mới, tác giả Phan Cự Đệ
(1993) cho rằng: “Một trong những thành tựu khá quan trọng của “Thơ Mới” là sự vận
dụng nhạc điệu để diễn tả tình cảm. Nhạc điệu của “Thơ Mới” là nhạc điệu quen thuộc
của dân tộc. Nhưng các nhà “Thơ Mới” đã biết tiếp thu những thành tựu về nhạc điệu
trong thơ Pháp và Thơ Đường.” (tr.117).
Về nghiên cứu nhịp điệu câu thơ bảy âm tiết của Thơ Mới 1932 - 1945, cần phải
kể đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Nhịp điệu câu thơ bảy âm tiết của tác giả
Nguyễn Hoài Nguyên (2007). Trong cơng trình này, tác giả đã khảo sát, thống kê tần số
xuất hiện của các loại nhịp trong thơ bảy âm tiết của Thơ Mới và đưa ra một vài nhận
xét về các loại nhịp đó. Tuy nhiên đối tượng khảo sát không nhiều và tác giả chưa đề
cập đến vấn đề lí thuyết thi điệu nên cơng trình vẫn chưa có cái nhìn bao qt.
Ngồi ra, bài viết "Một số điểm sáng tạo về nhạc điệu trong Thơ Mới" của La
Nguyệt Anh (2012) khai thác sâu vào những yếu tố tạo nên điểm sáng tạo trong nhạc
điệu của Thơ Mới bảy âm tiết như nhịp điệu, lối hoà thanh và vần. Bên cạnh đó, cơng
trình luận văn thạc sĩ "Nhịp điệu trong Thơ Mới (khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân
Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên)" của Hồ Hạnh Ngọc (2011) cũng đã cung cấp một hệ


16

thống lí thuyết khá đầy đủ về nhịp, căn cứ phân loại nhịp... Tác giả cũng đã nêu lên đặc
điểm nhịp điệu trong thơ bảy âm tiết của các tác giả được khảo sát. Những kết luận có
giá trị từ bài nghiên cứu chứng minh cách tiếp cận thơ ca từ góc độ ngơn ngữ có hiệu
quả nhất định.
Khơng chỉ vậy, về nhịp điệu, cịn có những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
như “Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu Thơ Mới bảy chữ” của Nguyễn Thị Phương

Thùy (2004). Theo thống kê của tác giả Nguyễn Thị Phương Thùy thì chỉ trong thơ bảy
âm tiết của Xuân Diệu đã có đến 13 cách ngắt nhịp. Ngồi ra cịn có các bài nghiên cứu:
“Nhịp điệu thơ hơm nay” của Mã Giang Lân (2007), “Đặc sắc về ngôn ngữ và nhịp điệu
trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” của Châu Minh Hùng
(2009)... Những bài nghiên cứu trên tiếp cận thi ca từ góc độ ngơn ngữ và rút ra những
kết luận có giá trị về mặt ngữ âm của thơ.

2.2.2.

Về nghiên cứu thi tiết

Thi tiết (Metrics/ Meter) là phương pháp “nghiên cứu các âm tiết (ngắn - dài, có
trọng âm - khơng trọng âm, v.v.) và cách tổ hợp các âm tiết này (trong dòng thơ, câu
thơ, bài thơ), tức là nghiên cứu cấu trúc tiết điệu của thơ (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.13).
Đây là cách tiếp cận, phân tích và nghiên cứu thơ rất cơ bản và phổ biến ở Anh, Nga,
Pháp... bởi nền tảng ngôn ngữ của thi luật thơ này là ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết và
có trọng âm. Do đó khi phân tích thơ, các nhà thi học rất chú trọng vào việc xem xét sự
sắp xếp, phân bố các âm tiết có mang trọng âm và khơng mạng trọng âm trong dịng
thơ, nói cách khác là quan tâm đến cách tổ chức các chân thơ thành bước thơ. Chính vì
vậy việc phân tích thơ ca dựa vào chân thơ, bước thơ là việc cần thiết.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi phân tích bài thơ, hầu như ít ai đề cập đến vấn đề đoạn
thơ (strophe forms), đặc biệt là vấn đề chân thơ (poetic foot), bước thơ (poetic feet) và
cấu trúc tiết điệu (pattern meter). Sự khác biệt về mặt loại hình dẫn đến sự tiếp cận
khác nhau trong nghiên cứu thi tiết. Nếu như các nhà thi học ở các nước phương Tây có
sự phân biệt rất rõ giữa thi tiết (meter) và thi điệu (rhythm) - bởi không thể nghiên
cứu thi điệu nếu không bước vào cấu trúc tiết điệu của dòng thơ, câu thơ - có tiết điệu
(meter) rồi từ đó mới có nhịp điệu (rhythm) - thì các nhà thi học ở Việt Nam hầu như
chỉ quan tâm đến thi điệu (rhythm), xem thi điệu và thi tiết là một và thậm chí khơng hề
quan tâm đến khái niệm tiết điệu, chân thơ, bước thơ. Điều này một phần là do âm tiết



17

tiếng Việt là âm tiết có thanh điệu nên người ta chỉ quan tâm đến việc đối lập về âm
điệu “bằng - trắc” hay âm vực “cao - thấp” mà chưa quan tâm đến sự đối lập của việc
“có - khơng có” trọng âm - cái làm nên cơ sở ngữ âm cho các chân thơ.
Ngôn ngữ học thế giới đã có nhiều cơng trình có giá trị về vấn đề thi tiết. Tuy
nhiên ngôn ngữ học Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến vấn đề nghiên cứu lí thuyết thi
tiết.
Thuật ngữ “tiết điệu” đã được nói đến từ thời Hy Lạp cổ đại trong cuốn “Nghệ
thuật thơ ca” của nhà hiền triết Aristole. Trên thế giới, xuất hiện rất nhiều cơng trình
bàn về câu chuyện thi tiết, về mối quan hệ giữa nhịp điệu và tiết điệu, về các kiểu chân
thơ, bước thơ và mối quan hệ giữa nó với các thể loại thơ cũng như của phong cách của
nhà thơ.
Đầu tiên là Rhythm and Meter: Phonetics and Phonology của Paul Kipasky &
Gilbert Youmans (1989). Cơng trình này giới thiệu chung về nhịp điệu (rhythm), tiết
điệu (meter) và mối quan hệ giữa nhịp điệu và tiết điệu cũng như đưa ra sự so sánh cấu
trúc nhịp điệu, tiết điệu trong âm nhạc và ngơn ngữ. Các tác giả cịn đi sâu vào nghiên
cứu các hình thức của tiết điệu dịng thơ (metrical forms), lí thuyết phân cấp của tiết
điệu (Hierarchical Theory of Meter), tiết điệu của thơ Hy Lạp cổ điển (Aspects of
Classical Greek Meter). Đặc biệt, các tác giả cịn phân tích kiểu chân thơ iambic và
trochic cũng như mối quan hệ giữa tiết điệu (meter) và phong cách (style) sáng tác của
nhà thơ.
Tiếp theo, trong Meter, Rhythm and Verse Form, Philip Hopsbaum (1996) đã dành
một chương trình bày cụ thể lí thuyết tiết điệu và nhịp điệu (meter and rhythm). Ngoài
ra, các loại chân thơ tam tiết, tứ tiết cũng được phân tích cụ thể. Đây là cơ sở quan trọng
để luận án tiếp cận và phân tích thi ca dưới góc độ thi tiết.
Cũng cần phải kể đến Meter in English: A Critical Engagement của David Baker
(1996). Trong cơng trình này, tác giả nghiên cứu tiết điệu, các loại chân thơ, bước thơ
trong thơ tiếng Anh. Theo tác giả “Âm tiết (syllabics) không phải là tiết điệu (meter)

trong tiếng Anh” mà “Tiết điệu (meter) là sự cảm nhận tự nhiên, và tiết điệu trong tiếng
Anh (bao gồm cả tiết điệu định lượng) là sự đo đếm đặc trưng dễ nhận thấy trong tiếng
Anh - ngôn ngữ thơ và trong tiếng Anh, đó là giọng điệu (accent)”. Có thể hiểu tiết điệu
là sự thể hiện giọng điệu bằng sự hoà phối âm thanh của câu thơ, bài thơ.


18

Cơng trình nghiên cứu Meter and Meaning: An Introduction to Rhythm in Poetry
của Thomas Carper & Derek Attridge (2013) tập trung thảo luận về tiết điệu (meter), tập
trung làm rõ về mối quan hệ sống còn giữa tiết điệu (meter) và ý nghĩa (meaning). Từ
đó đã đưa ra cách thức, mơ hình tiết điệu và đề xuất cách tiếp cận hoàn toàn mới để đọc
các văn bản thơ tiếng Anh thông qua mối quan hệ ý nghĩa giữa tiết điệu và ý nghĩa bài
thơ. Đây là một cơng trình có giá trị đối với ai muốn tìm hiểu và thưởng thức thơ ca
tiếng Anh. Trong cơng trình này, các tác giả đề cập đến khái niệm thi tiết, khái niệm
chân thơ, khái niệm bước thơ cũng như đưa ra các kiểu loại chân thơ và các bước thơ cơ
bản. Công trình cịn “giúp người đọc đánh giá cao việc sử dụng nhịp điệu trong thơ của
tất cả các loại nhịp và hiểu mối quan hệ quan trọng giữa tiết điệu và ý nghĩa.” (tr34).
Ngồi ra, có rất nhiều bài viết bàn vào vấn đề tiết điệu, chân thơ, bước thơ trong thơ
tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga...
Trên đây là bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu tiết điệu của ngơn ngữ học thế
giới. Cịn đối với giới Việt ngữ học, rất ít cơng trình bàn về cấu trúc tiết điệu của thơ.
Tuy nhiên, về “niêm luật”, về cách phối thanh bằng - trắc và nhịp điệu thì được nghiên
cứu rất nhiều. Về lí thuyết thi tiết và việc nghiên cứu tiết điệu của dòng thơ, hiện nay, ở
Việt Nam, có thể kể đến Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều của Lý Tồn Thắng
(2015). Tác giả trình bày một cách hệ thống về lí thuyết thi luật nói chung và thi tiết nói
riêng. Về lí thuyết thi tiết, tác giả nêu khái niệm, cách phân loại của các chân thơ, bước
thơ để giúp người nhiên cứu có một cái nhìn tổng quan, hệ thống về thi tiết trong dịng
thơ Việt. Bên cạnh đó, tác giả cịn vận dụng mơ hình lí thuyết thi tiết vào nghiên cứu tiết
điệu trong 3254 dòng thơ lục bát của Truyện Kiều và đưa ra những kết luận có giá trị.

Cơng trình này cung cấp nền tảng lí thuyết cũng như phương pháp tiếp cận để chúng tôi
tiến hành nghiên cứu luận án.

2.2.3.

Vấn đề nghiên cứu thi đoạn

Cho đến nay, vấn đề "thi tiết", “thi đoạn” (strophe forms) (nghiên cứu cách tổ chức
đoạn thơ từ những dòng thơ trong một bài thơ) là một vấn đề khá mới mẻ. Nói đúng hơn
là có rất ít sự quan tâm về cách phân chia đoạn thơ trong một bài thơ trong khi vấn đề
phân chia đoạn văn trong thể loại văn xuôi được quan tâm rất nhiều. Mặc dù hiện nay,
một số tác giả đã bước đầu nghiên cứu lí thuyết thi đoạn, cả về phương diện lí thuyết
lẫn ứng dụng nhưng cũng chỉ là những nghiên cứu sơ khởi và chưa đưa ra hệ thuyết lí


19

thuyết đầy đủ.
Trên thế giới, cơng trình The structure of Classical Hebrew Poetry (Cấu trúc của
thơ Do Thái cổ điển) của Marjo Christina Annett Korpel & Johannes Cornelis de Moor
(2018) đề cập nhiều đến vấn đề thi đoạn của bài thơ. Trong cơng trình này, các tác giả
khơng chỉ nghiên cứu về sự phân định của dấu câu (Delimitation of Cola), sự phân định
dòng thơ (Delimitation of Verse - line), sự phân định bài ca (Delimitation of Canticles),
sự phân định cấu trúc vĩ mơ (Delimitation of Macrostructure) mà cịn đề cập đến sự
phân định đoạn thơ (Demititation of Strophe) của thơ Isaiah 40 - 45. Sau khi khảo sát về
đoạn thơ cổ điển Isiah 40 - 45, Majo và Johanns rút ra kết luận chung (General
Conclusions) về sự phân định đoạn thơ (Delimitation of Strophe), về độ dài của đoạn
thơ (Length of Strophe), về mơ hình cấu trúc trong đoạn thơ (Structural Patterns in
Strophe)...
Về sự phân định đoạn thơ, tác giả cho rằng “ ...thỉnh thoảng có sự đánh dấu kết

thúc của đoạn thơ bằng một khoảng trống nhỏ” và “.những khơng gian nhỏ có ý nghĩa
để chỉ ra đoạn thơ kết thúc.” (tr.643). Theo tác giả, sự mở đầu hoặc kết thúc đoạn thơ
còn được đánh dấu bởi “emphasic grammatical structure” (cấu trúc ngữ pháp nhấn
mạnh). Có thể thấy điều này trong lập luận của Majo và Johanns: “Tuy nhiên, các dấu
hiệu phân định chính khơng phải là cơng cụ duy nhất chúng tôi sử dụng. Sự bắt đầu và
kết thúc của đoạn thơ khi xuất hiện được đánh dấu bằng những cấu trúc ngữ pháp nhấn
mạnh nào đó, có ý nghĩa là để thu hút sự chú ý của khán giả.” (tr.643).
Về độ dài đoạn thơ, theo tác giả, “Theo sự phù hợp với Luật của sự Mở rộng và
Thu hẹp, đoạn thơ nhỏ nhất gồm có chỉ một dịng. Chúng tơi tìm thấy 83 ví dụ về điều
này trong cuốn “Lời tiên tri” của Isaiah 40 - 50 (chiếm 24% của tổng số đoạn thơ).
Khơng có đoạn thơ nào trong cuốn Isaiah Đệ nhị/ phần hai gồm hơn hai dòng thơ.
Đoạn thơ dài nhất bao gồm một tam cú (bộ ba dòng thơ) theo sau bởi một tứ cú (bộ bốn
dòng thơ).” (tr.645).
Bài viết Some more or less technical observation on Greek rhythm (Quan sát ít
nhiều về kĩ thuật nhịp điệu thơ Hy Lạp) cũng đã bàn về thuật ngữ “strophe” (đoạn thơ)
trong sự đối sánh với thuật ngữ “antistrophe”1 (hồi khúc) và “epode” (thơ êpót - thơ trữ
tình câu dài câu ngắn). Bài nghiên cứu đã “trình bày một cuộc thảo luận ngắn về chúng,
1Anti-strophe là một phép tu từ, lặp lại/hồi lại từ ngữ ở cuối cụm từ hay câu thơ. Ví dụ “ I swear to tell the truth,
the whole truth and nothing but the truth”.


20

đặc biệt từ khi một vài sử dụng của một mơ hình đoạn thơ và những hồi khúc tương ứng
được thực hiện trong các phần hợp xướng của tất cả các vở kịch Hy Lạp”. Theo tác giả,
“Đoạn thơ” (strophe) và “Hồi khúc” (antistrophe) là những cách của sự đề cập đến mơ
hình tiết điệu hay nhịp điệu của một văn bản vốn là dùng để hát. 2 Về cơ bản, hồi khúc
chồng lên (picks up) mơ hình của đoạn thơ, ít nhiều giống như giai điệu và nhịp điệu
của “câu” đầu tiên trong một bài hát hiện đại được hồi lại trong “câu” thứ hai, và sau
đó trong “câu” thứ ba... Trong thực tế, người ta có thể in những từ của hồi khúc trong

bài Olympian 1 của nhà thơ Pindar ngay trực tiếp bên dưới những từ của các phần
tương ứng của đoạn thơ.
Tác giả cho rằng “Như đã nêu, ý nghĩa của “đoạn thơ và “hồi khúc” là, giống
như trong một bài hát hiện đại, chủ yếu là một vấn đề của đệm nhạc đi kèm”. Có thể
thấy, trong cơng trình này, tác giả cũng đã đề cập đến thuật ngữ “strophe” và nhìn nhận
về ý nghĩa của nó trong sự tương ứng với thuật ngữ “hồi khúc”. Tuy nhiên đây chỉ là
nghiên cứu về đoạn thơ (strophe) trong thể loại nhạc kịch chứ không phải trong thể loại
thơ. Đó là chưa nói đến cách hiểu của “strophe” trong nhạc kịch khác với cách hiểu của
“strophe” trong thể loại thơ. (tr.22).
Cũng cần kể đến cơng trình Reading the Old Testament của Barry L. Bandstra
(2008) về các đặc trưng cơ bản (basic features) của Kinh Thánh. Bài viết nghiên cứu về
các cấp độ của bài thơ (Poem-level) trong Kinh Thánh (Biblical Poetry). Cơng trình này
“giới thiệu những cấp độ chính mơi mà đặc trưng của thơ được tổ chức, cũng như
những cơng cụ và kĩ thuật có sẵn cho các nhà thơ ở mỗi cấp độ”. Để tiến hành cuộc
thảo luận, ông chia bài thơ thành các cấp độ như Line-level (Cấp độ dòng thơ), Coupletlevel (cấp độ cặp đôi câu thơ), Stanza-level (Cấp độ đoạn thơ) và bước vào phân tích
chúng về những đặc trưng hình thức (Formal Features). Tác giả quan tâm đến vấn đề
điệp âm (alliteration) ở cấp độ dòng thơ (Line-level). Còn ở cấp độ cặp đơi dịng thơ
(Couplet-level) ơng quan tâm đến các dạng song hành (parallelism) của couplet trong
đoạn thơ (stanza).
Trên đây là những cơng trình nghiên cứu về đoạn thơ của ngôn ngữ học thế giới
trong phạm vi tiếp cận của chúng tơi. Cịn đối với giới Việt ngữ học, chỉ có một số ít
cơng trình nghiên cứu về giới thuyết thi đoạn (strophe forms) của thơ ca nói chung và
2Thơ nguyên được làm ra là để hát (như thơ lục bát trong ca dao Việt Nam).


21

thi đoạn Thơ Mới nói riêng.
Đầu tiên, cần kể đến Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại của tác giả Bùi Văn
Nguyên và Hà Minh Đức (2003). Đây là cơng trình đầu tiên đã đề cập đến hình thức thơ

ca và vấn đề đoạn thơ của các thể năm âm tiết, thể bảy âm tiết và tám âm tiết.
Theo tác giả, trong thể năm chữ, “nhiều bài thơ thường ngắt ra từng bốn câu một
(từng khổ thơ bốn câu có dáng dấp như một bài ngũ ngơn tứ tuyệt). Nhưng khổ thơ đó
vẫn gắn liền với hơi thở của toàn bài.” (tr.291).
Đối với đoạn thơ bảy âm tiết, tác giả nhận định “Thể thất ngôn được nâng lên qua
những sự cách tân về khổ thơ, vần điệu.” (tr.292) và “Những bài thơ thất ngôn dài ngắn
không hạn định về số câu song thường tập hợp lại thành những khổ, mỗi khổ gồm 4
câu. Mỗi khổ thơ gần như là một bài thất ngôn tứ tuyệt..(tr.292-293). Không dừng lại ở
việc miêu tả đoạn thơ, tác giả đã bước đầu quan tâm mơ hình cấu trúc đoạn thơ và rút ra
kết luận “Hình thức bài thơ 4 khổ là hiện tượng khá phổ biến trong Thơ Mới thất ngôn.”
(tr.293). “Bên cạnh những bài thất ngơn 4 khổ, cũng có những bài thất ngôn 3 khổ.”
(tr.294). Tuy chỉ là những miêu tả ước chừng chưa có sự khảo sát cụ thể nhưng cũng có
thể thấy, nhà nghiên cứu đã quan tâm đến câu chuyện kiểu loại đoạn thơ và tần số xuất
hiện của đoạn thơ trong một bài.
Cũng đã quan tâm đến hình thức thơ mới, tác giả Phan Cự Đệ (1966) khi bàn về
thể thơ đã nhận xét: “Thơ Mới thực chất không phải là lối thơ tự do. Lúc đầu nó phá ra
một cách phóng túng, nhưng dần nó trở nên nhuần nhị và dừng hẳn ở một số thể thơ
quen thuộc. Số chữ trong câu có thể từ hai chữ (Sương rơi) đến mười chữ, nhưng dùng
nhiều nhất là lối thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ. Số câu trong bài không nhất định,
thường thường mỗi bài chia làm nhiều khổ, mỗi khổ bốn câu” (tr.265-266). Ở cơng trình
này, tác giả tuy khơng bàn sâu vào mặt ngơn ngữ của thơ ca nhưng nhìn chung đã chú ý
hơn về mặt hình thức của thơ ca.
Cùng xu hướng trên, Văn Tâm (1993) trong “Giới thuyết Thơ Mới” khẳng định
“Khảo sát về thể loại thơ, ai cũng rõ là cần chú ý đến các yếu tố: số âm tiết trong câu,
số' câu trong bài, cách hiệp vần, tiết tấu... ” (tr.196). Rất tiếc, tác giả lại chỉ phân tích
“số âm tiết”, “hiệp vần, tiết tấu” trong thơ mà bỏ quên “số câu” trong bài. Nhưng dù sao
đây cũng là một gợi ý thú vị cho những ai muốn tìm hiểu thi luật thơ ca.
Trong luận án tiến sĩ Thơ Mới 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động thể loại, tác giả



22

Hoàng Sĩ Nguyên (2007) cũng đã quan tâm đến vấn đề sự cách tân của câu thơ, đoạn
thơ và thể thơ. Tác giả cũng đã tìm hiểu độ dài của câu Thơ Mới và ít nhiều đề cập đến
vấn đề dòng thơ, đoạn thơ khi đưa ra nhận định: “Một bài thơ có thể có nhiều khổ. Mỗi
khổ có số câu có thể bằng nhau hoặc khơng bằng nhau” (tr.90). Hoặc khi nghiên cứu về
thơ 8 chữ của Xuân Diệu và Chế Lan Viên, tác giả kết luận “Đặc điểm nổi bật nhất
trong thể thơ 8 chữ của Xuân Diệu là tổ chức theo lối tự do. Hầu như ở thể thơ này, nhà
thơ không chia khổ như ở thể bảy âm tiết, bài thơ dài thoải mái theo hơi cảm xúc.”
(tr.110) còn “Khác với thể thơ 8 chữ trong thơ Xuân Diệu, thể 8 chữ trong “Điêu tàn”
của Chế Lan Viên chỉ có hai bài khơng chia khổ, 30 bài khác đều chia khổ. Nhưng cách
chia khổ lại hoàn tồn linh hoạt, khơng phải chỉ có bốn câu làm thành một khổ như bài
thơ tứ tuyệt”. (tr.111). Tuy nhiên, hướng tiếp cận vấn đề của cơng trình là từ lí thuyết thi
pháp của văn học chưa phải từ góc độ thi học của ngơn ngữ học.
Có nét khác biệt với những cơng trình trên, “Sự phát triển dung lượng dòng thơ
Việt Nam” của Đỗ Anh Vũ (2008) nghiên cứu dung lượng của dòng thơ Việt Nam từ cổ
trung đại đến hiện đại theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học. Tác giả cũng phân biệt khái
niệm “câu thơ” và “dòng thơ”. Mặc dù không phải nghiên cứu trực tiếp về vấn đề đoạn
thơ nhưng đây cũng là một hướng tiếp cận khá mới mẻ.
Bên cạnh đó, trong chuyên khảo Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều (2015), Lý
Toàn Thắng đề cập đến hình thức (form) thể thơ sonnet 3. Cụ thể là thể thơ sonnet ở dạng
cổ điển trong tiếng Ý: “Bài thơ gồm 14 dịng; Mỗi bài có 4 khổ thơ: 2 khổ theo kiểu 4
dòng/1 khổ (quatrain) và 2 khổ theo kiểu 3 dòng/1 khổ (tercet).” (tr.17). Khơng chỉ vậy,
tác giả cịn đi sâu mơ tả hình thức đoạn thơ, số lượng dòng thơ trong mối quan hệ với
vần điệu: với sonnet 14 dịng thì: 2 đoạn kiểu quantrain có mơ hình vần là ABBA
ABBA; 2 đoạn kiểu tercet có mơ hình vần là CDE CDE hoặc CDC DCD hay CDE
DCE... Từ cơ sở đó, tác giả tìm hiểu thi luật thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Tuy nhiên
vì thơ Bà Huyện Thanh Quan chỉ có một đoạn thơ nên tác giả không bàn nhiều về vấn
đề này mà chỉ mơ tả “Bài thơ có 8 câu; Mỗi dịng/câu có bảy âm tiết (chừ)..Mặc dù
chưa nghiên cứu đoạn thơ một cách trực tiếp nhưng cơng trình này cũng đã quan tâm tới

vấn đề miêu tả đoạn thơ của từng thể loại. (tr.273).
3Từ “sonnets” gốc tự tiếng Latin sonare, sang tiếng Ý là sonetto (tiếng Pháp sonet là mượn từ tiếng Ý). Được bắt
nguồn từ chữ son có nghĩa là một loại bài hát hay bài thơ, từ sonet nghĩa ban đầu là một “bài hát nhỏ” (petite
chanson) hay một “giai điệu hát” (meslodie chantée). (Dẫn theo Lý Toàn Thắng, 2015, tr.13).


23

Ngoài ra, trong Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Bùi Cơng Hùng (2002) phân tích thơ
ca từ góc nhìn ngơn ngừ học. Cụ thể tác giả tìm hiểu các vấn đề: Sự thống nhất của các
hệ thống, các yếu tố trong bài thơ, tập thơ; Các phương pháp nghiên cứu thơ và câu thơ;
Các thành phần của câu thơ (từ ngừ, nhịp điệu, vần, ngừ điệu); Câu thơ trong bài thơ
(câu thơ, đoạn thơ, bài thơ). Có thể nói Bùi Công Hùng là một trong nhừng tác giả bước
đầu quan tâm đến vấn đề đoạn thơ và một vài nội dung lí thuyết tương đối rõ ràng về
đoạn thơ.
Nguyễn Thị Phương Thuỳ (2007) đã tập trung khảo sát, phân loại và mơ hình hố
các kiểu đoạn thơ trong một bài thơ của thể thơ 5 chừ, thơ tự do, thơ lục bát trong đó
tâm điểm là thơ bảy âm tiết, 8 chừ trong cái nhìn tương quan so sánh giừa một số tác giả
(Xuân Diệu, Tố Hừu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên...) và giừa các giai đoạn với nhau (thơ
giai đoạn 1900-1945 và thơ giai đoạn 1945-2000). Nhừng kết quả khảo sát giá trị của
tác giả chứng tỏ cách tiếp cận thơ ca từ cấu trúc đoạn thơ, bài thơ là một hướng tiếp cận
có ý nghĩa nhất định trong quá trình tìm hiểu nội dung bài thơ và phong cách tác giả.
Ngoài ra, Nguyễn Nguyên Trứ (1991) trong Thơ và Thẩm bình thơ và Nguyễn
Quang Hồng & Phan Diễm Phương (2015) trong Âm tiết tiếng Việt và Ngôn từ thi ca
cũng đã bàn rất sâu về hình thức thể loại của các thể thơ từ số dòng, số câu, nhịp điệu
thơ và đặc biệt đã đề cập nhiều đến dung lượng đoạn thơ và bài thơ.
Như vậy, về thi điệu, đã có một số cơng trình nghiên cứu về nhịp điệu dòng thơ
bảy âm tiết. Còn về thi tiết và thi đoạn hầu như rất ít cơng trình đề cập đến một cách hệ
thống. Tóm lại, tất cả nhừng cơng trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý
giá về thi luật để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhừng vấn đề về thi điệu, thi tiết và thi đoạn
của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 1932 - 1945. Liên quan đến thơ, thi vận (nghiên cứu
về vần thơ) cũng là yếu tố liên quan đến thi luật, tuy nhiên trong luận án chúng tôi
không đưa vần vào đối tượng nghiên cứu vì hiện nay đã có cơng trình nghiên cứu rất
cơng phu về vần thơ.
Hiện nay có rất nhiều bản in khơng thống nhất về hình thức biểu hiện của đoạn
thơ. Cơng trình Tuyển tập Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, NXB Hội Nhà


24

văn, năm 2001 cũng khơng có sự thống nhất cao với các cơng trình in ấn khác. Ở đây,
chúng tơi theo cách phân chia đoạn thơ của cơng trình này.
3.2.

Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát là 8.889 dòng thơ thuộc 1.992 đoạn của 456
bài thơ bảy âm tiết trong Tuyển tập Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, NXB
Hội Nhà văn, năm 2001. Cụ thể là thơ bảy âm tiết của các tác giả: (1) Nguyễn Bính, (2)
Xn Diệu, (3) Vũ Hồng Chương, (4) Hàn Mặc Tử, (5) Bích Khê, (6) Thế Lữ, (7) Tế
Hanh, (8) Đoàn Văn Cừ, (9) Lưu Trọng Lư, (10) Nguyễn Nhược Pháp, (11) Trần Huyền
Trân, (12) Huy Cận, (13) Hồ Dzếnh, (14) Phạm Huy Thông và (15) và một số tác giả
khác (Đinh Hùng, Chế Lan Viên, Phạm Văn Hạnh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Vân Đài...).
Chúng tơi chia thành nhóm một số tác giả vì số lượng thơ của mỗi nhà thơ thường rất ít

(3 hoặc 4 bài). Vì là một nhóm tác giả nên khi so sánh chúng tôi không sử dụng kết quả
thống kê của nhóm tác giả này.
Về khái niệm thơ bảy âm tiết, có nhiều cơng trình nghiên cứu gọi tên như "thơ bảy
chữ", "thơ bảy tiếng". Chúng tơi quan niệm vì nghiên cứu về thi luật, về mặt phát âm
của thơ nên luận án dùng khái niệm "thơ bảy âm tiết".
Trong thi điệu, thi tiết và thi đoạn, tùy từng vấn đề mà chúng tôi chọn phạm vi
nghiên cứu khác nhau.
Về thi điệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài là cách tổ chức nhịp điệu (nhịp thơ và
cách ngắt nhịp dòng thơ) của những dòng thơ bảy âm tiết. Trong thi học, có sự phân biệt
giữa nhịp (rhythm) và điểm ngừng (pause). Nhịp là cách ngắt hơi ngắn giữa những âm
tiết trong dòng thơ để tạo nên nhịp điệu và ý nghĩa. Còn điểm ngừng là ngắt nhịp dài
hơn để đánh dấu ranh giới giữa các dòng thơ với nhau. Trong phạm vi chuyên đề này,
chúng tôi chỉ quan tâm đến vấn đề nhịp (rhythm) chứ không quan tâm đến điểm ngừng
(pause).
Về thi tiết, luận án nghiên cứu tiết điệu, chân thơ, bước thơ và mơ hình tiết điệu
của thơ bảy âm tiết. Cũng cần nói thêm, khi nghiên cứu, chúng tôi quan niệm mỗi đoạn
thơ trong bài thơ bảy âm tiết có tư cách như một bài thơ thất ngơn tứ tuyệt vì theo khảo
sát của chúng tơi, mỗi đoạn thơ bảy âm tiết gồm 4 dòng trong Thơ Mới đều có thể xếp
vào luật vần bằng và luật vần trắc. Ở đây cấu trúc tiết điệu của mỗi dịng thơ được phân
tích dựa trên luật vần bằng và luật vần trắc của thất ngôn tứ tuyệt Đường thi.


25

Về thi đoạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài là cách tổ chức những dòng thơ thành
đoạn thơ, cách tổ chức đoạn thơ thành bài thơ của thể thơ bảy âm tiết.
Trong lí thuyết thi đoạn, thuật ngữ “strophe” hiện tồn tại hai cách dịch là “đoạn
thơ” và “khổ thơ”. Về bản chất, thuật ngữ “đoạn thơ” và “khổ thơ” trong tiếng Việt là
như nhau. Luận án sử dụng khái niệm “đoạn thơ” để đảm bảo tính khoa học. Tuy nhiên,
cần lưu ý là, khi luận án trích dẫn khái niệm hay nhận định của một số tác giả về vấn đề

đoạn thơ thì vẫn đảm bảo tính ngun bản trong cách sử dụng khái niệm “khổ thơ” của
tác giả đó.
Về việc xác định đoạn thơ, đối tượng của chúng tôi bao gồm cả một số trường hợp
tổng số chữ trên một dịng khơng đảm bảo đúng luật của thể thơ bảy âm tiết. Bởi xét
thấy sự phá thể đó chứa đựng dụng ý của tác giả và nhìn trong tổng thể thì vẫn đảm bảo
luật thơ. Bên cạnh đó, đối với trường hợp có dịng chấm “....................” giữa các dịng
thơ, để có sự nhất qn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu, người viết quan niệm
đó là dấu hiệu đánh dấu sự ngăn cách đoạn thơ4. Chẳng hạn:
Hơm ấy trăng thu rụng dưới cầu,
Em cười em nói suốt canh thâu,
Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,
Tình đến muôn năm chửa bạc đầu...
Ngày tháng trôi xuôi với ái ân...
Bên cầu lá rụng đã bao lần!

Tình ái hay đâu mộng cuối giời. Nhầm nhau giây lát hận muôn đời Kẻ ra:
non nước, người thành thị

Đơi ngả tình đi, người mỗi nơi.
(LTL, Tình điên, 88)
Trong thi tiết, chúng tơi khái quát nên một số nội dung lí thuyết thi tiết thơ bảy âm
tiết và mô tả cấu trúc tiết điệu, chân thơ, bước thơ của thơ bảy âm tiết. Ngoài ra, chúng
4Cũng có thể những trường hợp này là do sự kiểm duyệt của các nhà quản lí đương thời.


×