Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (95.3 KB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>NỘI DUNG THẢO LUẬN NHÓM 2 PHÂN TÍCH LÝ DO VÀ MỤC TIÊU CƠ BẢN CỦA CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> 1.Lý do của cuộc cải cách: - Trước ngày miền Nam giải phóng nước ta có 2 hệ thống GD khác nhau + Ở miền Bắc GD tổ chức chủ yếu theo mô hình Liên Xô cũ( hệ thống GD 10 năm) + Ở miền Nam GD tổ chức theo mô hình phương Tây,(chủ yếu theo mô hình pháp, và một phần cải tiến theo mô hình Mỹ) vì trong thời điểm trước đó ở miền Nam bị chi phối bởi đế quốc pháp nhiệm vụ cấp bách đề ra cho giáo dục lúc đó là phải xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất theo định hướng XHCN trong cả nước. Tháng 12/1976 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư của Đảng đã vạch ra con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước và xác định “Giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lại của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam XHCN” Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ tư của đảng, ngày 11/01/1976 Bộ chính trị TƯ Đảng đã ra Nghị quyết số 14-.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> 2. Mục tiêu cơ bản của cuộc cải cách giáo dục lần này. - Coi giáo dục là một bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng văn hóa, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. - Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam, con người làm chủ tập thể và phát triển toàn diện. - Thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân. Phấn đấu cho thế hệ trẻ đến tuổi trưởng thành được học đầy đủ đến bậc phổ thông trung học..
<span class='text_page_counter'>(4)</span> -Thực hiện tốt hơn nữa nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất gắn với đào tạo nghề và nghiên cứu thực nghiệm khoa học. - Cải cách cả cơ cấu hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục..
<span class='text_page_counter'>(5)</span> Cuộc cải cách GD lần thứ 3 được triển khai từ năm 1979 và thu được một số kết quả bước đầu: + Đã xác định được một HTGD tương đối hoàn chỉnh,thống nhất trong cả nước từ mầm non đến sau ĐH. + Xây dựng HTGDPT 12 năm thống nhất trong toàn quốc + Biên soạn các bộ SGK mới theo tinh thần cải cách,theo phương châm “cuốn chiếu”bắt đầu từ năm1981-1982 và hoàn thành cho cả hệ thống 12 năm vào năm học 19921993. + Từ sau năm 1976,hệ thống đào tạo sau ĐH được xây dựng và phát triển mạnh mẽ..
<span class='text_page_counter'>(6)</span> . . Từ năm 1979 đến 1982 sau chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc,những khó khăn về KT-XH đã tác động trực tiếp tới nền GD của nước ta,dẫn đến sự xuống cấp của hệ thống nhà trường.Quy mô GD giảm sút,số HS đến trường chững lại hoặc giảm đi,tỷ lệ HS lưu ban bỏ học nhiều,chất lượng GD bị giảm sút rõ rệt.Đời sống GV hết sức khó khăn thiếu thốn. Hiện tượng HS lưu ban bỏ học ở cấp 2 là cao nhất và có xu hướng tăng lên.Tỷ lệ lưu ban: 1979-1980 là 6,4%; 1980-1981là 6,8%; 1983-1984 là 6,42%; 1984-1985 là 5,79%. Tỷ lệ bỏ học tương ứng ở các năm học trên là: 15%; 16%; 17%; 14,35%.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> . . Hàng năm trung bình có 20 vạn HS TNPTTH, nhưng chỉ có 10% dược vào ĐH,chuyên nghiệp,đại bộ phận làm nông nghiệp,Tiểu thủ công nghiệp,lao động có trình độ văn hóa cao chiếm tỷ lệ thấp. Tình hình xuống cấp trên buộc ngành GD không thể không đổi mới cùng với sự đổi mới của đất nước nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của sự phát triển.Cuộc cải cách GD lần thứ 3 cũng được đổi mới theo quá trình này..
<span class='text_page_counter'>(8)</span>
<span class='text_page_counter'>(9)</span>