Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Lý luận của kinh tế chính trị học mác–lênin về tiền tệ và liên hệ thực tiễn các chức năng của tiền tệ trong nền sản xuất hàng hoá ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (498.71 KB, 22 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



MƠN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC –LÊNIN

TIỂU LUẬN

LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC
MÁC–LÊNIN VỀ TIỀN TỆ
VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÁC CHỨC NĂNG
CỦA TIỀN TỆ TRONG NỀN SẢN XUẤT
HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ TRI LÝ
SVTH:
1. Cao Văn Đức Hiền 19344030
2. Nguyễn Trần Nhã Uyên 19125241
3. Vũ Thị Dung 19131027
4. Nguyễn Hồng Thịnh 19344040
Mã lớp học: 201LLCT120205

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 1 năm 2021


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................


..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................

Điểm: ……………………………..

KÝ TÊN


MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
1.1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
1.2. Mục đích của đề tài............................................................................................... 1
1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài ................................................................................. 1
1.3.1. Mục tiêu ......................................................................................................... 1
1.3.2. Nhiệm vụ ....................................................................................................... 1
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 1
1.5. Phương pháp thực hiện ......................................................................................... 2
PHẦN 2: KIẾN THỨC CƠ BẢN ................................................................................... 3
2.1. Lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ ................................................................... 3
2.1.1. Sự phát triển của các hình thái giá trị ............................................................ 3
2.1.2. Bản chất của tiền tệ........................................................................................ 4
2.2. Chức năng của tiền tệ ........................................................................................... 4
2.2.1. Thước đo giá trị ............................................................................................. 4
2.2.2. Phương tiện lưu thông ................................................................................... 5
2.2.3 Phương tiện cất trữ ......................................................................................... 6

2.2.4 Phương tiện thanh toán ................................................................................... 6
2.2.5 Tiền tệ thế giới ................................................................................................ 7
2.3. Công cụ điều tiết của chính sách tiền tệ ............................................................... 7
2.3.1 Cơng cụ nghiệp vụ thị trường mở................................................................... 8
2.3.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc ......................................................................... 8
2.3.3 Công cụ lãi suất .............................................................................................. 8
2.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng .............................................................................. 9
PHẦN 3: VẬN DỤNG .................................................................................................. 10
3.1. Tình hình phát triển của nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện nay ................. 10
3.1.1.Sơ lược .......................................................................................................... 10
3.1.2. Đặc điểm ...................................................................................................... 10
3.1.3. Hội nhập kinh tế quốc tế .............................................................................. 11
3.2. Sự vận dụng lý luận của Các Mác vào nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam ......... 11
3.2.1 Vận dụng vào chính sách giá cả ở Việt Nam ............................................... 11
3.2.2 Vận dụng vào chính sách lãi suất ở Việt Nam ............................................. 12


3.2.3 Vận dụng vào chính sách tiền lương ở Việt Nam ........................................ 13
3.2.4 Vận dụng vào chính sách điều tiết lưu thông ............................................... 14
PHẦN 4: KẾT LUẬN ................................................................................................... 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 18


1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa chính là tiền tệ. Trong
sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới, vấn đề tiền tệ là vấn đề rất được xã
hội quan tâm do việc tiền tệ ra đời làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ được dễ dàng,
thuận tiện hơn.

Tiền tệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau, sự thay thế nhau của các loại
tiền tệ trong từng thời kì. Ở Việt Nam cũng vậy, sự thay đổi của tiền tệ, của hình thái
tiền tệ, lịch sử tiền tệ cũng chịu ảnh hưởng của lịch sử xã hội. Sự thay đổi đi lên của tiền
tệ cũng là một phần để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước.
Chính sự phát triển và vai trị quan trọng của tiền tệ mà nhóm em lựa chọn đề tài
“Lý luận của kinh tế chính trị Mác – Lênin về tiền tệ và liên hệ thực tiễn các chức năng
của tiền tệ trong nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay”.
1.2. Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là trình bày một cách có hệ thống giúp nắm vững những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tiền tệ và sự vận dụng những quan điểm, tư
tưởng quan điểm ấy ở Việt Nam hiện nay.
1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài
1.3.1. Mục tiêu
Tìm hiểu lý luận của kinh tế chính trị học Mác – Lênin về tiền tệ và liên hệ thực tiễn
các chức năng của tiền tệ trong nền sản xuất hàng hoá ở Việt Nam hiện nay.
1.3.2. Nhiệm vụ
Thứ nhất, làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin về tiền tệ.
Thứ hai, liên hệ với các chức năng của tiền tệ trong nền sản xuất hàng hoá ở Việt
Nam.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tiền tệ và
liên hệ thực thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chỉ nghiên cứu những quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về tiền tệ và tìm hiểu liên hệ với các chức năng của tiền tệ trong nền sản
xuất hàng hoá ở Việt Nam.


2
1.5. Phương pháp thực hiện
Một là phương pháp luận của đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Hai là đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển của chủ
nghĩa Mác-Lênin, phương pháp logic – lịch sử, phân tích tổng hợp và phương pháp xử
lý tài liệu.


3
PHẦN 2: KIẾN THỨC CƠ BẢN
2.1. Lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ
2.1.1. Sự phát triển của các hình thái giá trị
Qua hàng ngàn năm phát triển, tiền tệ đã đi qua 4 hình thái giá trị:
Thứ nhất, hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên: được gọi là hình thái ngẫu nhiên vì
chỉ có một hàng hóa đổi lấy một hàng hóa và khơng theo một tỉ lệ trao đổi nhất định
nào. Vật ngang giá có đặc điểm là giá trị sử dụng trở thành hình thức biểu hiện của giá
trị, lao động cụ thể trở thành hình thức biểu hiện cho lao động trừu tượng.
Nhược điểm của hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: trao đổi vật lấy vật, tỷ
lệ trao đổi ngẫu nhiên, vật ngang giá chưa cố định, giá trị của một hàng hóa chỉ được
phát hiện ở một hàng hóa nhất định khác với nó, chứ khơng biểu hiện ở mọi hàng hóa
khác. Khi trao đổi hàng hóa phát triển cao hơn, có nhiều mặt hàng hơn. địi hỏi giá trị
của một hàng hóa phải được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác với nó. Do đó, hình thái
giá trị giản đơn tự nó chuyển sang hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
Thứ hai, hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi lực lượng sản xuất phát triển
hơn, sau khi có phân cơng lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt,
trao đổi trở nên thường xun hơn, một hàng hố này có thể quan hệ với nhiều hàng hoá
khác. Tương ứng với giai đoạn này là hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
Nhược điểm: trao đổi vật lấy vật, vật ngang giá chưa cố định...
Thứ ba, hình thái chung của giá trị: Với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng
sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng hoá được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa
dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi
thóc, nhưng người có thóc lại khơng cần vải mà lại cần thứ khác. Vì thế, việc trao đổi

trực tiếp khơng cịn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi. Trong tình hình đó, người ta
phải đi con đường vịng, mang hàng hố của mình đổi lấy thứ hàng hố mà nó được
nhiều người ưa chuộng, rồi đem hàng hố đó đổi lấy thứ hàng hố mà mình cần. Khi vật
trung gian trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hố được nhiều người ưa chuộng,
thì hình thái chung của giá trị xuất hiện.


4
Nhược điểm: vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hố. Các địa
phương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau.
Thứ tư, hình thái tiền tệ: Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có
nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn do
đó dẫn đến địi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất. Khi vật
ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái
tiền tệ của giá trị.
Hình thái tiền tệ là hình thái hồn thiện nhất, là kết quả của quá trinhg phát triểnsản
xuất và trao đổi hàng ngàn năm.
2.1.2. Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hố, là sản phẩm của quá trình phát triển
sản xuất và trao đổi hàng hoá. Các nhà kinh tế trước C. Mác giải thích tiền tệ từ hình
thái phát triển cao nhất của nó, bởi vậy đã khơng làm rõ được bản chất của tiền tệ. Trái
lại, C. Mác nghiên ứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao dổi hàng hoá, từ
sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hố, do đó đã tìm thấy nguồn gốc và bản chất
của tiền tệ.
2.2. Chức năng của tiền tệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tiền tệ có 5 chức năng.
2.2.1. Thước đo giá trị
K.Marx cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị thì trước hết tiền tệ phải
là tiền thực, nghĩa là tiền phải có giá trị và được xác định đơn vị (xác định hàm lượng

kim loại quý trong một đơn vị tiền tệ) - tiêu chuẩn giá cả. Tiền được dùng để biểu hiện
và đo lường giá trị của tất cả hàng hóa. Ví dụ như 1 USD = 0.88864 gram vàng, 35 USD
= 1 ounce vàng hay 1GDP = 26 gram vàng. Gía trị của hàng hóa được biểu hiện bằng
một số tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa hay giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền
của giá trị hàng hóa. Để thực hiện được chức năng này, bản thân tiền tệ cũng phải có giá
trị. Vì vậy, tiền phải là tiền vàng hoặc bạc. Chẳng hạn, 10 con gà có giá 5 đồng bạc, 2
con bị có giá 1 đồng vàng mà 1 đồng vàng trị giá bằng 5 đồng bạc. Nếu giá trị của hàng
hóa cao thì nó có giá cả cao. Nếu giá trị của hàng hóa thấp thì kéo theo giá cả của nó


5
thấp. Người ta ngầm hiểu là dùng tiền vàng để đo lường giá trị hàng hóa vì giữa giá trị
của vàng và giá trị hàng hóa đã phản ánh lượng lao động xã hội hao phí nhất định. Ở
mỗi nước, đơn vị tiền tệ có tên gọi khác nhau. Chẳng hạn ở Pháp 1 đồng frăng hàm
lượng vàng là 0,160000 gram, ở Anh 1 đồng Fun St’zelinh có hàm lượng vàng là
2,13281 gr. Giá vàng hiện nay khoảng USD 640 một ounce tức là khoảng 20.000 đôla
Mỹ một kg, giá trị toàn bộ dự trữ vàng của thế giới là chừng 2,5 nghìn tỷ đơla Mỹ.
2.2.2. Phương tiện lưu thơng
Lúc này, tiền làm mơi giới trong trao đổi hàng hóa và tiền tệ phải là tiền mặt. Trao
đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa. Cơng thức lưu thơng hàng
hóa là: H-T-H (hàng- tiền- hàng). H-T là quá trình bán, T-H là quá trình mua. Người ta
bán hàng hóa mình có lấy tiền và dùng tiền để mua hàng hóa mình cần. Chẳng hạn như
anh A nuôi 10 con heo (hàng), anh bán 5 con được 50 đồng vàng (tiền). Anh lại dùng
50 đồng vàng này mua 1 mảnh đất nhỏ để trồng lúa (hàng).
Trong lưu thông, lần đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức tiền vàng, tiền bạc (vàng
thỏi, bạc nén). Tiền đã trải qua quá trình hình thành và phát triển trong hơn 5.000 năm.
Ban đầu nhà nước đúc vàng thành những đơn vị tiền tệ nhất định. Trong thế kỷ 18, giá
trị của các loại tiền tệ của châu Âu được định nghĩa thông qua lượng kim loại quý. Một
tiền tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi đồng tiền được tính trên hay dưới giá trị
của kim loại trong lúc tính tốn với các tiền tệ khác trên thế giới. Năm 700 trước Công

nguyên, Pheidon – vua của thành bang Hy Lạp cổ đại Argos – là người cai trị đầu tiên
đã chính thức thiết lập tiêu chuẩn về khối lượng và tiền bạc. Ông cho đúc tiền xu bằng
kim loại quý bạc thay vì sắt trong đền thờ nữ thần trí tuệ và chiến tranh Athena tại
Aegina. Mặt trước của những đồng tiền xu là hình ảnh một con rùa biển. Theo nhà sử
học Herodotus,những đồng tiền xu vàng đầu tiên được đúc tại vương quốc Lydia ở Tiểu
Á- một bán đảo của châu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay- dưới thời vua Croesus. Đến
năm 390 trước Cơng ngun thì vua Philip II của vương quốc Macedonia mới cho lưu
hành các đồng xu vàng đầu tiên. Tuy nhiên, lượng vàng trên thế giới là quá nhỏ so với
lượng tiền cần thiết để duy trì hoạt động kinh tế tồn cầu. Do đó, tiền ký hiệu giá trị-tiền
giấy ra đời. Tiền giấy hoặc giấy bạc lần đầu tiên xuất hiện tại Trung Quốc trong giai
đoạn từ năm 600 đến năm 1455, chủ yếu lưu hành trong thời nhà Tống. Những tờ giấy


6
bạc gọi là Jiaozi đã được sử dụng từ thế kỷ 7 sau Công nguyên. Tại châu Âu, giấy bạc
ngân hàng (banknote) đầu tiên được ngân hàng Stockholms Banco ở Thụy Điển phát
hành năm 1661.
Tiền giấy ra đời giúp trao đổi hàng hóa được tiến hành dễ dàng và ít tốn kém hơn.
Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Tuy nhiên, bản
thân tiền giấy khơng có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong
phạm vi quốc gia. Gía trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Vì vậy, nhà
nước phải tuân theo quy luật : “Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số
lượng vàng hay bạc do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thơng thực sự”. Khi số
lượng tiền giấy được nhà nước phát hành vượt quá số lượng tiền cần cho lưu thông, giá
trị của tiền sẽ giảm xuống và kéo theo lạm phát xuất hiện.
2.2.3 Phương tiện cất trữ
Chức năng phương tiện cất trữ là một chức năng khác của tiền tệ. Tiền là đại biểu
cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, do đó khi cất trữ tiền là đang cất trữ của cải.
Thay vì cất trữ hàng hóa như gạo, thóc, lương thực, các loại hàng hóa cồng kềnh có thể
bị hao mịn theo thời gian và tốn kém các chi phí để cất trữ, người ta cất trữ tiền. Lúc

này, tiền được rút ra khỏi lưu thông và đi vào cất trữ. Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, tiền
thỏi, bạc nén và các của cải bằng vàng, bạc mới làm được chức năng này. Tiền sẽ được
rút ra và đưa vào lưu thông khi cần thiết.
Chúng ta thường thấy hình ảnh những người xưa cất trữ các thỏi vàng, thỏi bạc
trong các hũ và chôn xuống đất. Ở nước ta hiện nay việc người dân mua vàng khơng chỉ
mang mục đích làm đồ trang sức mà cịn để cất trữ. Khi sản xuất tăng, lượng hàng hóa
nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thơng. Khi sản xuất giảm, lượng hàng hóa ít thì
tiền vàng được rút khỏi lưu thông, đi vào cất trữ.
2.2.4 Phương tiện thanh toán
Quan điểm của M. Freidman và các nhà kinh tế học hiện đại: “tiền là các phương
tiện thanh toán”. Nó là phương tiện trao đổi. Ngày nay, tiền dùng để trả nợ, trả tiền mua
chịu hàng hóa, mua bán thơng qua chế độ tín dụng, thanh tốn khơng cần tiền mặt mà
dùng tiền trong tài khoản, tiền ngân hàng ( hình thức chuyển khoản , quẹt thẻ), tiền điện
tử. Chức năng của tiền tệ có thể làm phương tiện thanh toán bằng tiền mặt, séc, tiền điện


7
tử, thẻ tín dụng… “Khi sản xuất và trao đổi hàng hố phát triển đến một trình độ nào đó
tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong việc mua bán chịu người mua trở thành con
nợ, ngươi bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi. Và
đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó khơng thanh tốn. Điều này sẽ gây khó khăn
cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên”. Trong
kinh tế học, tiền được quan niệm là bất cứ 1 phương tiện nào được thừa nhận chung để
thanh toán cho việc giao hàng hoặc để thanh tốn nợ nần.
Ví dụ, ơng A muốn mua trả góp ngơi nhà trị giá 3 tỷ đồng trong vịng 10 năm, ơng
phải trả lãi suất ngân hàng7,49% /năm. Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền
làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa, ngơi nhà có giá trị 3 tỷ đồng.
Nhưng vì ơng A mua bán chịu nên khi đến kỳ hiện thanh tốn, tiền được đưa vào lưu
thơng để làm phương tiện thanh tốn. Ngân hàng có quyền thu hồi lại ngôi nhà nếu ông
A không đủ khả năng chi trả. Ông A trở thành con nợ, ngân hàng trở thành chủ nợ.

2.2.5 Tiền tệ thế giới
Tiền không chỉ được dùng trong phạm vi một quốc gia mà cịn có thể sử dụng để
trao đổi hàng hóa tại các quốc gia khác nhau, khi đó tiền thực hiện chức năng tiền tệ thế
giới. Tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với
nhau. Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng, tiền tín dụng
hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế.
Hiện nay, việc đi du lịch trở thành nhu cầu của mọi người.Khi đi du lịch sang Mỹ,
chúng ta phải đổi tiền VNĐ sang USD với mệnh giá tương đương. Tính đến thời điểm
hiện tại, 23.000 VNĐ=1 USD. Như vậy, khi mua 1 chiếc mũ giá 20USD trị giá tương
đương với 460.000 VNĐ.
2.3. Công cụ điều tiết của chính sách tiền tệ
Cơng cụ của chính sách tiền tệ bao gồm các công cụ chủ yếu để điều chỉnh mức
cung tiền như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất cho vay tái chiết
khấu.
Các cơng cụ chính sách này sẽ tác động vào cung tiền và lãi suất, rồi nhờ ảnh
hưởng của lãi suất đến đầu tư mà tác động vào tổng cầu, từ đó đưa nền kinh tế về trạng
thái cân bằng.


8
2.3.1 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Công cụ nghệp vụ thị trường là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy
tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hịa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh
hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả
năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối
lượng tiền tệ.
Số tiền mà nó trả cho các ngân hàng và cơng chúng làm tăng dự trữ của các ngân
hàng. Mức dự trữ dôi ra cho phép các ngân hàng tăng mức cho vay của mình. Điều này
dẫn tới việc tạo ra mức tiền gửi ngân hàng lớn gấp nhiều lần so với mức tăng dự trữ ban
đầu. Nghiệp vụ thị trường mở hoạt động khi Ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán

ra các chứng khốn tài chính trên thị trường mở.
Ví dụ, nếu ngân hàng in thêm một triệu đồng và dùng chúng để mua các trái phiếu
của chính phủ trên thị trường tự do. Như vậy, các ngân hàng thương mại và tư nhân bị
mất đi lượng chứng khoán trị giá một triệu đồng nhưng đổi lại, họ có thêm một triệu
đồng tiền mặt, điều đó làm cung tiền tăng. Ngược lại, nếu Ngân hàng trung ương bán ra
một triệu đồng trái phiếu chính phủ thì qui trình sẽ đảo ngược và cung tiền sẽ giảm.
2.3.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ
lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để
đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ
dữ trữ bắt buộc nhưng khơng được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt
tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng
trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ
của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số
nhân tiền tệ.
Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc thay đổi thì cung tiền sẽ thay đổi. Trường hợp tỉ lệ dự
trữ bắt buộc tăng, cung tiền sẽ giảm. Do đó, bằng cách thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc,
Ngân hàng trung ương có thể điều tiết được cung tiền.
2.3.3 Công cụ lãi suất
Công cụ lãi suất được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền
tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền


9
trong lưu thơng, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Đó là một cơng cụ rất
lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách
và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường
tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
2.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng
Quản lý hạn mức tín dụng là một cơng cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành

chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các
tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương
buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Việc
định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô như tốc độ tăng trưởng, lạm phát,.. Sau đó Ngân hàng Trung ương sẽ phân bổ cho
các Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Thương mại không thể cho vay vượt quá
hạn mức do Ngân hàng Trung ương quy định. Từ đó, quản lý hạn mức tín dụng giúp
Ngân hàng Trung ương điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công
cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai
đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế.


10
PHẦN 3: VẬN DỤNG
3.1. Tình hình phát triển của nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện nay
3.1.1.Sơ lược
Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm sản xuất của các nước xã hội
chủ nghĩa đất nước ta bắt đầu xây dựng mơ hình kế hoạch hóa tập trung dựa trên hình
thức sở hữu cơng cộng về tư liệu sản xuất. Với sự nỗ lực của nhân dân ta cộng thêm sự
giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủ nghĩa khác, mơ hình kế hoạch hóa đã phát huy
được những tính ưu việt của nó. Từ một nền kinh tế hàng hóa lạc hậu và phân tán bằng
công cụ kế hoạch Nhà nước đã tập trung vào tay mình một lực lượng quan trong về đất
đai, tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế. Ngay từ tháng 8 năm 1979, Nhà
nước ta đã chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa. Chỉ thị 1000 của ban Bí thư trung
ương và quyết định số 25/CP của Chính phủ năm 1981 đã để cho các hợp tác xã tự chủ
trong sản xuất kinh doanh. Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lởn nước ta là quá trình chuyển từ nền inh tế tự cung tự cấp
sang nền kinh tế hàng hóa. Điều quan trọng là ở đây chúng ta không chỉ thừa nhận từng
khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hóa mà là cả một nền kinh tế hàng hóa, coi
đó là một q trình có tính quy luật đi lên sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tại hội

nghị trung ương 6 (khóa VI, 3/1989) và Đại hội VII (6/1991) trên cơ sở nhận thức sâu
hơn về tình hình đất nước, Đảng ta mới có điều kiện nói rõ và nhấn mạnh “ Nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
là hồn tồn cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất của xã
hội”.
Đến đại hội lần VIII (6/1996) trên cơ sở kế thừa những đường lối, chủ trương đúng đắn
về việc sử dụng kinh tế hàng hóa do các đại hội trước đề ra, Đảng ta đã xác định rõ hơn
vai trị của kinh tế hàng hóa – mà phát triểncao hơn chính là kinh tế thị trường “ Cơ chế
thị trường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng
những khơng đối lập mà cịn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và
phát triển đất nước theo con đương xã hội chủ nghĩa”.
3.1.2. Đặc điểm
3.1.2.1. Tiềm năng
Có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, vị trí địa lí thuận lợi.


11
Có sức lao động dồi dào, trình độ văn hóa, trình độ về chun mơn so với nhiều
nước đang phát triển thì nước ta ở mức trung bình.
Chúng ta có đường lối, chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà
nước.
3.1.2.2. Hạn chế
Tuy là nước nơng nghiệp nhưng bình quân ruộng đất canh tác theo đầu người
thấp.
Nền kinh tế kém phát triển, mang nặng dấu ấn của kinh tế tự nhiên, còn chịu
ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thi trường chưa phát triển và chưa
đồng bộ, thu nhập quốc dân theo đầu người thấp, sức mua còn hạn chế.
Kết cấu hạ tầng cơ sở cịn kém phát triển, trình độ khoa học kĩ thuật chưa cao,
hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập…
Đảng và Nhà nước ta đang có những chính sách, giải pháp để khắc phục những

hạn chế trên.
3.1.3. Hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt
Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết
về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),... Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ
thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song
phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.
3.2. Sự vận dụng lý luận của Các Mác vào nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam
3.2.1 Vận dụng vào chính sách giá cả ở Việt Nam
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, thị trường càng sơi động, thì giá trị
tiền tệ càng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong giá cả hàng hoá. Giá cả tiền tệ được thể
hiện ngay trong mỗi yếu tố hình thành nên giá trị hàng hố.
Giả sử nhu cầu về tiền thực tế không thay đổi theo thời gian, một sự gia tăng
mức cung tiền danh nghĩa nhất định phải dẫn đến một lượng tăng tương đương trong
mức giá. Có thể nói, sự thay đổi trong mức cung tiền gây ra sự thay đổi về giá cả.
Sự thay đổi giá cả này phụ thuộc vào hai yếu tố sau đây:
Một là sự tăng lượng cung tiền sẽ gây ra sự tăng giá.


12
Hai là nếu có điều gì khác làm cho mức giá tăng lên và chính phủ điều tiết sự
tăng giá này bằng cách in thêm tiền thì cả khối lượng tiền và giá cả sẽ lại tăng thêm.
Trên thực tế, nếu như sự tăng lượng cung tiền danh nghĩa kéo theo sự thay đổi
tương ứng của tiền lương và giá cả thì điều đó sẽ dẫn đến hậu quả nguy hiểm đối với
nền kinh tế. Khi tiền lương tăng nhanh, về cơ bản nó sẽ làm cho giá tăng lên nhanh để
đảm bảo mức cung tiền thực tế chỉ thay đổi một cách chậm chạp tương ứng với những
thay đổi về nhu cầu tiền tệ.
Sự tác động của yếu tố tiền tệ đến sự hình thành và vận động của giá thị trường
là hết sức sức phức tạp. Sự trình bày ở trên tuy đơn giản, song đã cho ta thấy được mối

quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền tệ và giá cả. Do vậy, quản lý giá cả không
thể tách rời quản lý tiền tệ. Khi chưa có cơ chế quản lý đầy đủ để tiền tệ thực hiện đúng
chức năng của mình, thì vẫn chưa thể có được hệ thống giá cả khách quan, đúng nghĩa
với giá thị trường.
Ổn định chính sách giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh
tế vĩ mô. Ổn định giá cả giúp cho Nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển
kinh tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động của giá cả. Ổn định chính
sách giá cả giúp cho mơi trường đầu tư ổn định góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thác
mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp cũng như các cá nhân sản xuất đem
lại nguồn lợi cho mình cũng như xã hội.
3.2.2 Vận dụng vào chính sách lãi suất ở Việt Nam
Định nghĩa: Là một chính sách trong đó Nhà nước sử dụng lãi suất như là một
công cụ để điều chỉnh khối lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế theo các mục tiêu
của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân.
Ý nghĩa: Lãi suất là giá cả tiền tệ liên quan đến lạm phát. Lãi suất bị tác động
của chính sách tiền tệ là cơng cụ của chính sách tiền tệ. Lãi suất là cơng cụ so sánh (quy
đổi) các dịng tín dụng (đồng tiền).
Thực trạng: Kể từ khi thực hiên chính sách cải cách và mở cửa, chuyển nền
kinh tế kế hoạc hóa sang hoạt động theo cơ chế thị trường, toàn bộ hệ thống tổ chức và
hoạt động của ngân hàng nhà nước đã được đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết
quả bước đầu đáng khích lệ. Nhiều đổi mới tồn diện chính sách tiền tệ từ hoạc định đến
chỉ đạo thực hiện, bằng việc sử dụng các tình thế mạnh dạn lúc đầu, đến sử dụng từng


13
bước có hiệu quả các cơng cụ của chính sách tiền tệ, lạm phát bị đẩy lùi và kiểm soát ở
mức thấp, yêu cầu ổn định tiền tệ bước đầu được thực hiện góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, phục vụ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Để có được kết quả đó, bản thân cơng tác hoạch định và điều hành chính sách
tiền tệ cũng trải qua khơng ít khó khăn, khơng ngừng được đổi mới và hồn thiện.

Ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như cơng cụ chính của chính sách tiền tệ,
nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường. Nó là cơng cụ quan trọng để chuyển các ngân hàng sang cơ chế hạch tốn
kinh doanh. Lãi suất là cơng cụ được sử dụng thường xuyên nhất trong điều hành chính
sách tiền tệ ở Việt Nam lãi suất không nhạy cảm lầm so với đầu tư. Trong nền kinh tế
thị trường, về mặt nguyên tắc lãi suất phải được hình thành trên cơ sở cung cầu vốn trên
thị trường. Việc kiểm soát lãi suất của ngân hàng nhà nước hiện nay là một kiểu can
thiệp giả của nhà nước. Nếu cứ như vậy thì sẽ là khơng phù hợp trong tương lai khi mà
nền kinh tế thị trường của Việt Nam phát triển tồn diện hơn.
Mong muốn có một sự ổn định lãi suất vì những biến động của lãi suất làm cho
nền kinh tế bấp bênh và khó lập kế hoạch cho tương lai. Vì vậy, ổn định lãi suất chính
là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh tốn, cho nền kinh tế quốc dân
thơng qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các
nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo phải linh hoạt, phù hợp
với sự vận động của cơ chế thị trường.
3.2.3 Vận dụng vào chính sách tiền lương ở Việt Nam
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta đạt được nhiều
thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
dân, thể hiện qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, đầu tư phát triển giáo
dục đào tạo, phát triển y tế nâng cao sức khỏe cho nhân dân… tiền công của người dân
cũng nhiều lần được thay đổi để phù hợp với nhu cầu cuộc sống. Năm 2021 là năm đầu
tiên Bộ luật Lao động 2019 chính thức được áp dụng với nhiều điểm mới trong quy định
về lương thưởng. Ngoài ra dưới tác động của Covid-19 thì chính sách tiền lương năm
2021 khu vực doanh nghiệp cũng có nhiều thay đổi, cụ thể thì tiền cơng tối thiểu theo
vùng được quy định như sau:
Vùng I: 4.420.000 đồng/tháng (tăng 920.000 đồng/tháng so với năm 2016).


14
Vùng II: 3.920.000 đồng/tháng (tăng 820.000 đồng/tháng so với năm 2016).

Vùng III: 3.430.000 đồng/tháng (tăng 730.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Vùng IV: 3.070.000 đồng/tháng (tăng 670.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Như vậy, tính bình qn chung 4 vùng, mức tăng lương tối thiểu vùng năm 2021
được Hội đồng tiền lương Quốc gia đề xuất là 785.000 đồng/tháng.
Với việc tăng mức tiền cơng tối thiểu đã góp phần giúp đời sống cho cán bộ,
công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp đáp ứng
các nhu cầu thiết yếu của mình, giải quyết khó khăn của người làm công ăn lương cho
đời sống, các nhu cầu hàng ngày cuộc sống như : ăn, ở, con cái, gia đình…Nó cũng đã
thể hiện đường lối đúng đắn của nhà nước trong việc quan tâm đến đời sống nhân dân,lo
lắng cho nhân dân. Ngồi ra khơng chỉ đáp ứng riêng nhu cầu vật chất mà về tinh thần
thì tăng lương cũng giúp cho tâm trạng người lao động cảm thấy vui hơn, kích thích khả
năng sang tạo, tang gia sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tăng tiền công tối thiểu cũng cho thấy rằng sự coi trọng hàng hóa sức lao động
của người lao động hơn. Theo thời gian hàng hố sức lao động càng có giá trị cao hơn
trước,phù hợp với lượng sức lao động mà người lao động phải bỏ ra.
Tiếp đó, tiền cơng danh nghĩa của cán bộ cơng chức viên chức có xu hướng
tăng do nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng
trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa, từng bước
tiền tệ hóa các khoản ngồi lương nhằm khắc phục bình qn, bao cấp và ổn định đời
sống của cán bộ công chức viên chức.
Qua những năm gần đây cũng cho thấy quan điểm chủ trương về chính sách
của Đảng; phát huy vai trị của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã
hội trong việc thực hiện cải cách chính sách tiền lương đồng bộ với sắp xếp tổ chức bộ
máy, tinh giản biên chế là phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
3.2.4 Vận dụng vào chính sách điều tiết lưu thơng
Chính sách điều tiết lưu thông tiền tệ ở Việt Nam
Áp dụng những lý luận về tiền tệ để đảm bảo giá cả được ổn định, giữ giá đồng
tiền, phát triển kinh tế một cách bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng của
việc quản lý nền kinh tế vĩ mô của nhà nước. Trong các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà



15
nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động
trực tiếp vào lĩnh vực lưu thơng tiền tệ. Nó cũng có những quan hệ chặt chẽ với các
chính sách kinh tế vĩ mơ khác như: chính sách tài khố, chính sách thu nhập, chính sách
kinh tế đối ngoại. Những nội dung chính của chính sách tiền tệ ở Việt Nam bao gồm:
Một là, cung ứng và điều hoà khối lượng tiền tệ ngân hàng nhà nước tăng hay giảm
khối lượng tiền tệ để duy trì tương quan giữa tổng cung và tổng cầu giữa tiền và hàng.
Hai là, chính sách tín dụng cho nền kinh tế: Khi các ngân hàng thương mại và có các
tổ chức tín dụng thiếu khả năng thanh tốn thì họ đến ngân hàng trung ương xin tái cấp
vốn. Ngân hàng trung ương ln đóng vai trị là một tổ chức cho vay cuối cùng để thúc
đẩy các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng huy động tối đa lượng tiền nhàn rỗi
trong dân chúng để đầu tư phát triển kinh tế.
Ba là, chính sách quản lý ngoại hối: Hướng vào việc ngăn chặn tích cực ngoại tệ
trong các doanh nghiệp và tầng lớp nhân dân. Đề thực hiện việc ổn định giá cả của đồng
tiền quốc gia, ngân hàng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ: quản lý ngoại hối, lập bảng
theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ
chức điều tiết thị trường hối đoái, tổ chức điều tiết thị trường hối đoái, xây dựng và
thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia,…
Bốn là, chính sách tạm ứng cho ngân hàng nhà nước:
Trường hợp ngân sách cân bằng: Chính phủ thu thuế vào ngân sách, ngân sách
chi ra cho bộ máy quản lý nhà nước và nền kinh tế lượng tiền vẫn nằm nguyên trong lưu
thông.
Trường hợp ngân sách thiếu hụt: lúc này chi lớn hơn thu, giải quyết bằng bốn
cách: vay của dân, vay của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng , vay của ngân hàng
nhà nước, vay nợ nước ngoài.
Trường hợp ngân sách thặng dư: khối lượng tiền tệ trong thị trường được rút
bớt cất đi.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương.

Có thể nói chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt mọi hoạt động của Ngân hàng trung
ương. Các hoạt động khác của Ngân hàng trung ương đều nhằm thực thi chính sách tiền
tệ đạt được các mục tiêu đó. Trong những năm qua, những nội dung chính của chính
sách tiền tệ đã được ngân hàng nhà nước thực hiện thông qua các công cụ của chính


16
sách tiền tệ sau: Công cụ lãi suất Khi sử dụng các cơng cụ của chính sách tiền tệ của
ngân hàng trung ương (thị trường mở, chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, v.v….) đều có
tác động đến lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế.


17
PHẦN 4: KẾT LUẬN
Tóm lại, ta có thể khẳng định lý luận về tiền tệ của Mác-Lênin và sự vận dụng
lý luận về tiền tệ có vai trị vơ cùng quan trọng đối với nền kinh tế hàng hóa, dịch vụ thị
trường ở Việt Nam hiện nay. Qua toàn bộ bài tiểu luận ta đã phân tích và nắm rõ nguồn
gốc của tiền tệ, cũng như các bản chất của tiền tệ và đồng thời phân tích các chức năng
của tiền tệ như thước đo giá trị là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Các chức năng,
đặc điểm trên của tiền tệ có quan hệ mất thiết với nhau. Trong sản xuất và lưu thơng
hàng hố càng phát triển các chức năng trên càng thể hiện rõ ràng .
Việc vận dụng lý luận về tiền tệ của Mác-Lênin cần có sự linh hoạt , chính xác,
phù hợp để đem lại nhiều lợi ích trong việc thúc đẩy, phát triển một cách bền vững nền
kinh tế hàng hóa ở nước ta. Điều này địi hỏi phải có những định hướng và giải pháp
dung đắn, đồng bộ giữa Chính phủ, Đảng và toàn thể nhân dân, đẩy mạnh sự tham gia
của nhiều thành phần kinh tế trên thị trường mở, thị trường tài chính. Mặt khác phải tạo
điều kiện để đầu tư phát triển kinh tế, giảm bớt sức ép về cung ứng vốn đối với hệ thống
ngân hàng thương mại….
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc áp dụng các cơng cụ của chính sách tiền tệ ln

địi hỏi phải có sự phù hợp, hiệu quả. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới việc áp
dụng các cơng cụ điều tiết trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiềm chế
lạm phát và thúc đẩy trưởng kinh tế. Tuy vậy thời gian gần đây chúng đã bộc lộ rõ những
hạn chế khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới. Trong khi đó các cơng
cụ điều chỉnh gián tiếp mới được đưa vào sử dụng và chưa thực sự phát huy hết, hoặc
chưa thể hiện rõ vai trò của nó do nhiều nguyên nhân gắn với thực lực của nền kinh tế.
Từ đó địi hỏi chúng ta phải có những định hướng và giải pháp đúng trong việc
hồn thiện các cơng cụ đó. Để có được điều này, bên cạnh sự định hướng đúng đắn của
Đảng và Nhà nước, cần phải có sự phát triển đồng bộ về năng lực ngân hàng nhà nước
… và nhiều sự phối hợp đồng bộ khác.


18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách, Giáo Trình
1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin, Hà Nội, 2019
2. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Cơ Bản Của Chủ
Nghĩa Mác-Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
Internet
1. Trần Hải Hạc, “Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá” , Phân tích kinh tế, truy cập tại
link: ngày truy cập 01/12/2020.
2. Thế Đạt, ”Sự thật bất ngờ: Tiền đã xuất hiện cách đây 5.000 năm”, Tạp chí Cơng
thương, truy cập tại link: ngày truy cập 9/12/2020.
3. Alan Tiến, “5 chức năng của tiền tệ và ví dụ cụ thể, Kỹ năng quản trị”, truy cập tại
link: ngày truy cập 9/12/2020.
4. Diệu Nhi, “Chính sách tiền tệ là gì? Cơng cụ của chính sách tiền tệ?”, Kinh tế tiêu
dùng, truy cập tại link: ngày truy cập 9/12/2020.




×