Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

Đại Biểu Quốc Hội - Lý Luận Và Thực Tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (874.47 KB, 41 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA LUẬT
---------- oOo ----------

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015
/XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT"
NĂM 2015

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội và Nhân văn


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA LUẬT
---------- oOo ----------

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015
/XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT"
NĂM 2015

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Sinh viên thực hiện: THÁI QUỐC HUY - Nam, Nữ: Nam
Dân tộc: Kinh


Lớp, khoa: D13LU02 – Khoa Luật - Năm thứ: 2 / Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Luật

Người hướng dẫn: TS. NGUYỄN DUY HƯNG


UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
- Sinh viên thực hiện: Thái Quốc Huy – Lê Thị Minh Trang
- Lớp: D13LU02, D13LU04

Khoa: Luật

Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Duy Hưng
2. Mục tiêu đề tài:
Đề tài nghiên cứu nhằm đi sâu phân tích, làm rõ lý luận và thực tiễn về đại biểu
Quốc hội. Thơng qua việc đánh giá tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội, tìm
hiểu nguyên nhân của những hạn chế, bất cập từ đó đề ra những giải pháp nhằm khắc
phục và tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động đại biểu Quốc hội.
3. Tính mới và sáng tạo:
Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng như thế giới, vấn đề đại biểu Quốc hội

đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ và mức độ khác nhau. Một số
nghiên cứu có thể kể đến như: “Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực
tiễn” – Văn phòng Quốc hội, 2005; “Nữ đại biểu trong Quốc hội Việt Nam - từ tham
gia đến đại diện” – UNDP (Tổ chức phát triển Liên hợp quốc), 2014; các bài nghiên
cứu, phân tích trên các tạp chí chuyên ngành; các luận văn chuyên ngành luật;… Tuy
nhiên các nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào phân tích một khía cạnh riêng lẻ mà chưa có
một nghiên cứu tồn diện, tổng hợp và phân tích về vấn đề đại biểu Quốc hội. Do đó
thơng qua bài nghiên cứu nhóm tác giả đã tổng hợp, phân tích, phát triển các quan
điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, từ đó khái quát và chỉ ra bản chất vấn đề đại
biểu Quốc hội.

Qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đại biểu Quốc hội nhóm tác
giả đã chỉ ra những hạn chế, bất cập trong hoạt động đại biểu Quốc hội, đặc biệt là


những bất cập mang tính nhạy cảm trong hoạt động chất vấn. Song song đó, nhóm tác
giả cũng đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đại biểu Quốc hội, trong
đó nổi bật là kiến nghị đề xuất tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên 50% để phù hợp với
thực tế hoạt động đại biểu Quốc hội.
4. Kết quả nghiên cứu:
Bài nghiên cứu đã chỉ ra bản chất lý luận về đại biểu Quốc hội, đồng thời nêu
lên những bất cập, chỉ rõ nguyên nhân và đưa ra kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động đại biểu Quốc hội.
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
-

Ý nghĩa khoa học: những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tổng kết lý
luận về đại biểu Quốc hội.


-

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
đại biểu Quốc hội. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cịn có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban ngành trong quá trình xây dựng
những quy định pháp luật, tài liệu tham khảo phục vụ học tập cho sinh viên các
ngành khoa học Xã hội và Nhân văn tại các trường cao đẳng, đại học.
Ngày 25 tháng 03 năm 2015
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
...........................................................................................................................................
.....
...........................................................................................................................................
.....
...........................................................................................................................................
.....
...........................................................................................................................................
.....


...........................................................................................................................................
.....
Ngày
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)


tháng

năm

Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)


UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THƠNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: THÁI QUỐC HUY
Sinh ngày:

25

tháng

03

năm 1995

Nơi sinh: Bình Dương

Lớp: D13LU02

Khóa: 2013-2017

Khoa: Luật
Địa chỉ liên hệ: 389 Huỳnh Văn Lũy – P.Phú Mỹ - Tp.Thủ Dầu Một – T.Bình Dương
Điện thoại: 01665 372 373

Email:

II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang
học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Luật

Khoa: Luật

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Xếp loại rèn luyện: Xuất sắc
Đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” cấp trường
* Năm thứ 2 (Học kì I):
Ngành học: Luật

Khoa: Luật

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Xếp loại rèn luyện: Xuất sắc

Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)


Ngày 25 tháng 03 năm 2015
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)


UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỂ TÀI

I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: LÊ THỊ MINH TRANG
Sinh ngày: 15 tháng 12 năm 1995
Nơi sinh: Bình Dương
Lớp: D13LU04

Khóa: 2013-2017

Khoa: Luật
Địa chỉ liên hệ: 84/12, Khu 2, Tổ 6, phường Phú Hòa, Tp.Thủ Dầu Một – T.Bình Dương
Điện thoại: 097 805 2579

Email:


II. Q TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang
học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Luật

Khoa: Luật

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Xếp loại rèn luyện: Xuất sắc
Đạt danh hiệu: “Sinh viên 5 tốt” cấp trường
* Năm thứ 2 (Học kì I):
Ngành học: Luật

Khoa: Luật

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Xếp loại rèn luyện: Xuất sắc

Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)

Ngày 25 tháng 03 năm 2015
Sinh viên tham gia nghiên cứu đề tài
(ký, họ và tên)


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI

1.1.Những vấn đề lý luận về đại biểu Quốc hội.......................................................4
1.1.1.Khái niệm chung về đại biểu Quốc hội...............................................................4
1.1.2.Đại biểu Quốc hội – thành viên cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất..............6
1.1.3.Đại biểu Quốc hội – người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, nhân tố tiên quyết cho tính dân chủ trong pháp luật....................................7
1.1.4.Đại biểu Quốc hội – Chủ thể có quyền chất vấn.................................................9
1.2.Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về đại biểu Quốc hội.................11
1.2.1.Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội..................................................................11
1.2.2.Những đảm bảo pháp lý cho hoạt động đại biểu Quốc hội.................................14
1.2.3.Trách nhiệm pháp lý đại biểu Quốc hội..............................................................15
Chương II.THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
2.1.Đánh giá chung....................................................................................................17
2.2.Những bất cập......................................................................................................17
2.2.1.Bất cập trong hoạt động tại kỳ họp Quốc hội......................................................17
2.2.2.Bất cập trong hoạt động ngoài kỳ họp Quốc hội.................................................22
2.2.3.Bất cập trong vấn đề cơ cấu đại biểu Quốc hội...................................................23
2.3.Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động đại biểu Quốc hội.............................24
2.4.Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động đại biểu Quốc hội..............................26
KẾT LUẬN................................................................................................................31


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài: ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2. Lĩnh vực nghiên cứu: Khoa học Xã hội và Nhân văn
3. Tính cấp thiết của đề tài:
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam, đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân thực thi

quyền lực nhà nước. Sự đại diện đó thể hiện một cách trực tiếp thông qua những
đại biểu Quốc hội. Đó chính là những cơng dân ưu tú, được nhân dân cả nước
tín nhiệm bầu ra, là những đại biểu chân chính của nhân dân. Họ là những người
thay mặt nhân dân ở cơ quan quyền lực cao nhất và là cầu nối quan trọng giữa
chính quyền và nhân dân. Đảm nhiệm những vai trò quan trọng như vậy, mọi
hoạt động của đại biểu Quốc hội đều ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chính trị
cũng như đời sống nhân dân.
Thực tế trong những năm qua, đại biểu Quốc hội đã có nhiều đổi mới
trong tổ chức và hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa to lớn
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng.
Tuy nhiên, để hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền thì hoạt động
của đại biểu Quốc hội hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế so với yêu cầu về
chất lượng và hiệu quả mà Quốc hội đề ra như về cơ cấu tổ chức, chất lượng đại
biểu Quốc hội, cơ chế thực thi quyền lực… .
Từ những lí do cấp thiết trên chúng tơi đã chọn đề tài “Đại biểu Quốc hội
- Lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu.
4. Mục tiêu đề tài:
Đề tài nghiên cứu nhằm đi sâu phân tích, làm rõ lý luận và thực tiễn về
đại biểu Quốc hội. Thông qua việc đánh giá tình hình hoạt động của đại biểu
Quốc hội, tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế bất cập từ đó đề ra những


2
giải pháp nhằm khắc phục và tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động
đại biểu Quốc hội.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên
cứu:
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài hướng tới việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về đại
biểu Quốc hội.

5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đại biểu Quốc hội trong pháp luật Việt Nam và thực tiễn hoạt động.
5.3 Cách tiếp cận
Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, sách, báo, tạp chí chuyên
ngành, các bài viết, phỏng vấn đại biểu Quốc hội được đăng tải trên các phương
tiện thông tin đại chúng, các website… .
5.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà
nước về xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước. Đồng thời sử dụng hợp lý và linh
hoạt các phương pháp nghiên cứu sau:
 Phân tích tổng hợp lý thuyết

 Phương pháp quy nạp

 Tổng kết thực tiễn

 Phương pháp diễn dịch

 Thống kê xã hội
----------------------------------


3
ChươngI.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1.

Những vấn đề lý luận về đại biểu Quốc hội

1.1.1. Khái niệm chung về đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là một thành phần của Quốc hội; được nhân dân bầu
trong kỳ bầu cử Quốc hội được diễn ra năm năm một lần. Để tìm hiểu về ĐBQH, trước
hết chúng ta bắt đầu tìm hiểu về Quốc hội, về nguồn gốc ra đời của Nhà nước và tổ chức
bộ máy Nhà nước.
Có thể nói việc tìm hiểu nguồn gốc ra đời của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan
trọng, bởi nó có liên quan trực tiếp đến nguyên nhân hình thành Nhà nước và đặc biệt hơn
là từ đó ta có thể tìm hiểu được bản chất tổ chức bộ máy của Nhà nước. Nhiều nhà tư
tưởng đã đưa ra những cách lý giải khác nhau về nguồn gốc ra đời của Nhà nước do sự
khác biệt về ý thức hệ, cách nhìn nhận lịch sử và từ đó hình thành ra nhiều quan điểm,
nhiều học thuyết khác nhau1. Tiêu biểu nhất có các nhà học thuyết thần quyền. Họ cho
rằng Nhà nước là do thượng đế tạo ra và có quyền lực vơ hạn, vĩnh cửu, bất biến và sự
phục tùng quyền lực đó là tất yếu mà khơng có một thế lực nào kìm hãm nó. Tuy nhiên
những lý giải này cịn mang nhiều hạn chế, chưa gắn kết được với điều kiện kinh tế - xã
hội, chưa làm rõ được bản chất của sự vận động xã hội dẫn đến sản phẩm tất yếu là nhà
nước2. Bên cạnh đó, trên nền tảng kế thừa và phát triển, học thuyết Mác-xít cho rằng,
nguyên nhân tan rã chế độ công xã nguyên thủy và hình thành Nhà nước là do sự biến đổi
của kinh tế - xã hội. Thực tế cho thấy, khi công cụ sản xuất bằng đồng, sắt dần thay thế
cho công cụ được gọt đẽo bằng đá thơ sơ thì cũng là lúc của cải vật chất trở nên dư thừa.
Trải qua ba lần phân công lao động, trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội từng
bước bị phân hóa thành các giai cấp khác nhau. Sự chênh lệch giàu nghèo, mâu thuẫn giai
cấp trở nên rõ rệt và ngày càng gay gắt. Chính lúc đó, Nhà nước ra đời để làm giảm bớt
mâu thuẫn giữa các giai cấp và ổn định trật tự xã hội. Đây là một nhu cầu tất yếu.

Tập bài giảng lý luận về Nhà nước - Trường đại học luật TP.HCM, khoa luật Hành chính-Nhà
nước – Chương 1, mục 1, đoạn 3, trang 20.
2
Tập bài giảng lý luận về Nhà nước - Trường đại học luật TP.HCM, khoa luật Hành chính-Nhà
nước – Chương 1, mục 2, , trang 32.
1



4
Nhà nước hình thành đương nhiên cần phải có một cơ cấu tổ chức rõ ràng để điều
hành xã hội. Tổ chức bộ máy Nhà nước ban đầu có thể nói là đơn giản và cịn nhiều hạn
chế. Chẳng hạn như trong nhà nước phong kiến phương Đơng điển hình là Trung Quốc
thì vua là người nắm trong tay mọi quyền hành. Vua thay mặt Nhà nước quản lý đất
nước. Mọi chức quan đều là giúp việc cho vua và mọi thần dân đều phải tuân theo lệnh
vua mà không được chống lại, khơng có một cơ chế nào kìm hãm sự lộng quyền của nhà
vua. Trải qua một thời gian, tổ chức bộ máy nhà nước ở phương Tây hình thành và từng
bước tiến bộ hơn, đã manh nha có sự dân chủ để kìm hãm quyền hành của những người
đứng đầu Nhà nước. Tuy sự dân chủ đó chỉ gói gọn trong một phạm vi rất nhỏ là tầng lớp
đẳng cấp thứ hai và thứ ba trong “hội đồng 400 người” 1 ở Nhà nước cộng hòa dân chủ
chủ nơ Aten.
Từ đó đến nay, trải qua q trình lịch sử, tổ chức bộ máy Nhà nước ngày càng
hoàn thiện, tính chất dân chủ ngày càng được nâng cao để đảm bảo công bằng cho người
dân, tránh sự lạm quyền của những người đứng đầu nhà nước. Để đại diện cho các tầng
lớp nhân dân, thể hiện tâm tư nguyện vọng của nhân dân vào việc xây dựng Nhà nước thì
tại các nước Âu-Mỹ người ta thành lập nên một tổ chức gọi là Nghị viện, trong đó mọi
quyết định của Tổng thống phải được Nghị viện thông qua. Ở Việt Nam, cơ quan mang
tính dân chủ, đại diện cho nhân dân trong tổ chức bộ máy nhà nước được gọi là Quốc hội.
Có thể nói với sự phát triển theo xu hướng cơng bằng, bình đẳng đang từng bước được
nâng cao thì tính dân chủ là nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Quốc hội, cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam.
Thành tố chủ chốt và quan trọng tạo nên Quốc hội là ĐBQH. Vậy ĐBQH được
định nghĩa như thế nào? Họ là những ai? Và nhiệm vụ của họ là gì? Theo khoa học pháp
lý, ĐBQH nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi
trở lên, được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua hiệp thương nhân dân đưa vào danh sách
ứng cử ĐBQH, được cử tri Việt Nam trực tiếp bầu ra theo ngun tắc phổ thơng, bình
đẳng, trực tiếp và bỏphiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra
mình và trước cử tri cả nước. ĐBQH có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp của Quốc hội,

“Nhà nước Aten - Nhà nước Cộng hòa dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại” />1


5
tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn như: lập
hiến, lập pháp; quyết định chính sách đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã
hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước; giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Ngồi
ra ĐBQH cịn có những quyền hạn đặc biệt như quyền chất vấn, quyền bất khả xâm phạm
và miễn tố, quyền được cung cấp thông tin... mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong những phần
sau của bài nghiên cứu.
1.1.2. Đại biểu Quốc hội – thành viên cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. ĐBQH là một thành viên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất được
thể hiện qua những phương diện sau:
Thứ nhất, ĐBQH là những đại biểu được nhân dân tín nhiệm bầu ra bằng chính lá
phiếu của mình, được trao cho quyền lực và nhiệm vụ thay mặt nhân dân thực hiện quyền
lực nhân dân. Một trong những quyền lực cao nhất đó là quyền lập hiến, lập pháp. ĐBQH
có trách nhiệm lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của người dân, đem nó ra bàn bạc tại
kì họp Quốc hội để cùng nhau thảo luận và quyết định theo đa số, biến những tâm tư
nguyện vọng của người dân trở thành đường lối, chủ trương trong các đạo luật. ĐBQH
thực hiện quyền lực nhân dân bằng cách trình những kiến nghị về luật, trình dự án luật đề
nghị sửa đổi, bổ sung, thông qua Hiến pháp, luật hay quyết định chương trình xây dựng
pháp lệnh. Tại điều 84, Hiến pháp 2013 có quy định về quyền sáng kiến lập pháp, điều này
có vai trị rất quan trọng, không chỉ giúp hỗ trợ Quốc hội trong việc lập hiến, lập pháp mà
còn thể hiện được vai trò và quyền lực của nhân dân trong hoạt động của Nhà nước thơng
qua các ĐBQH.
Thứ hai, ĐBQH có quyền tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước. Các chức danh trong tổ chức bộ máy nhà nước chẳng hạn như Chủ tịch nước, Thủ
tướng chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng… đều phải thông qua sự đồng ý bằng hình

thức biểu quyết của ĐBQH. Có thể nói, ĐBQH có vai trị rất lớn xây dựng tổ chức bộ máy
nhà nước. Vai trò thành viên cơ quan quyền lực cao nhất của ĐBQH còn được thể hiện
trong các quyền quyết định những vấn đề quan trọng khác liên quan đến sự tồn tại và phát


6
triển của đất nước, chẳng hạn như vấn đề liên quan đến phân bổ ngân sách hay các quyết
định đại xá, cơng bố tình trạng khẩn cấp của đất nước… .
Thứ ba, với tư cách là thành viên của cơ quan quyền lực cao nhất, ĐBQH cịn có
vai trị quan trọng thể hiện sự công bằng, dân chủ trong việc quản lý tổ chức cán bộ, công
chức, cơ cấu bộ máy nhà nước, đảm bảo khơng có sự quan liêu, hạn chế tham nhũng. Đó là
quyền được giám sát tối cao. Việc giám sát tối cao của Quốc hội thông qua các ĐBQH trực
tiếp tại kì họp bằng việc xem xét các báo cáo và đặc biệt là hoạt động chất vấn. Hoạt động
chất vấn này được thực hiện một cách công khai, minh bạch và các cán bộ lãnh đạo bị chất
vấn phải có câu trả lời thỏa đáng đối với những vấn đề mà ĐBQH đặt ra.
Thực hiện đầy đủ và đúng đắn những quyền hạn nói trên, ĐBQH đã và đang thực
sự là đại biểu của nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia vào tổ chức Nhà nước, làm tròn
trách nhiệm là một thành viên của Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
1.1.3. Đại biểu Quốc hội – người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
nhân tố tiên quyết cho tính dân chủ trong pháp luật
Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa
nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Thuật
ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm từ δημοκρατία (dimokratia), "quyền lực của
nhân dân"1được ghép từ chữ δήμος (dēmos), "nhân dân" và κράτος (kratos), "quyền lực"
vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước Cơng ngun để chỉ hệ thống chính trị tồn tại
ở một số thành bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Athena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào
năm 508 TCN2.
Trong học thuyết chính trị, dân chủ dùng để mơ tả cho một số ít hình thức nhà
nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một khái niệm thống nhất về
“dân chủ”, nhưng có hai nội hàm mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng được nhắc

tới.Nội hàm thứ nhất là “tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận
Demokratia, Henry George Liddell, Robert Scott, "A Greek-English Lexicon", at Perseus

1

(Nền dân

chủ, Henry George Liddell, Robert Scott, "Từ vựng tiếng Anh gốc Hy Lạp", Perseus)

Democracy is people who rule the government directly.BBC History of democracy

2

(Nền dân chủ là người dân trực tiếp lãnh đạo Nhà nước. BBC “Lịch sử của chế độ dân chủ”)


7
đến quyền lực một cách bình đẳng” và thứ hai, “tất cả mọi thành viên (công dân) đều được
hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi”1.
Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân…
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức”. Ở nước ta, Quốc hội chính là cơ quan đại diện cao nhất của
Nhân dân, vì vậy, mỗi ĐBQH - với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình - chính là
người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là nhân tố tiên quyết cho tính dân
chủ trong pháp luật.
Lý do tồn tại của Quốc hội chính là ở vấn đề: nhân dân cần tổ chức ra một cơ quan
để thay mặt và thực thi quyền lực của nhân dân trong việc quản lý nhà nước, thành lập ra
các cơ quan nhà nước khác, biến ý chí của nhân dân thành pháp luật để điều chỉnh mọi

quan hệ xã hội vì lợi ích của nhân dân và quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước. Quyền lực của Quốc hội có nguồn gốc từ nhân dân, xa rời nhân dân trong tổ chức và
hoạt động thì Quốc hội khơng cịn là Quốc hội “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”,
Quốc hội sẽ trở thành một tổ chức “dân chủ hình thức”.
Ngay từ những ngày đầu tiên khi Quốc hội Việt Nam được thành lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một
đảng phái nào mà là đại biểu cho tồn thể quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ
ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối” 2; “Quốc hội là tiêu
biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá khơng gì lay chuyển nổi” 3. Quan
điểm này mang tính nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động
của Quốc hội Việt Nam.

“Dân chủ” - Wikilead tiếng Việt - />Diễn văn khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I nước Việt Nam dân chủ cộng hồ",
Hồ Chí Minh, Tồn tập, Sđd, t. 4, tr.190
3
Lời chào mừng Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hồ khố I, kỳ họp thứ tư, Hồ Chí
Minh, Tồn tập, Sđd, t. 7, tr.497
1
2


8
Để đảm bảo tính dân chủ và tính đại diện nhân dân Quốc hội cần duy trì cơ cấu đại
biểu đa dạng, đảm bảo thực sự Đại biểu Quốc hội đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân, các
thành phần xã hội, nghề nghiệp, tơn giáo, giới tính, người tự ứng cử... Tuy nhiên, không
nên quan niệm với việc “cơ cấu” một cách chi tiết, tỉ mỉ thành phần đại biểu thuộc mọi
dân tộc, mọi địa bàn, mọi thành phần, lĩnh vực hoạt động trong xã hội là đã có một Quốc
hội đại diện cho nhân dân cả nước. Càng khơng nên quan niệm rằng, cứ phải có một đại
biểu là nơng dân trong Quốc hội thì mới có người đại diện cho tầng lớp nông dân. “Đại
diện” ở đây cần là đại diện cho cái “tâm”, cái “trí”, cái “dũng” hơn là đại diện bởi con

người cụ thể. Một người có cái “tâm” vì người nơng dân, có cái “trí” để hiểu cuộc sống
của người nơng dân, có cái “dũng” để mạnh dạn nói lên tiếng nói vì người nơng dân tại
diễn đàn Quốc hội thì có thể coi là người đại diện chân chính cho giai cấp nơng dân1.
Cũng không nên quan niệm rằng, chỉ ĐBQH hoạt động ở lĩnh vực nào thì mới là
người “có kiến thức thực tế”, đại diện được cho những người hoạt động trong lĩnh vực đó.
Tư duy và quan niệm như vậy vốn chỉ phù hợp trong giai đoạn trước cách mạng khoa học
và công nghệ, trước sự bùng nổ thông tin. Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin hiện
nay cho phép một người chỉ ở thành phố cũng có thể nắm bắt được khá đầy đủ cuộc sống
ở nông thôn, nếu như người đó thực sự quan tâm đến nơng dân.
1.1.4. Đại biểu Quốc hội – Chủ thể có quyền chất vấn
ĐBQH được bầu ra không chỉ đại diện cho nhân dân địa phương nơi bầu ra ĐBQH
mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, có mối liên hệ chặt chẽ, thay mặt cho nhân dân,
phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của nhân dân trước Quốc Hội và chịu sự giám
sát của nhân dân. Có thể nói ĐBQH là sợi dây liên kết, là cầu nối giữa nhân dân với Nhà
nước. Để đảm bảo thực hiện tốt trách nhiệm do nhân dân giao phó thì ĐBQH cịn nắm
trong tay quyền chất vấn và được lắng nghe câu trả lời chất vấn của những người đứng
đầu nhà nước.
Chất vấnlà việc ĐBQH với tư cách là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân
buộc người bị chất vấn phải giải thích trước cơ quan quyền lực nhà nước về những khuyết
Bàn về tính đại diên nhân dân – Th.S Nguyễn Văn Minh – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
3/2001
1


9
điểm, những tồn tại trong hoạt động, công tác của cơ quan mà cá nhân đó phụ trách, trả lời
về trách nhiệm, về nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Quyền chất vấn của ĐBQH thể
hiện rõ vai trò của ĐBQH trong mối liên kết giữa nhân dân với nhà nước trong sự nghiệp
xây dựng phát triển đất nước1.
Có thể nói, vấn đề được đặt ra trong hoạt động chất vấn là những câu hỏi hoàn toàn

khác với với những câu hỏi bình thường bởi lẽ nó làm rõ trách nhiệm cá nhân về thẩm
quyền và cách khắc phục chứ khơng phải nhằm mục đích thu thập thơng tin. Trước khi
thực hiện việc chất vấn ĐBQH phải tìm hiểu rất kỹ và nắm thơng tin về vấn đề mà mình
cần chất vấn để làm rõ trách nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với vấn đề đó. Chất vấn
được quy định rất rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn
cũng được chỉ ra cụ thể trongmột phạm vi nhất định. ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch
nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của
Chính phủ, Chánh án Tồ án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
tại kỳ họp của Quốc hội hoặc giữa hai kỳ họp của Quốc hội. Chất vấn được thực hiện
thơng qua hình thức hỏi trực tiếp hoặc bằng văn bản, trả lời chất vấn cũng được thực hiện
thơng qua hình thức trả lời trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản.
ĐBQH nhân danh cá nhân với tư cách là người đại diện quyền lực của nhân dân,
thay mặt nhân dân yêu cầu cá nhân bị chất vấn trả lời về trách nhiệm pháp lý của cá nhân
đó, giúp nhân dân truyền đạt được những tâm tư, nguyện vọng, khúc mắc của mình đối với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hoạt động chất vấn của ĐBQH còn giúp cho các cơ
quan nhà nước kiềm chế, kiểm tra giám sát lẫn nhau nhằm tránh tình trạng tập trung quyền
lực, quan liêu, tham nhũng trong điều hành quản lý nhà nước, đảm bảo Hiến pháp và pháp
luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trên cả nước; bảo đảm sự vận hành của bộ
máy nhà nước ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn.

1.2. Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về Đại biểu Quốc hội
“Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động chất vấn của ĐBQH” – TS.Đinh Xuân Thảo – Viện
trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp
1


10
1.2.1. Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
1.2.1.1. Nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Được nhân dân tín nhiệm tin tưởng bầu ra trao cho quyền lực, ĐBQH gánh vác

trên vai trách nhiệm của một người công bộc làm cầu nối giữa nhân dân với nhà nước
giúp người dân có thể thực hiện quyền lực nhà nước tối cao của mình.
Để làm trịn được trọng trách ấy thì nhiệm vụ quan trọng nhất của ĐBQH là tiếp
công dân và tiếp xúc với cử tri. Nhiệm vụ của ĐBQH được quy định rất rõ tại điều 79,
điều 82 Hiến pháp 2013 và tại điều 46, 47,51, 52, 53 Luật tổ chức Quốc hội 2001.
Giữa ĐBQH và cử tri phải có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. ĐBQH phải thường
xuyên tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực
ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ quan Nhà nước. Mỗi năm ít nhất một lần
ĐBQH phải báo cáo trước cử tri vềviệc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Song song
đó cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo cơng
tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH. Nhìn nhận ĐBQH theo
phương diện cầu nối giữa nhân dân và nhà nước, ĐBQH phải xây dựng trong lòng nhân
dân sự tín nhiệm, gắn bó chặt chẽ với đời sống nhân dân, tìm hiểu cuộc sống của họ. Bên
cạnh đó, mọi hoạt động của ĐBQH đều phải báo cáo với nhân dân sau mỗi kì họp Quốc
hội, trả lời trước nhân dân những bất cập tồn đọng và hướng giải quyết của các cơ quan
nhà nước.
ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân. Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
của cơng dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm
quyền giải quyết và thơng báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đơn đốc và theo
dõi việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho ĐBQH về kết quả
giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đó trong thời hạn theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
khơng thỏa đáng, ĐBQH có quyền gặp những người đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm
hiểu yêu cầu xem xét lại việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo. Khi cần thiết, ĐBQH
có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết.


11
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân

hoặc của cơng dân, ĐBQH có quyền u cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan
thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt những hành vi trái pháp luật đó.
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức,
đơn vị phải thông báo cho ĐBQH biết việc giải quyết. Quá thời hạn nói trên nếu cá nhân,
cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền khơng trả lời thì ĐBQH có quyền kiến nghị với
người đứng đầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên, đồng thời báo cáo Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Tại điều 46 luật Tổ chức Quốc hội 2001 quy định về phẩm chất, gương mẫu của
ĐBQH để xứng đáng với sự tin tưởng, tín nhiệm, người đại diện cho quyền lực của nhân
dân: “Gương mẫu trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và
tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng
dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ
biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý nhà nước”.
Để xứng đáng là người đại diện do nhân dân, được bầu ra để tham gia quản lý đất nước,
tính gương mẫu của người đại biểu phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Đó là nghĩa
vụ cũng như là nền tảng vững chắc tạo dựng uy tín, lịng tin về một người cơng bộc có
trách nhiệm của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quần chúng chỉ quý
mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực
thước cho người ta bắt chước”1. Chuẩn mực của một đại biểu gương mẫu không phải
trên trời rơi xuống mà phải do chính bản thân người đại biểu tự tu dưỡng, rèn luyện
thơng qua q trình phấn đấu khơng mệt mỏi mới có được. Muốn tuyên truyền vận động
người dân tuân thủ pháp luật thì bản thân của người đại biểu phải là tấm gương.
ĐBQH có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân các cấp nơi mình được bầu, có
quyền phát biểu ý kiến nhưng khơng có quyền biểu quyết, Chủ tịch Hội đồng nhân dân
các cấp thông báo cho ĐBQH biết ngày họp Hội đồng nhân dân cấp mình, mời đại biểu
tới dự và cung cấp tài liệu cần thiết. ĐBQH là người do nhân dân ở địa phương bầu ra, đại
Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ 6, 18-1-1949

1



12
diện cho tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương và cả nước. Không chỉ giúp cho
nhân dân địa phương có thể tham gia vào việc quản lý nhà nước trong các kì họp Quốc
hội mà ĐBQH cịn là đại diện cho nhân dân tham gia vào việc giám sát kiểm tra và nêu ra
ý kiến xây dựng phát triển cho địa phương đó.
1.2.1.2. Quyền hạn của đại biểu Quốc hội
ĐBQH có quyền tham gia các phiên họp tồn thể của Quốc hội, các cuộc họp của
Tổ ĐBQH, của Đoàn ĐBQH; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền
hạn của Quốc hội, có quyền tham gia thảo luận về những vấn đề quan trọng liên quan đến
đất nước được đưa ra bàn và quyết định tại kỳ họp.
ĐBQH là thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền tham
gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên.
Hội đồng dân tộc với vai trò đại diện cho đồng bào dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít
người; nghiên cứu và kiến nghị lên Quốc hội những vấn đề về dân tộc. Thơng qua đó thể
hiện sự tham gia quản lý, giám sát hoạt động nhà nước của đồng bào dân tộc, góp phần
vào việc nâng cao đời sống của các dân tộc ít người nói riêng và cơng cuộc xây dựng đất
nước nói chung.
ĐBQH có quyền chất vấn những người đứng đầu của cơ quan nhà nước, nhằm
mục đích làm rõ trách nhiệm. Chất vấn được xem là một hình thức được Quốc hội áp
dụng để giám sát hoạt động của các cơ quan và các quan chức Nhà nước được giao quyền
(các hình thức giám sát khác là nghe báo cáo, nghe điều trần, tổ chức, điều tra, tổ chức đi
nghiên cứu, xem xét tình hình...). Những câu hỏi chất vấn của ĐBQH xuất phát từ chính
những bức xúc, những vấn đề có nút thắt ở trong cuộc sống mà cử tri cịn băn khoăn,
vướng mắc.
Quyền được trình dự án luật và trình kiến nghị về luật của ĐBQH được quy định
tại điều 84 Hiến pháp 2013: “ĐBQH có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án
luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội”, điều 71 Luật tổ
chức Quốc hội 2001 cũng giải thích rõ thêm: “ĐBQH thực hiện quyền kiến nghị về luật



13
thông qua việc kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành”. Các
quy định về vai trò và sự tham gia của ĐBQH trong quá trình xây dựng dự án luật, pháp
lệnh được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước ta: Hiến pháp,
Luật Tổ chức Quốc hội. Đây là các quyền rất quan trọng của ĐBQH tạo điều kiện cho
ĐBQH tham gia vào quá trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh, tham gia vào hoạt động
lập pháp. Các quy định pháp luật hiện nay đang đi theo hướng nâng cao vai trò và mở
rộng quyền hạn của ĐBQH trong quá trình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh. Phát
biểu tiếng nói của nhân dân, đại diện cho ý chí của nhân dân, là những người sâu sát, gần
gũi với cuộc sống người dân; chính vì thế mà các sáng kiến về luật của ĐBQH luôn gần
gũi, thực tế và hợp với lịng dân.
Đại biểu có quyền tham gia quyết định nội dung, chương trình kỳ họp. Nội dung và
chương trình kì họp là những vấn đề quan trọng của đất nước liên quan đến việc quyết
định thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và các vấn đề quan trọng khác quy
định tại điều 70 Hiến pháp 2013. Tại các kì họp Quốc hội, ĐBQH có quyền bàn bạc, tranh
luận, cùng đưa ra các ý kiến để xây dựng và phát triển đất nước.
ĐBQH có quyền tham gia bỏ phiếu bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm; phê chuẩn việc bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn. Quyền hạn này của ĐBQH thể hiện được quyền giám sát của nhân dân
thông qua Quốc hội, tham gia đưa những ý kiến của mình để xây dựng hệ thống tổ chức
quản lý bộ máy nhà nước. Cũng như tạo ra tiền đề pháp lý để những quan chức cấp cao có
trách nhiệm hơn đối với cơng việc của mình.
1.2.2. Những bảo đảm pháp lý cho hoạt động của đại biểu Quốc hội
Để đảm bảo cho nhiệm vụ của ĐBQH được diễn ra có hiệu quả và khơng gặp bất
cứ cản trở nào pháp luật đã quy định khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, ĐBQH có quyền
liên hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức và tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm tiếp và đáp ứng những yêu cầu của ĐBQH.



14
Khơng có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời hạn Quốc hội khơng họp, khơng có
sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì khơng được bắt giam, truy tố ĐBQH và
không được khám xét nơi ở, nơi làm việc của ĐBQH. Việc đề nghị bắt giam, truy tố,
khám xét nơi ở, làm việc của ĐBQH thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Tối cao. Có thể nói quy định này cũng là một nội dung thể hiện sự tôn trọng
ĐBQH. ĐBQH do nhân dân bầu ra, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại
diện cho nhân dân vì thế mọi vấn đề liên quan đến ĐBQH đều phải thơng qua và có sự
đồng ý của Quốc hội. Điều này cũng là cơ chế pháp lý đảm bảo cho ĐBQH mạnh dạn,
thẳng thắn đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm, cỗ vũ cho ĐBQH nêu cao tinh thần
trách nhiệm để làm tròn nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.
Nếu vì phạm tội quả tang mà ĐBQH bị tam giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức
báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định.
ĐBQH không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi
việc, nếu không được Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý. ĐBQH là do nhân dân bầu ra
nên chỉ có nhân dân thơng qua Quốc hội mới có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với
ĐBQH khi họ có sai phạm hoặc khơng cịn xứng đáng với lịng tin của nhân dân.
1.2.3. Trách nhiệm pháp lý của đại biểu Quốc hội
Với tư cách là người đại biểu của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ, ĐBQH không
được lợi dụng sự tín nhiệm của nhân dân và sự tơn trọng bảo vệ của pháp luật mà lạm
quyền, làm lợi cho bản thân và gây tổn hại cho nhà nước và hình ảnh của người đại biểu
trong mắt của người dân. Do đó bên cạnh những quy định bảo đảm cho hoạt động của
ĐBQH thì pháp luật cũng quy định những chế tài liên quan đến trách nhiệm pháp lý để
đảm bảo cho hoạt động giám sát của nhân dân đối với ĐBQH.
ĐBQH khơng cịn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy mức độ phạm
sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc
đưa ra Quốc hội bãi nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm ĐBQH theo đề nghị
của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương hoặc của cử tri nơi bầu ra ĐBQH.


15
Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm ĐBQH thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất
hai phần ba tổng số ĐBQH tán thành. Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm ĐBQH thì việc
bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.
ĐBQH có thể xin thơi làm nhiệm vụ đại biểu vì lí do sức khỏe hoặc vì lý do khác.
Việc chấp nhận cho ĐBQH miễn nhiệm do Quốc hội quyết định, trong thời gian giữa hai
kì họp Quốc hội thì do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định và báo cáo Quốc hội tại kì
họp gần nhất.
Trong trường hợp ĐBQH bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Ủy ban thường vụ
Quốc hội tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH. ĐBQH bị Tòa án
kết án đương nhiên mất quyền ĐBQH kể từ ngày bản án, quyết định của Tịa án có hiệu
lực pháp luật.


16

Chương II. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
2.1.

Đánh giá chung
Trong suốt 70 năm xây dựng và phát triển của Quốc hội, ĐBQH đã trở thành hạt

nhân cốt lõi không thể thiếu trong Quốc hội nước ta. Qua từng nhiệm kì, các ĐBQH
khơng ngừng cố gắng vươn lên trong mọi hoạt động, hoàn thiện nâng cao năng lực, trình
độ để xứng tầm người đại biểu nhân dân. Nhìn vào suốt quá trình lịch sử đất nước, 70
năm là cả một chặng đường dài nỗ lực không ngại gian khó của các thế hệ ĐBQH trong

việc đưa đất nước trải qua bão lửa chiến tranh đến hịa bình, từng bước xây dựng và phát
triển như ngày hôm nay. Sự phấn đấu nỗ lực của ĐBQH đã được Đảng, Nhà nước và
nhân dân ghi nhận. Có thể nhận thấy rằng phần lớn các ĐBQH gắn bó, trung thành với
nhân dân, ln nói tiếng nói của nhân dân. Trong mỗi kì họp các đại biểu ln cố gắng
đóng góp sức mình thông qua việc xây dựng, phát biểu ý kiến. Đa số ĐBQH có năng lực,
đủ phẩm chất, tư cách đạo đức tốt, ý thức tự rèn luyện hoàn thiện bản thân để hoàn thành
trách nhiệm của người đại biểu đại diện nhân dân.
Tuy nhiên, để hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa thì hoạt động của ĐBQH hiện nay vẫn cịn tồn tại khơng ít hạn chế so với yêu cầu
về chất lượng và hiệu quả mà Quốc hội đã đề ra.
2.2.

Những bất cập

2.2.1. Bất cập trong hoạt động tại kỳ họp Quốc hội
2.2.1.1.

Hoạt động chất vấn

Chất vấn là một trong những công cụ sắc bén nhằm giúp ĐBQH thực hiện chức
năng giám sát hoạt động của các cơ quan và quan chức nhà nước được giao quyền. Chất
vấn nhằm mục đích làm rõ trách nhiệm và quy kết trách nhiệm. Do đó, vấn đề mà ĐBQH
quan tâm không phải là những số liệu “vô thưởng vô phạt” được nêu ra trong câu trả lời
của các quan chức nhà nước. Vấn đề chính các đại biểu muốn biết là người bị chất vấn có


17
kiểm sốt được sự việc hay khơng? Ngun nhân và hướng giải quyết sự việc như thế
nào? Rút kinh nghiệm ra sao? Đặc biệt thông qua đây, năng lực của quan chức trong việc
nắm bắt và điều chỉnh các lĩnh vực được giao quản lý sẽ được bộc lộ , tạo điều kiện thuận

lợi cho công tác quản lý, kiểm tra và phân phối cán bộ. Một vị bộ trưởng nắm vững cơng
việc thì dù khơng biết trước câu hỏi chất vấn cũng sẽ có câu trả lời thuyết phục, rõ ràng.
Trên thực tế trong suốt quá trình họp, nhiều đại biểu không hề chất vấn. Các đại
biểu chất vấn đơi khi cịn chưa thực sự chuẩn bị kĩ, dẫn đến chất lượng câu hỏi còn hạn
chế, chất vấn dài dịng, khơng rõ trọng tâm câu hỏi, đưa ra những câu hỏi chất vấn mang
tính chất yêu cầu cung cấp thơng tin về một vấn đề nào đó... Những câu hỏi mang tính
truy kích, làm rõ trách nhiệm, theo đuổi đến cùng cịn hạn chế.
Ngồi những câu hỏi xoay quanh những vấn đề nóng dư luận quan tâm, cử tri bức
xúc, trên thực tế vẫn còn những trường hợp đại biểu chất vấn bằng những câu hỏi mang
tính gợi ý, “hỏi mồi”. Đây là những câu hỏi dễ, người được “hỏi mồi” chỉ việc cung cấp
số liệu “vô thưởng vô phạt”, tạo điều kiện cho người trả lời chất vấn có cơ hội biểu dương
thành tích, phơ diễn tài trí của mình. Các câu hỏi dạng này nhằm nhiều mục đích khác
nhau như thể hiện với cử tri mình đã làm tròn nhiệm vụ của một ĐBQH, vun vén lợi ích
cá nhân, lợi ích cục bộ địa phương, đặt quan hệ với người được chất vấn.
Một thực trạng khác là việc đại biểu bị dẫn dắt, chi phối bởi nhóm lợi ích, các thế
lực mà khơng nói lên tiếng nói của mình, khơng nói lên tiếng nói và nguyện vọng của cử
tri mà lại “phát biểu bài của người khác”. Tình trạng này sẽ khiến các quyết định của
Quốc hội có thể bị méo mó, các nhóm lợi ích gia tăng hoạt động và nguy hiểm nhất là có
thể nảy sinh tình trạng tham nhũng chính sách. Thực trạng này tiếp diễn và ngày càng
phát triển thì lịng tin của cử tri vào Quốc hội sẽ mất đi. Quốc hội do nhân dân lập ra, vì
nhân dân phục vụ. Dân là gốc rễ của nước nhà. Làm mất lòng tin của nhân dân thì ắt nhà
nước ấy sẽ khơng tồn tại được. Nguyên nhân của thực trạng này trước hết xuất phát từ đặc
điểm riêng của Quốc hội nước ta, đó là nặng tính cơ cấu. Cùng là đại biểu như nhau
nhưng ông (bà) này là bộ trưởng, trưởng ngành cịn ơng (bà) khác là giám đốc sở, trưởng
ban ngành ở địa phương, là chủ tịch tỉnh hoặc bí thư tỉnh ủy, cùng trong một đoàn đại
biểu nhưng người này là quan đứng đầu tỉnh còn người khác chỉ là cán bộ cấp


×