Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

hocGiups hoc sinh hoc tot tap lam van

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.63 KB, 19 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>Mục lục Trang Mục lục..……………………………………………………………………..1 I. Đặt vấn đề……………………………...…………………………………3 1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………..3. 2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………...3 3. Kế hoạch và phạm vi nghiên cứu………………….……………………...4 3.1. Kế hoach nghiên cứu……………………………………….…………...4 3.2. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………..4 4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………….............4 4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu………………………………………..4 4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tế………………………………………..5 4.3. Phương pháp quan sát…………………………………………………...5 4.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu…………………………………...........5 5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu………………………………............5 II. Giải quyết vấn đề……………………………………………..…............5 1. Cơ sở lí luận………………………………………………………............6 2. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………………….7 3. Biện pháp cụ thể…………………………………………………………..8 3.1 Lập nội dung chương trình giảng dạy Tập làm văn dạng bài “kể ngắn ”...…………………………………………….……….8 3.2. Dạy học tốt các bài “ Trả lời câu hỏi ”, “ Tập nói ”, … để làm nền cho học sinh kể ngắn tốt……………………………………10 3.3. Tăng cường luyện nói, luyện kể cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc, Kể chuyện…...………………………...12 3.4 Thực hiện tốt quan điểm tích hợp để nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ”…………………………..14 4. Hiệu quả nghiên cứu …………………………………………………….16.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> III. Kết luận và kiến nghị……………...………………..………………..17 1. Kết luân…………………………………………………………………..17 2. Kiến nghị….……………………………………………………………...17 IV. Tài liêu tham khảo………………………………………………….… 19.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Nhân tố quyết định thắng lợi là nguồn lực con người Việt Nam trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Cho nên trước hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông đặc biệt là ở bậc tiểu học. Phân môn Tập làm văn ở tiểu học có một vị trí quan trọng. Nó góp phần bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. Ngoài ra nó còn nâng cao năng lực trí tuệ, đồng thời rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ. Nội dung Tập làm văn lớp 2 hình thành cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phục vụ cho học tập và giao tiếp. Ngoài việc dạy về các nghi thức lời nói tối thiểu, về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, phân môn Tập làm văn lớp 2 còn rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt. Ở lớp 1, thông qua môn Tiếng Việt học âm, vần, học sinh được luyện nói từng câu ngắn, đã được tập kể lại câu chuyện. Tuy nhiên, do vốn từ của các em còn ít nên việc diễn đạt còn rất hạn chế. Thực tế đến đầu năm lớp 2 hầu hết học sinh chỉ nói được những câu ngắn, trả lời chưa đủ ý, diễn đạt còn rời rạc và gặp nhiều khó khăn khi kể lại một câu chuyện, kể về một sự vật, sự việc. Do đó, nhiệm vụ của giáo viên dạy phân môn Tập làm văn lớp 2 là tiếp tục rèn kĩ năng diễn đạt, kĩ năng kể cho các em. Chính vì những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ”.. 2. Mục đích nghiên cứu Góp phần tạo ra một phong cách mới trong dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng ở trường Tiểu học theo.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, tăng cường các hoạt động cá nhân và phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Đưa ra những biện pháp hay, phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh, phù hợp với tình hình của trường, lớp trong quá trình dạy học nhằm góp phần bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. Tìm hiểu những vấn đề trong việc dạy phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn, từ đó giáo viên hiểu sâu sắc hơn về những thuận lợi và khó khăn của học sinh trong quá trình học để có những biện pháp phù hợp giúp học sinh có hứng thú, tự tin khi học phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn, giúp cho việc dạy học có hiệu quả hơn. 3. Kế hoạch và phạm vi nghiên cứu : 3.1. Kế hoạch nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng học phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn của học sinh lớp 2B, trường Tiểu học Vạn Thọ 1 – lớp đang chủ nhiệm và bản thân đang trực tiếp giảng dạy phân môn này. Tìm hiểu về thực trạng việc áp dụng các biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu và thực nghiệm là các bài Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ”. Đối tượng : Học sinh lớp 2B, trường Tiểu học Vạn Thọ 1. Tài liệu tham khảo : Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 ( tập 1, tập 2 ), sách giáo viên Tiếng Việt 2 ( tập 1, tập 2 ). Các bài làm Tập làm văn dạng bài kể ngắn của học sinh lớp 2B Trường Tiểu học Vạn Thọ 1. Thời gian : Từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013. 4. Phương pháp nghiên cứu : 4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> Đọc sách giáo khoa Tiếng Việt 2 ( tập 1, tập 2 ), sách giáo viên Tiếng Việt 2 ( tập 1, tập 2 ), … Đọc và đánh giá các bài làm Tập làm văn dạng bài kể ngắn của học sinh. 4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tế Đưa các biện pháp dự kiến vào trong các tiết dạy phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện, Luyện từ và câu một cách thường xuyên. Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung và hình thức áp dụng các biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn trong tiết dạy đó. 4.3. Phương pháp quan sát Giáo viên theo dõi, quan sát học sinh trong các giờ Tập làm văn để nhận biết sự thay đổi về thái độ, hứng thú học tập của học sinh sau thời gian áp dụng các biện pháp vào tiết dạy. Giáo viên theo dõi, nhận xét, đánh giá về cách diễn đạt, khả năng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp của học sinh trong quá trình học. Chẳng hạn như khi đặt và trả lời câu hỏi của bạn trong lớp, của giáo viên, thực hành các bài tập dạng kể ngắn theo tranh, trả lời theo câu hỏi gợi ý, … 4.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu Căn cứ vào kết quả học tập trước và sau khi áp dụng các biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn để đối chiếu, so sánh từ đó đánh giá được mức độ hiệu quả của các biện pháp đã áp dụng. 5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu Nghiên cứu nhiều tài liệu về dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2 qua đó tích lũy nhiều kiến thức, kinh nghiệm phục vụ cho việc giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2. Chắc lọc nhiều biện pháp để giúp học sinh có hứng thú trong học tập, yêu thích môn học, mong đợi giờ học Tập làm văn đặc biệt thích làm bài dạng bài kể ngắn qua đó giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn. Rèn kĩ năng nói, viết lưu loát, diễn đạt đủ ý bằng ngôn ngữ cho học sinh. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> 1. Cơ sở lí luận Bước vào kỷ nguyên mới, đất nước ta có nhiều đổi mới, đổi mới về kinh tế, giáo dục, … Sự phát triển giáo dục của nước ta tăng nhanh giúp cho những chủ nhân tương lai của đất nước luôn được phát triển toàn diện, đầy đủ về năng lực, trí tuệ, tính cách. Qua việc nắm bắt các kiến thức, tri thức khoa học ban đầu để từ đó hình thành nên những kĩ năng cần thiết của cuộc sống, hành động đúng cho bản thân . Trong trường tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hằng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới. Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt là giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản : nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trên. Đối với học sinh lớp 2 thì đây là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ… Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng. Phân môn Tập làm văn lớp 2 dạy cho học sinh nắm được các nghi thức lời nói tối thiểu như: chào hỏi, tự giới thiệu …, nắm được một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi, nghe – hiểu được ý kiến của bạn. Trong một bài Tập làm văn, các bài tập thường gồm hai dạng chính: Nói – kể và Viết. Nhưng bao giờ dạng bài tập Nói – kể cũng được thực hiện trước rồi mới đến dạng Viết. Ví dụ: Bài Kể về người thân ( Trang 85, Tiếng Việt 2, Tập 1 ) Bài tập 1: Kể về ông, bà (hoặc một người thân) của em..

<span class='text_page_counter'>(7)</span> Gợi ý : a) Ông, bà (hoặc người thân) của em bao nhiêu tuổi ? b) Ông, bà (hoặc người thân) của em làm nghề gì ? c) Ông, bà (hoặc người thân) của em yêu quý, chăm sóc em như thế nào ? Bài tập 2: Dựa theo lời kể ở bài tập 1, hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông, bà hoặc một người thân của em. Như vậy, ở lớp 2 kĩ năng cần giúp các em rèn luyện trước tiên chính là Nói – Kể ngắn. 2. Cơ sở thực tiễn Quá trình dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo và người giáo viên là một kĩ sư của tâm hồn, hơn nữa còn là một nhà làm nghệ thuật. Và việc dạy học ngày nay luôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Chính vì thế, nó đòi hỏi người giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết. Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết, cụ thể ở phân môn Tập làm văn lớp 2 dạng bài kể ngắn rèn kĩ năng nghe, nói - kể và viết. Thế nhưng hiện nay, đa số các em học sinh lớp 2 không hứng thú khi học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì ? viết gì ? Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác. Trong chương trình Tập làm văn lớp 2, dạng bài kể ngắn gần như được học trọn trong học kì I, đến cuối học kì II các em chỉ học thêm có 2 tiết. Qua các dạng bài “kể ngắn”, các em sẽ được trau dồi kĩ năng diễn đạt, kĩ năng gắn kết các câu nói với nhau. Tuy nhiên, qua một tháng dạy học đầu tiên, tôi nhận thấy kĩ năng diễn đạt của học sinh còn rất hạn chế. Trong quá trình trả lời câu hỏi, rất nhiều em lúng túng, dù cố gắng tìm ra những từ ngữ, những câu phù hợp để trả lời đúng với ý nghĩ của mình nhưng vẫn không trả lời tròn câu, trọn ý. Trong quá trình làm bài, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách đặt dấu câu còn hạn chế, có em viết.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì vốn từ của các em còn nghèo, cơ hội để các em rèn luyện còn ít. Do đó khi đứng lớp, tôi luôn chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng làm Tập làm văn cho học sinh. Tôi luôn băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra ? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt để học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp mình. 3. Biện pháp cụ thể : 3.1. Lập nội dung chương trình giảng dạy Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” Chương trình Tập làm văn lớp 2 gồm bốn dạng bài cơ bản : Dạng bài luyện tập về nghi thức lời nói tối thiểu, dạng bài luyện tập các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, dạng bài kể ngắn và dạng bài tả ngắn. Trong đó dạng bài luyện tập về nghi thức lời nói tối thiểu, dạng bài luyện tập các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, dạng bài kể ngắn có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Bài tập của dạng bài này ngoài tác dụng rèn luyện kĩ năng cho chính dạng bài đó còn có tác dụng hỗ trợ cho dạng bài khác. Ví dụ: Bài Tự giới thiệu – Câu và bài (Tuần 1). Bài này ngoài việc rèn luyện kĩ năng về nghi thức lời nói (tự giới thiệu) còn có tác dụng hỗ trợ cho việc rèn luyện kĩ năng nói, kể. Cụ thể: Bài tập 1 : Trả lời câu hỏi: - Tên em là gì ? - Quê em ở đâu ? - Em học lớp nào, trường nào ? - Em thích những môn học nào ? - Em thích làm những việc gì ? Mục tiêu bài tập này ngoài việc giúp học sinh rèn luyện kĩ năng về nghi thức lời nói là biết tự giới thiệu về mình với người khác còn rèn kĩ năng nghe và nói. Học sinh nghe câu hỏi của giáo viên hoặc của bạn và lần lượt trả lời. Để trả.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> lời đúng trọng tâm câu hỏi, học sinh phải tập trung nghe rõ và hiểu nội dung câu hỏi. Trong quá trình trả lời câu hỏi, học sinh được rèn kĩ năng nói, giúp phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh. Bài tập 2: Nghe các bạn trong lớp trả lời các câu hỏi ở bài tập 1, nói lại những điều em biết về một bạn. Ở bài tập này, học sinh sẽ nói lại những điều mình biết về bạn sau khi nghe các bạn giới thiệu về mình thông qua việc trả lời các câu hỏi ở bài tập 1. Việc này đồng nghĩa với việc kể lại những gì mình biết về bạn. Ở bài tập này vừa rèn cho học sinh kĩ năng nghe vừa rèn cho học sinh kĩ năng nói. Như vậy, bài tập 1 ngoài tác dụng rèn luyện kĩ năng về nghi thức lời nói (tự giới thiệu) còn có tác dụng hỗ trợ cho bài tập 2 trong việc rèn luyện kĩ năng nói - kể. Bài tập 3: Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu chuyện. Ở bài tập này, các em quan sát tranh, hiểu nội dung tranh rồi kể lại nội dung của mỗi tranh bằng 1 đến 2 câu (với những học sinh khá, giỏi có thể nhiều hơn 2 câu). Sau khi kể nội dung từng tranh, các em gắn kết lại tạo thành một câu chuyện hoàn chỉnh. Như vậy ở bài tập 3 mức độ của yêu cầu kể được nâng cao hơn so với bài tập 2. Khi các em làm tốt bài tập 2 rồi thì các em sẽ dễ dàng làm bài tập 3. Qua việc phân tích nội dung, yêu cầu, mục tiêu, mối quan hệ của các bài tập trong một bài Tập làm văn cụ thể như trên, tôi thấy rằng việc lập nội dung chương trình giảng dạy Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” là rất cần thiết. Nó giúp cho giáo viên nắm rõ cụ thể những bài tập thuộc dạng kể ngắn có ở những bài Tập làm văn nào, từ đó sẽ tiện cho việc soạn bài, chuẩn bị tốt cho các tiết dạy và cũng rất thuận tiện trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt nội dung chương trình, kĩ năng cần đạt trong phân môn Tập làm văn lớp 2. Qua đó, nó giúp cho giáo viên thực hiện tốt việc giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn..

<span class='text_page_counter'>(10)</span> Tôi lập nội dung chương trình dạng bài “ kể ngắn ” theo sách Tiếng Việt 2, tập 1, tập 2 như sau: Tuần. Tên bài dạy. Trang. 1. Tự giới thiệu. Câu và bài. 12. 3. 5. 7 8. Sắp xếp câu trong bài Lập danh sách học sinh Trả lời câu hỏi. Đặt tên cho bài. Luyện tập về mục lục sách Kể ngắn theo tranh Luyện tập về thời khóa biểu Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Kể ngắn theo câu hỏi. 30. 47. Lưu ý Bài tập 3 có tác dụng rèn kĩ năng kể. Bài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể. Bài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể. 62. Bài tập 1: kể ngắn. 69. Bài tập 2, 3 : kể ngắn Trọng tâm cả tiết là rèn luyện. 10. Kể về người thân. 85. 13. Kể về gia đình. 110. 15. Chia vui. Kể về anh chị em. 126. Bài tập 3: kể ngắn. 137. Bài tập 2: kể ngắn. 132. Bài tập 3: kể ngắn. 16 33. 34. Khen ngợi. Kể ngắn về con vật. Lập thời gian biểu. Đáp lời an ủi. Kể chuyện được được chứng kiến (viết) Kể ngắn về người thân (nói, viết). 140. kĩ năng kể ngắn. Trọng tâm cả tiết là rèn luyện kĩ năng kể ngắn.. Trọng tâm cả tiết là rèn luyện kĩ năng kể ngắn.. 3.2. Dạy học tốt các bài “ Trả lời câu hỏi ”, “ Tập nói ”, … để làm nền cho học sinh kể ngắn tốt Kiến thức – kĩ năng Tập làm văn lớp 2 được sắp xếp từ dễ đến khó một cách hợp lý phù hợp với tâm lí lứa tuổi và khả năng nhận thức, khả năng lĩnh hội.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> kiến thức của học sinh lớp 2. Đầu lớp 2, các em được thực hiện các bài tập dạng “ Trả lời câu hỏi ” (tuần 1, tuần 5, tuần 7, tuần 8, tuần 14 ), bài tập dạng “ Nói lại - Nhắc lại ” (tuần 1, tuần 2). Sau đó nâng lên một bước, học sinh được làm các bài tập “ Sắp xếp lại thứ tự các tranh và dựa theo nội dung các tranh để kể lại câu chuyện ” (tuần 1, tuần 3), tiếp đến là bài tập “ Kể theo câu hỏi gợi ý ”, “ Kể bằng hình thức viết đoạn văn ngắn ”. Do đó để giúp học sinh kể tốt, tôi sử dụng nhiều biện pháp phù hợp để giúp các em thực hiện tốt các bài tập trên. Đối với dạng bài tập “ Trả lời câu hỏi ”, ngoài việc yêu cầu học sinh trả lời đúng nội dung câu hỏi, tôi yêu cầu các em phải trả lời đủ câu, trọn ý. Ví dụ: Bài Trả lời câu hỏi. Đặt tên cho bài. Luyện tập về mục lục sách (Tuần 5) Bài tập 1 : Hãy dựa vào các tranh sau, trả lời câu hỏi : - Bạn trai vẽ ở đâu ? - Bạn trai nói gì với bạn gái ? - Bạn gái nhận xét như thế nào ? - Hai bạn đang làm gì ? Với các câu hỏi này, đa số học thường trả lời ngắn gọn lần lượt như sau : - Đang vẽ ở lên tường. - Mình vẽ có đẹp không ? - Vẽ lên tường làm xấu trường, lớp. - Quét vôi lại bức tường cho sạch. Trong trường hợp này, tôi yêu cầu các em trả lời lại đủ câu, trọn ý như sau : - Bạn trai đang vẽ lên bức tường của trường học. - Bạn trai nói với bạn gái rằng : Mình vẽ có đẹp không ? - Bạn gái nhận xét rằng : Vẽ lên tường làm xấu trường xấu lớp. - Hai bạn đang quét vôi lại bức tường cho sạch. Thực hiện nhiều lần như thế, kết quả các em có thói quen trả lời đủ câu. Đây cũng là cơ sở để các em kể tốt. Đối với bài tập dạng “ Nói lại - Nhắc lại ” tôi thường nhắc nhở các em phải chú ý, tập trung vào nội dung chính cần nói lại, nhắc lại và ghi nhớ thật.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> chính xác để nói lại, nhắc lại cho đúng. Đồng thời, cũng tương tự như dạng bài tập “ Trả lời câu hỏi ”, ngoài việc yêu cầu học sinh kể lại đúng, tôi yêu cầu các em phải kể sao cho đủ câu, trọn ý. Ví dụ : Bài Tự giới thiệu. Câu và bài (Tuần 1) Bài tập 2 : Nghe các bạn trong lớp trả lời câu hỏi ở bài tập 1, nói lại những điều em biết về một bạn. Đối với dạng bài tập “ Kể lại theo tranh ”, “ Sắp xếp lại thứ tự các tranh, sau đó dựa theo nội dung các tranh ấy, kể lại câu chuyện ”, “ Dựa vào tranh, trả lời câu hỏi”, “ Dựa vào tranh để kể chuyện…”, tôi gợi ý cho học sinh thêm thắt các từ ngữ để kết nối ý giữa các tranh cho câu chuyện thêm sinh động. Đầu tiên tôi gợi ý để các em khá giỏi thực hiện trước, sau đó nhân ra cho cả lớp. Ví dụ: Tuần 1, học sinh làm bài tập 3 “ Kể lại nội dung dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu chuyện. ” Theo yêu cầu của đề bài học sinh có thể kể: “ Huệ cùng các bạn vào vườn hoa (tranh 1). Huệ thấy một khóm hồng đang nở rất đẹp (tranh 2). Huệ giơ tay định ngắt một bông hồng. Tuấn thấy thế vội ngăn lại (tranh 3). Tuấn khuyên Huệ không được ngắt hoa (tranh 4). ” Tôi gợi ý cho học sinh thêm thắt như sau: “ Một hôm, Huệ cùng các bạn vào vườn hoa (tranh 1). Thấy một khóm hồng đang nở rất đẹp, Huệ thích lắm (tranh 2).Huệ len lén giơ tay định ngắt một bông hồng. Tuấn thấy thế vội ngăn bạn lại (tranh 3). Tuấn khuyên Huệ không nên ngắt hoa trong vườn. Hoa của vườn hoa phải để cho tất cả mọi người cùng ngắm (tranh 4). ” Chú thích: các từ gạch chân là các từ thêm. 3.3. Tăng cường luyện nói, luyện kể cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc, Kể chuyện Như chúng ta đã biết, sở dĩ học sinh diễn đạt còn hạn chế là do một phần trong học tập các em ít được nói, nhất là những em có tính rụt rè (Chiến, Hà, Ý). Do đó, tôi tạo điều kiện cho các em được nói, kể nhiều trong các tiết học. Không những chỉ trong phân môn Tập làm văn mà trong các phân môn Tập đọc, Kể chuyện tôi cũng tạo điều kiện mọi học sinh được nói, được kể. Chương trình.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> môn Tiếng Việt lớp 2 có thuận lợi là các bài Tập đọc đầu tuần đều là những truyện kể và cũng là nội dung để học sinh tập kể chuyện. Tôi đã tận dụng thuận lợi này để giúp các em được rèn luyện kĩ năng nói, kể như sau: * Đối với phân môn Tập đọc Thứ nhất, khi học sinh trả lời câu hỏi, ngoài việc yêu cầu học sinh trả lời đúng, tôi yêu cầu các em phải trả lời sao cho tròn câu, tròn ý. Có một số câu hỏi mà câu trả lời không cần phải trả lời bằng cách đọc đúng từng câu từng chữ như trong sách giáo khoa mà chỉ cần trả lời bằng cách diễn đạt theo lời của mình. Với những học sinh khả năng diễn đạt còn hạn chế, rụt rè, nhút nhát (Chiến, Hà, Ý), tôi thường gọi trả lời ngay cả các em không giơ tay phát biểu nhằm tăng cường hoạt động nói cho các em. Nếu các em trả lời đúng nội dung câu hỏi nhưng diễn đạt còn lủng củng, tôi sẽ hướng dẫn và tập cho các em trả lời lại tròn câu, tròn ý hơn. Hoặc khi những học sinh khác trả lời đúng, tôi thường gọi các em có tính rụt rè này nhận xét và nhắc lại câu trả lời. Như vậy các em sẽ được nói nhiều hơn, tăng cường khả năng tập trung vào bài hơn. Trường hợp các em trả lời sai câu hỏi, tôi sẽ gợi ý và động viên các em cố gắng hơn nữa để tránh cho các em có cảm giác sợ trả lời sai. Thứ hai, khi dạy những bài Tập đọc là những truyện kể, khi học sinh trả lời câu hỏi, tôi hướng dẫn học sinh trả lời theo giọng kể cho phù hợp với văn kể chuyện, đều này có tác dụng giúp học sinh trau dồi kĩ năng kể. Ngoài việc rèn đọc, tôi dành thời gian 5 phút cho học sinh tập kể lại từng đoạn của truyện. * Đối với phân môn Kể chuyện Tôi hiểu rằng để dạy tốt phân môn Kể chuyện đòi hỏi giáo viên vừa biết kể chuyện hấp dẫn, vừa biết dạy cho học sinh tập nói – tập kể chuyện và phát triển ngôn ngữ, bước đầu tập dùng ngôn ngữ của bản thân để diễn tả (tập kể chuyện). Qua mỗi tiết kể chuyện, học sinh được tiếp xúc với một văn bản truyện kể khá lý thú, cảm nhận được nội dung và thu hoạch được những bài học bổ ích… nhưng điều quan trọng hơn là các em học được cách dùng từ ngữ, câu văn để diễn đạt một ý, liên kết các ý trong một đoạn, các đoạn trong một bài. Đây chính là yêu cầu rèn kĩ năng nói, kể cho học sinh. Vì vậy, tôi tìm mọi cách để.

<span class='text_page_counter'>(14)</span> giúp cho tất cả các em đều phải kể được câu chuyện. Đối với những em có tính rụt rè, ít nói, tôi kiên trì giúp đỡ các em kể cho bằng được. Lúc đầu chỉ yêu cầu các em kể được một đoạn, sau đó nâng dần yêu cầu lên. Cách làm như sau: Đầu tiên tôi gợi ý cho các em trả lời từng câu. Ví dụ dạy bài “ Có công mài sắt có ngày nên kim ”. Tôi chỉ tay vào hình vẽ số 1 và hỏi: “ Ngày xưa có một cậu bé như thế nào? ” (Ngày xưa có một cậu bé làm việc gì cũng mau chán). Hỏi tiếp: “Khi học bài cậu học như thế nào? ” (Khi học bài cậu chỉ đọc vài dòng đã ngáp ngắn ngáp dài rồi bỏ dở). Hỏi tiếp: “ Lúc tập viết cậu thế nào? ” (Lúc tập viết, cậu chỉ nắn nót được mấy chữ đầu, rồi lại viết nguệch ngoạc). Sau mỗi câu trả lời, tôi khen ngợi để khích lệ, động viên. Sau khi các em trả lời xong, tôi chuyển qua cho các em trung bình, khá tập kể. Một lát sau, tôi quay lại cho em học sinh lúc nảy kể lại đoạn 1. Trong một tiết, chỉ cần giúp đỡ cho một đến hai em yếu, rụt rè. Tôi kiên trì, bằng mọi cách làm cho các em “ mở miệng ” nói cho được. Ví dụ: cho em đó nhắc lại câu trả lời của bạn. Qua mỗi tiết học, phải rèn cho học sinh được nói ít nhất là một đến hai câu, nhất là những câu chuyện liên quan đến tập làm văn. 3.4. Thực hiện tốt quan điểm tích hợp để nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn dạng bài “ Kể ngắn ” Quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt 2 thể hiện rõ 3 quan điểm Quan điểm dạy học giao tiếp, quan điểm tích hợp, quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Quan điểm tích hợp gồm có hai kiểu: tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc. Phạm vi tôi đi sâu nghiên cứu và thực nghiệm là thực hiện tốt quan điểm tích hợp theo chiều ngang. Theo quan điểm tích hợp này các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước. Thực hiện tốt quan điểm tích hợp góp phần khắc phục tình trạng “ nghèo ý tưởng và vốn từ ” cho học sinh, giúp học sinh diễn đạt tốt. Sau đây, tôi đưa ra một vài ví dụ về việc thực hiện quan điểm tích hợp qua một số phân môn như sau :.

<span class='text_page_counter'>(15)</span> * Đối với phân môn Tập đọc Khi dạy phân môn Tập đọc, trong khâu củng cố tôi khắc sâu một số kiến thức nhằm chuẩn bị cho học sinh học phân môn Tập làm văn. Ví dụ : Trong tuần 15, khi dạy bài “Hai anh em”, trong khâu củng cố, tôi cho nhiều học sinh , nhất là các em còn yếu nhắc lại một câu nói về tình cảm của hai anh em (Hai anh em rất yêu thương nhau. / Hai anh em đều lo lắng cho nhau. / Hai anh em đều muốn nhường phần hơn cho nhau. / Tình cảm của hai anh em thật là cảm động.) Hoặc khi dạy bài Tập đọc “ Bé Hoa ”, ngoài việc làm tốt ở phần tìm hiểu bài đó là hướng dẫn học sinh trả lời đúng các câu hỏi về nội dung bài, qua đó học sinh nắm được những nét đáng yêu của em Nụ, tình yêu thương của bé Hoa đối với em tôi còn chú ý khắc sâu những kiến thức này ở phần củng cố. Trong phần củng cố, tôi cho nhiều học sinh nhắc lại những nét đáng yêu của em Nụ ( môi đỏ hồng, mắt mở to, tròn và đen láy), tình cảm của Hoa đối với em ( Hoa yêu em, thích đưa võng ru em ngủ). Việc khắc sâu kiến thức ở hai bài Tập đọc trên là để phục vụ cho bài tập 3 trong bài Tập làm văn “ Chia vui. Kể về anh chị em ” ở cuối tuần. Nhờ thực hiện biện pháp này trong tiết tập làm văn, học sinh yếu, học sinh trung bình kể được những nội dung cơ bản theo yêu cầu bài tập, học sinh khá giỏi kể mạch lạc, tự nhiên, giàu ý văn. * Đối với phân môn Luyện từ và câu Ở phân môn Luyện từ và câu, tôi cố gắng dạy tốt để học sinh tiếp thu bài ở mức cao nhất, đồng thời tôi cũng giúp các em khắc sâu và mở rộng kiến thức sau mỗi bài tập để học sinh lấy đó vận dụng vào bài Tập làm văn có trong cùng một chủ điểm. Ví dụ : Bài Từ chỉ đặc điểm – Câu kiểu Ai thế nào ? (Tuần 15) Bài tập 2 : Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật: a) Đặc điểm về tính tình của một người.. M : tốt, ngoan, hiền…. b) Đặc điểm về màu sắc của một vật.. M : trắng, xanh, đỏ…. c) Đặc điểm về hình dáng của người, vật.. M : cao, tròn, vuông…. Ở bài tập này, tôi cho học sinh làm bài theo nhóm, sau đó yêu cầu các đại diện nhóm trình bày. Sau khi chốt lại kết quả đúng của bài tập, tôi chú ý và mở.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> rộng kiến thức cho học sinh bằng cách hướng dẫn cho các em phân biệt các từ chỉ đặc điểm về hình dáng của người với các từ chỉ đặc điểm về hình dáng của vật. Chẳng hạn, với người chúng ta nên dùng các từ cao, to, mập, gầy, lùn, … chứ không nên dùng các từ vuông, méo, …Hoặc, với vật, chúng ta nên dùng từ vuông, méo, ngắn, dài, bé,… để nói về hình dáng sao cho phù hợp. Cuối cùng, tôi yêu cầu vài học sinh trung bình, yếu đọc lại kết quả bài tập để các em khắc sâu, ghi nhớ các từ này. Như vậy, qua bài tập này các em có thêm vốn từ để làm tốt bài tập 3 trong bài Tập làm văn “Chia vui. Kể về anh chị em” ở cuối tuần. 4. Hiệu quả nghiên cứu Sau một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm đề tài, tôi nhận thấy chất lượng học Tập làm văn của học sinh lớp tôi tiến bộ rõ rệt. Hầu hết các em kể được theo yêu cầu, lời nói tròn câu. Kĩ năng giao tiếp của học sinh có phát triển tốt. Đồng thời, các bài tập kể ngắn dưới hình thức viết đoạn văn (từ 4 đến 5 câu ) các em làm tốt hơn nhiều. Ngay cả những học sinh trước đây không biết viết gì vào bài làm của mình thì giờ đây đã viết tương đối, đạt yêu cầu của bài tập và đạt điểm từ trung bình trở lên. Qua quan sát, theo dõi, tôi nhận thấy học sinh có hứng thú hơn nhiều khi học phân môn Tập làm văn. Chất lượng học Tập làm văn tăng nên chất lượng môn Tiếng Việt qua các học kì cũng tăng khá cao. Chất lượng môn Tiếng Việt của lớp 2B (17 học sinh) sau khi áp dụng đề tài đạt kết quả như sau : Giai đoạn. Giỏi. GHK1 CHK1. SL 8 11. % 47,1 64,8. So sánh. +3. + 17,7. CHẤT LƯỢNG Khá Trung bình SL % SL % 3 17,6 5 29,4 3 17,6 3 17,6 0. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận. 0. -2. - 11,8. Yếu SL 1 0. % 5,9 0. -1. - 5,9.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Kĩ năng nói – kể đối với học sinh lớp 2 rất quan trọng. Qua thực nghiệm đề tài, thực nghiệm các biện pháp đã nói trên, tôi thấy hiệu quả rất thiết thực. Có thể con số không phản ảnh hết thực tế mà thiết thực ở chỗ hầu hết học sinh mạnh dạn hẳn lên, nói – kể tự nhiên hơn. Với những biện pháp trên, không chỉ áp dụng ở lớp 2 mà các khối khác đều áp dụng được. Nếu giáo viên biết vận dụng các biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài kể ngắn đã nêu trên để tiến hành dạy trong giờ học Tiếng Việt, chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng ngày sẽ tăng cao một cách rõ rệt. Với đề tài này, việc thực nghiệm chủ yếu đòi hỏi giáo viên phải chịu khó nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, sách giáo khoa để dạy học thì mới có hiệu quả. Trong mọi giờ học giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng hoạt động cho các em. Vì vậy người giáo viên cần không ngừng học hỏi, tìm tòi những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, đổi mới phương pháp dạy học, để giờ học sôi nổi, học sinh hào hứng học tập tiếp thu bài một cách chủ động. Học sinh tiểu học rất thích được khen. Lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và mau tiến bộ. Do vậy, giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin hơn trong học tập. Rèn kỹ năng “ kể ngắn ” không chỉ đòi hỏi yêu cầu ở người giáo viên hướng dẫn, mà phần quyết định chủ yếu đó chính là học sinh. Học sinh phải biết lắng nghe, biết tiếp thu ý kiến đóng góp của bạn, của thầy, chịu khó, tự giác học tập, rèn luyện dưới sự dẫn dắt của thầy cô. 2. Kiến nghị * Đối với Phòng giáo dục Tổ chức chuyên đề áp dụng các biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” trong các lần sinh hoạt cụm chuyên môn. * Đối với nhà trường.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> Cần có kế hoạch chỉ đạo cho các tổ khối tổ chức chuyên đề áp dụng các biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” vào các khối lớp. * Đối với giáo viên Cần phải kiên trì, chịu khó trong việc rèn kĩ năng “ kể ngắn ” cho học sinh, tìm tòi sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tuỵ với học sinh. Vận dụng các biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn dạng bài “ kể ngắn ” một cách có khoa học. Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi qua công tác giảng dạy. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn rằng các biện pháp đưa ra còn nhiều hạn chế, thiếu sót do đúc kết từ kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm. Xin chân thành cảm ơn ! Vạn Thọ, ngày 08 tháng 03 năm 2013 HIỆU TRƯỞNG Võ Thị Hằng.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 2/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 3/ Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục 4/ Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục.

<span class='text_page_counter'>(20)</span>

×