Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (333.35 KB, 16 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>SƠ YẾU LÝ LỊCH Họ và tên: Đỗ Thị Thêm Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1980 Nguyên quán: Ngọc Mỹ - Quốc Oai - Hà Nội Địa chỉ thường trú: Phú Mỹ - Ngọc Mỹ - Quốc Oai - Hà Nội Năm vào ngành giáo dục : 2001 Chức vụ: Giáo viên Chuyên môn: Hóa – sinh Đơn vị công tác: Trường THCS Yên Sơn - Quốc Oai - Hà Nội Tổ chuyên môn: Tự nhiên Các danh hiệu đã đạt: Đạt danh hiệu: Giáo viên dạy giỏi cấp huyện môn Sinh học năm học 2011-2012; năm học 2012-2013.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> Đề tài: “SỬ DỤNG KỸ THUẬT HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ” A: ĐẶT VẪN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài: Trong những năm gần đây sự phát minh về tri thức nhân loại là rất lớn vì vậy để phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, nhà nước đòi hỏi cần có những con người năng động sáng tạo trong cuộc sống. Như vậy để phù hợp với xu thế đó thì việc Dạy – Học cũng có sự thay đổi: học sinh là chủ thể của hoạt động học còn giáo viên chỉ là người đóng vai trò gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tranh luận, tìm tòi, phát hiện của học sinh. Người học chủ động tìm lấy kiến thức. Trước những yêu cầu mới của xã hội đòi hỏi người giáo viên phải có các phương pháp dạy học tích cực để đạt được mục đích cuối cùng là “Đào tạo ra những con người năng động sáng tạo”. Nhiều giáo viên đã áp dụng những phương pháp dạy học tích cực khác nhau vào việc dạy học để đạt được mục đích đó. Nổi bật là phương pháp thảo luận nhóm đã được rất nhiều giáo viên áp dụng và đã đem lại những kết quả nhất định. Qua quá trình dạy học và áp dụng phương pháp thảo luận nhóm tôi nhận thấy phương pháp này có rất nhiều mặt tích cực, nhưng vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục. Có thể nêu một số hạn chế đó như: - Một số học sinh khi thảo luận nhóm vẫn còn hoạt động chưa tích cực, nên chưa có nhiều đóng góp trong việc xây dựng bài. - Nhiều học sinh chưa có dịp thể hiện mình. Do thời gian trên lớp có hạn chỉ một số ít học sinh được trình bày kết quả của mình. - Giáo viên không có đủ thời gian để kiểm tra khả năng nhận thức của từng thành viên trong nhóm nên chưa thể có sự động viên nhắc nhở kịp thời. - Việc đánh giá kết quả của học sinh dựa trên kết quả hoạt động nhóm nhiều khi chưa chính xác. Ví dụ: học sinh có học lực yếu nhưng được phân nhóm chung với các học sinh khá giỏi thì kết quả có thể đạt loại giỏi. Ngược lại học sinh ở mức trung bình – khá nếu được phân nhóm chung với các học sinh đều có học lực yếu, kém thì kết quả lại thấp hơn so với khả năng thực sự của em đó. Xuất phát từ những hạn chế đã nêu ở trên, cá nhân tôi xin có một sáng kiến nhỏ trong việc dạy học “Sử dụng kỹ thuật học tích cực trong dạy học sinh học ở trường THCS” 2. Phạm vi thực hiện đề tài: - Đối tượng: GV và HS trường THCS Yên Sơn - Thời gian thực hiện: + Năm học 2011- 2012 + NĂM HỌC 2012- 2013.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> - Hình thức tổ chức thực hiện: Dạy học Sinh học ở tất cả các khối lớp 3. Kế hoạch nghiên cứu a. Khảo sát thực tế - Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy - Thực trạng kiến thức sinh học của học sinh các khối lớp - Dự giờ thăm lớp các tiết sinh học của các khối lớp b. Thực hiện đề tài trong quá trình giảng dạy các tiết sinh học Một số ví dụ minh họa c. Đánh giá đối chiếu với kết quả ban đầu d. Rút ra kết luận về đề tài B. NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: I. Cơ sở lí luận và thực tiến của đề tài 1. Cơ sở khoa học Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm. Phương pháp đặc thù là quan sát, thí nghiệm phù hợp với quy luật nhận thức của C.Mác – Lênin: " Đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng". Trong sinh học sự phối hợp các phương pháp dạy học giữ vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức. Tuy vậy với khoảng thời gian có hạn của 45 phút trong giờ học các kinh nghiệm cần sử dụng trong mỗi quan hệ hợp lý với việc sử dụng các loại thiết bị dạy học khác như: Tranh ảnh, mô hình... Vì vậy cần sử dụng phương pháp phù hợp với nội dung bài dạy và yêu cầu của chương trình. Một thực tế khi giảng dạy sinh học ở trường THCS, một bài giảng có thực hiện được phương pháp dạy học tích cực thì bao giờ cũng rất sôi nổi, cuốn hút học sinh, giúp học sinh phát hiện kiến thức của bài rất nhanh, từ đó nhớ và khắc sâu kiến thức Học tích cực là giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức khoa học và thự tiễn. Học tích cực là một yếu tố của nguồn nhận thức, nó là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập nhận - thức của học sinh. Từ đây xuất phát quá trình nhận thức của trò sau đó diễn ra sự trừu tượng hóa và sự tiến lên từ trừu tượng đến cụ thể tư duy. Nó có thể giúp học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại. Nhờ vậy mà học sinh hình thành được các khái niệm tốt hơn, bản chất hơn, đến giai đoạn cụ thể hóa, sinh học sẽ vận dụng khái niệm tốt hơn để giải thích những hiện tượng phức tạp. Để hiểu rõ hơn về "kĩ thuật học tích cực" trong dạy học sinh học. Tôi xin giới thiệu kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học sư phạm, để qua đó giáo viên chúng ta thấy rõ và ưu tiên khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh trong quá trình học tập Tỉ lệ lưu giữ trong trí nhớ:.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> Sau 3 giờ. Nhóm thực hiện. Sau 3 nhày. 30%. Lời nói. 10%. 60%. Hình ảnh. 20%. 80%. Lời nói và hình ảnh. 70%. 90%. Lời nói, hình ảnh và hoạt động. 80%. 99%. Tự phát hiện. 90%. Vậy thông qua kĩ thuật học tích cực, học sinh tự làm chủ được kiến thức nhận thức trong nội dung bài học nhằm ghi nhớ, khắc sâu và tự tìm tòi kiến thức mới. 2. Cơ sở thực tế a. Điều tra thực trạng: Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy học môn sinh học ở một số lớp 6,7,8,9 trường THCS Yên Sơn . Từ khi có hướng dẫn của ngành giáo dục và đào tạo, hầu hết các tiết học đã được giáo viên đổi mới phương pháp dạy học. Đặc biệt là áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên giáo viên chưa có những biện pháp thực sự hiệu quả để tổ chức hoạt động nhận thức cho người học. Phương pháp học tập của học sinh vẫn còn thụ động, khă năng vận dụng khi điều tra thăm dò việc sử dụng các biện pháp dạy học thực nghiệm sinh học của giáo viên, chúng tôi thu được một kết quả như sau: Số TT. Nội dung. Mức độ. Mức độ. thường xuyên. thỉnh thoảng. 1. Thuyết trình, giảng giải. 53,8%. 46,2%. 2. Sử dụng hệ thống câu hỏi. 78,3%. 21,7%. 3. Giải thích minh họa. 81%. 19%. 4. Sử dụng phương tiện trực quan. 63%. 37%. 5. Sử dụng tình huống có vẫn đề. 39%. 61%. 6. Sử dụng Grap. 22%. 78%. 7. Tích hợp kiến thức. 21%. 79%. 8. Tổ chức làm việc nhóm. 72%. 28%. 9. Làm việc với SGK và tài liệu tham khảo. 74%. 22%. 10. Dạy học hệ thống hóa kiến thức. 35%. 65%. 11. Dạy học theo dự án. 10%. 90%.
<span class='text_page_counter'>(5)</span> Kết quả điều ta cho thấy các biện pháp sử dụng thường xuyên trong dạy học thực nghiệm là: Tổ chức hoạt động nhóm học sinh; làm việc với SGK và tài liệu tham khảo; thuyết trình giảng giải; sử dụng hệ thống câu hỏi; giải thích minh họa; ...Các biện pháp ít sử dụng như: Sử dụng Crap; dạy học theo dự ấn;... Còn riêng biện pháp dạy học sử dụng các phương tiện trực quan tỉ lệ khá cao nhưng hiệu quả chư chắc chắn cao. Vì một số nguyên nhân: Chất lượng đồ dùng trực quan, phương pháp sử dụng, thái độ của học sinh đối với môn học... Vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học không thể lựa chon một cách ngẫu nhiên mà phải dựa trên mỗi quan hệ khăng khít giữa phương pháp với mục đích và nội dung bài học, đồng thời phải dựa vào các cơ sở khác để đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động dạyhọc. Thực tế khi dạy học ở trường THCS tôi thấy học sinh còn quá thụ động chưa tích cực, chưa chủ động sáng tạo trong quá trình tìm tòi tri thức mới. Do vậy cần sử dụng " kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học sinh học " nhằm giúp học sinh phát huy được hết tư duy sang tạo, năng lực nhận thức, đồng thời giúp học sinh phát hiện kiến thức của bài rất nhanh, từ đó nhớ và khắc sâu kiến thức. II. Khái niệm về học tích cực ? 1. Định nghĩa: Học tích cực là đặt học sinh vào trong những tình huống bắt buộc học sinh phải đọc, phát biểu, nghe, suy nghĩ kĩ và viết. 2. Kĩ thuật học tích cực: Có nhiều kĩ thuật học tích cực mới được phổ biến và ứng dụng trong dạy học như: Kỹ thuật học hợp tác, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực. Trong kĩ thuật học hợp tác bao gồm: kĩ thuật đọc hợp tác, kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật mảnh ghép. Ở đây tôi xin chia sẻ 2 kĩ thuật có thể áp dụng hiệu quả trong dạy học ở trường trung học cơ sở: Kĩ thuật mảnh ghép và kĩ thuật khăn trải bàn. III. Tìm hiểu một số kĩ thuật học tích cực 1. Kĩ thuật mảnh ghép a) Định nghĩa: Kĩ thuật “mảnh ghép” là một trong số các kĩ thuật học hợp tác, trong đó có kết hợp giữa hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm và liên kết giữa các nhóm. b) Cách tiến hành: * Vòng 1: “Nhóm chuyên gia” - Lớp học sẽ chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người) mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (kiến thức ở dạng biết) với nội dung học tập khác nhau. Ví dụ: + Nhóm 1 – Nhiệm vụ A (làm trên giấy màu đỏ) + Nhóm 2 – Nhiệm vụ B (làm trên giấy màu vàng) + Nhóm 3 – Nhiệm vụ C (làm trên giấy màu xanh).
<span class='text_page_counter'>(6)</span> - Các thành viên trong nhóm nghiên cứu và thảo luận để có hiểu biết tốt nhất về nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.. * Vòng 2: “Nhóm mảnh ghép” - Hình thành nhóm mới khoảng từ 3 – 6 người (bao gồm 1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3, …), gọi đó là “nhóm mảnh ghép”. - Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. - Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới (kiến thức ở dạng hiểu trở lên) sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ này phải được gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1). - Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ mới được giao, trình bày và chia sẻ kết quả. c) Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép * Tổ chức: - Số thành viên trong mỗi nhóm từ 3 – 6 học sinh - Trong khi các nhóm chuyên sâu làm việc giáo viên cần quan sát, hỗ trợ kịp thời để đảm bảo thời gian quy định và các học sinh đều có thể trình bày lại được kết quả nghiên cứu, thảo luận của nhóm. - Thành lập nhóm mảnh ghép phải có đủ thành viên của các nhóm chuyên sâu. - Số lượng “mảnh ghép” không quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể dạy lại kiến thức cho nhau. Khi các “nhóm mảnh ghép” hoạt động, giáo viên cần quan sát hỗ trợ kịp thời để đảm bảo các thành viên học được đầy đủ các nội dung từ nhóm chuyên sâu. * Công cụ: - Các thẻ màu (để thuận lợi cho việc tổ chức các nhóm chuyên sâu và mảnh ghép) - Các phiếu giao nhiệm vụ cho các nhóm chuyên sâu và nhóm mảnh ghép. * Gợi ý sử dụng:.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> - Nhiệm vụ của các nhóm chuyên sâu phải có sự liên quan, gắn kết với nhau. vừa phải hết sức cụ thể, dễ hiểu và vừa sức đối với học sinh. - Nhiệm vụ mới được giao cho nhóm mảnh ghép phải gắn liền với các kiến thức thu được ở vòng 1 đồng thời mang tính khái quát, tổng hợp và nâng cao hơn. d) Ưu và nhược điểm của kĩ thuật “mảnh ghép”: * Ưu điểm: - Phương pháp này có thể sử dụng cho tất cả các môn học không riêng gì môn sinh học. - Thể hiện được quan điểm chiến lược học hợp tác, học phân hóa, cụ thể là: + Học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung của nhóm. + Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa. + Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau. * Nhược điểm: - Cần có thời gian đủ để thực hiện vòng 1 và vòng 2. - Đòi hỏi giáo viên có kinh nghiệm tổ chức và chia nhóm tránh mất thời gian và lộn xộn khi học sinh di chuyển. 2. Kĩ thuật khăn trải bàn: a) Định nghĩa: Kĩ thuật “Khăn trải bàn” là một trong số các kĩ thuật học hợp tác, trong đó có kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm b) Các tiến hành: - Bước 1: chia học sinh thành các nhóm, giao nhiệm vụ thảo luận và phát cho mỗi nhóm 1 tời giấy A0 - Bước 2: Hướng dẫn học sinh vẽ một hình vuông ở trung tâm tấm giấy A 0 rồi chia phần trống còn lại làm 4 hoặc 5 phần theo số thành viên của nhóm..
<span class='text_page_counter'>(8)</span> - Bước 3: Học sinh làm việc cá nhân: mỗi thành viên của nhóm làm việc độc lập xây dựng chiến lược, câu trả lời/ giải pháp riêng và viết vào góc giấy của mình - Bước 4: Học sinh làm việc theo nhóm: khi hết thời gian làm việc cá nhân, các thành viên trong nhóm chia sẻ, thảo luận, thống nhất câu trả lời. Ý kiến thống nhất của nhóm được viết vào phần chính giữa. - Bước 5: Trình bày sản phẩm của nhóm. c) Một số lưu ý: * Tổ chức: Số thành viên trong nhóm: 4 – 6 học sinh việc thực hiện kĩ thuật khăn trải bàn sẽ đạt hiệu quả hơn. Nếu số học sinh trong nhóm quá đông, có thể phát cho học sinh những phiếu giấy nhỏ để ghi ý kiến cá nhân, sau đó đính vào phần xung quanh “Khăn trải bàn” Khi thảo luận đính những phiếu giấy ghi các ý kiến đã được nhóm thống nhất vào phần giữa “khăn trải bàn”. Những ý kiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau. Những ý kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở phần xung quanh “khăn trải bàn” * Công cụ: Cần giấy A0, các bút dạ đủ dùng cho mỗi thành viên. Tuy nhiên, nếu không có giáyA0, trong bước hoạt động cá nhân học sinh viết ý kiến cá nhân của mình vào giấy A4. Ý kiến của nhóm có thể ghi vào một biên bản cũng bằng giấy A4. * Gợi ý sử dụng: Kĩ thuật khăn trải bàn có thể để dạy bất cứ môn học nào. Tuy nhiên, vấn đề/ câu hỏi/ bài tập đưa ra cần mang tính chất “mở” có thể giải quyết theo nhiều hướng. d) Ưu và nhược điểm: * Ưu điểm:.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> - Kĩ thuật này dễ sử dụng, không tốn kém - Thể hiện được quan điểm, chiến lược học hợp tác và học phân hóa, cụ thể là: + Học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung của nhóm. + Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa. + Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau. * Nhược điểm: Đòi hỏi thời gian đủ để học sinh làm việc cá nhân và thống nhất ý kiến, trong nhóm. IV. Áp dụng một số kĩ thuật học tích cực trong quá trình dạy học 1. Áp dụng kĩ thuật mảnh ghép Trong chương trình sinh học 6, “Bài 26: Sinh sản sinh dưỡng tự nhiên” Hoạt động 1: Sự tạo thành cây mới từ rễ, thân, lá ở một số cây có hoa (25’). Hoạt động của Giáo viên * Vòng 1: “nhóm chuyên gia” - GV chia lớp thành 4 nhóm “chuyên gia”, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm. + Nhóm 1: Quan sát hình 26.1. Cây rau má bò trên đất ẩm (hoặc mẫu vật có liên quan), trả lời câu hỏi: Cây rau má khi bò trên đất ẩm ở mỗi mấu thân có hiện tượng gì? Mỗi mấu thân như vậy khi tách ra có thể thành một cây mới không? Hoàn thành bảng tr.88 - sự tạo thành cây mới ở cây rau má + Nhóm 2: Quan sát hình 26.2. Củ gừng để ở nơi ẩm (hoặc mẫu vật có liên quan) Củ gừng để ở nơi ẩm có thể thành cây mới được không? Vì sao? Hoàn thành bảng tr.88 - sự tạo thành cây mới ở cây gừng + Nhóm 3: Quan sát hình 26.3. Củ khoai lang để ở nơi ẩm (hoặc mẫu vật có liên quan) Củ khoai lang để ở nơi ẩm có thể tạo thành những cây mới được không? Vì sao? s Hoàn thành bảng tr.88 - sự tạo thành cây mới ở cây khoai lang. Hoạt động của Học sinh - HS chia nhóm theo hướng dẫn của GV - Mỗi nhóm nhận 1 nhiệm vụ do GV giao..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> + Nhóm 4: Quan sát hình 26.4. Lá thuốc bỏng rơi xuống nơi ẩm (hoặc mẫu vật có liên quan) s Lá thuốc bỏng rơi xuống nơi ẩm có thể tạo thành những cây mới được không? Vì sao? s Hoàn thành bảng tr.88 - sự tạo thành cây mới ở lá thuốc bỏng. - GV yêu cầu mỗi nhóm “chuyên gia” hoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình (tất cả các thành viên trong nhóm đều phải nắm được đáp án của nhóm mình) trong vòng 10 – 15’ - GV theo dõi hướng dẫn các nhóm hoàn thành đáp án đúng và yêu cầu các thành viên trong nhóm đều phải nắm vững được đáp án. Vòng 2: “nhóm mảnh ghép” - Chia sẻ kết quả vòng 1: - GV chia nhóm”chuyên gia” thành nhóm mới gọi là “nhóm mảnh ghép” (lưu ý: nhóm mới phải đảm bảo ít nhất có 1 thành viên của mỗi nhóm chuyên gia) - GV yêu cầu các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ các câu hỏi và câu trả lời ở phần trên. Lưu ý: khi các thành viên trong nhóm mảnh ghép đã trao đổi xong GV chuyển ý sang hoạt động 2.. - HS thảo luận hoàn thành nhiệm vụ của nhóm đã được giao - HS hoạt động theo sự hướng dẫn của GV. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải nắm được đáp án của nhóm mình - HS chia nhóm theo hướng dẫn của GV - Các thành viên trong nhóm “mảnh ghép” chia sẻ đầy đủ với nhau các câu hỏi và câu trả lời ở phần trên. Đảm bảo là tất cả các thành viên đều nắm được sự tạo thành cây mới của các cây nêu ở trên.. Hoạt động 2: Sinh sản sinh dưỡng tự nhiên (15’) - GV cho “nhóm mảnh ghép” Thực hiện nhiệm vụ mới: + Từ nội dung đã hoàn thành ở bảng trên hãy cho biết sinh sản sinh dưỡng tự nhiên là gì? + Kể tên một số loại cây có hình thức sinh sản sinh dưỡng tự nhiên mà em biết. - GV yêu cầu HS tự rút ra kết luận. - HS tiếp tục hoạt động theo nhóm mảnh ghép, trả lời câu hỏi GV đặt ra. - Đại diện 1 nhóm trình bày đáp án, nhóm khác nhận xét, bổ sung.. - HS tự rút ra kết luận.. 2. Áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn Trong chương trình sinh học 9 . “Bài 25: Thường biến”. Để hình thành cho học sinh khái niệm thường biến, thường biến có những đặc điểm gì? Sau khi giáo viên cho học sinh quan sát, tìm hiểu một số ví dụ về thường biến..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> Bước 1: Giáo viên chia nhóm (mỗi nhóm gồm 4 em học sinh), mỗi nhóm nhận 1 tờ giấy A0, yêu cầu mỗi nhóm trả lời câu hỏi (thời gian 6’): + Thường biến là gì? + Nêu đặc điểm của thường biến? Bước 2: Hướng dẫn học sinh vẽ hình 1 hình vuông ở trung tâm, rồi chia phần còn lại thành 4 phần (mỗi thành viên nhận 1 phần). Bước 3: Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh làm việc cá nhân, trình bày câu trả lời vào góc giấy của mình (3’) Bước 4: Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm (3’). Các thành viên trong nhóm chia sẻ ý kiến, thảo luận thống nhất câu trả lời. Ý kiến thống nhất sẽ được ghi vào phần chính giữa (phần ô vuông) Bước 5: Cử đại diện nhóm báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình trước lớp. V. HIỆU QỦATHỰC HIỆN: 1. Kết quả: - Kĩ thuật “mảnh ghép” không cho phép bất cứ thành viên nào trong nhóm không nắm được bài, tất cả các thành viên trong nhóm “chuyên gia” đều có cơ hội thể hiện mình trước các bạn ở nhóm khác. - Kĩ thuật “khăn trải bàn” nó tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong nhóm đều được thể hiện. Trong khi làm việc cá nhân, các ý kiến của mình đều được thể hiện, học sinh dễ dàng nhận ra cái được và chưa được của bản thân cũng như của bạn chung nhóm. - Cả hai kĩ thuật dạy học này nó đều hạn chế đi được nhược điểm của phương pháp thảo luận trước đây đó là: nhiều học sinh sẽ có tính ỉ lại vào bạn, không tích cực.
<span class='text_page_counter'>(12)</span> trong việc tham gia xây dựng bài, việc đánh giá hoạt động tư duy của mỗi học sinh cũng dễ dàng hơn, nhanh hơn nên giáo viên có thể đánh giá được lực học của học sinh chính xác hơn. Mặc dù mới được đưa vào áp dụng trong dạy học gần đây nhưng qua khảo sát ở 2 khối lớp 6 và 9 tại trường THCS Yên Sơn tôi thống kê được kết quả tương đối khả quan cụ thể như sau:. Câu số 1. 2. 3. Nội dung hỏi - đáp. Kết quả. Tỷ lệ. Khi học bài có áp dụng “Kỹ thuật mảnh ghép” và “Kỹ thuật khăn trải bàn” em thấy: a) Rắc rối, khó học bài. 5/128. 3,90%. b) Có sức lôi cuốn,. 119/128. 92,98%. c) Bình thường. 4/128. 3,12%. a) Hoạt động cá nhân. 3/128. 2,34%. b) Hoạt động nhóm nhỏ (cũ). 23/128. 17,97%. c) Kĩ thuật khăn trải bàn. 57/128. 44,53%. d) Kĩ thuật mảnh ghép. 45/128. 35,16%. a) Không bị làm phiền khi học. 6/128. 4,68%. b) Ít bị nhắc nhở trong khi học. 20/128. 15,63%. c) Tạo hứng thú khi học tập. 48/128. 37,50%. d) Giúp em hiểu bài kĩ hơn.. 54/128. 42,79%. Em thích học theo phương pháp nào nhất?. Vì sao em thích phương pháp học đó?. - Điều dễ nhận thấy khi tôi áp dụng phương pháp dạy học này là học sinh có sự hứng thú học tập hơn, tích cực trong việc học tập của mình. Qua đó giúp các em hiểu bài sâu sắc hơn. Phát huy được những ưu điểm của các phương pháp dạy học trước, đồng thời hạn chế được những nhược điểm của các phương pháp truyền thống đang áp dụng. - Học sinh tích cực hoạt động tự tìm lấy kiến thức với sự hướng dẫn, chỉ đạo, trọng tài của giáo viên như vậy là đạt được mục tiêu của việc giáo dục là lấy việc học tập của học sinh làm trung tâm cho hoạt động Dạy – Học. - Học sinh có thể nắm bài ngay tại lớp vì vậy giảm áp lực học bài cũ ở nhà cho học sinh làm cho học sinh có thời gian thư giãn vui chơi. - Học sinh hoạt động nhóm với nhau như vậy tạo sự liên kết giữa các thành viên trong nhóm và đồng thời là cơ sở để học sinh có thể xây dựng các nhóm “bạn cùng tiến” trong lớp học..
<span class='text_page_counter'>(13)</span> 2. Phổ biến ứng dụng: Sử dụng kỹ thuật học tích cực có thể áp dụng rộng rãi và có hiệu quả cao trong việc phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy học cho tất cả các môn học không riêng gì môn sinh học. Mỗi phương pháp tự bản thân nó sẽ không có hiệu quả cao trong giảng dạy nếu như không có sự phối hợp với những phương pháp khác. Việc kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy, cũng như việc chọn lựa một phương pháp phù hợp cho một dạng kiến thức là điều rất cần thiết giúp học sinh học tập tích cực hơn và nắm bài chủ động hơn. Vì vậy khi dạy học các thầy cô cũng nên vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp trong đó thì việc sử dụng kỹ thuật học tích cực trong dạy học cũng cần được nhân rộng. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi rút ra được trong quá trình công tác và giảng dạy ở trường THCS Yên Sơn. Do thời gian thực hiện đề tài và kinh nghiệm của bản thân tôi còn có những hạn chế nhất định vậy nên rất mong sự động viên , khích lệ, sự góp ý chân thành của quý thầy cô, các hội đồng khoa học để Đề tài sáng kiến được hoàn thiện và có thể được áp dụng rộng hơn . Cuối cùng xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc sức khỏe quý thầy cô! Yên Sơn, ngày 12 tháng 05 năm 2013 Ý kiến xác nhận của thủ trưởng đơn vị. Người báo cáo. Đỗ Thị Thêm.
<span class='text_page_counter'>(14)</span> C. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lý luận dạy học sinh học – Đinh Quang Báo, Nguyễn Hữu Bỗng (2009). NSB Giáo Dục Hà Nội 2. Những vẫn đề chung về đổi mới giáo dục THCS – môn Sinh học. Bộ giáo dục và đào tạo(2007). NSB Giáo Dục Hà Nội 3. Chiến lược phát triển giáo duc 2001 – 2010.NSB Giáo Dục Hà Nội (2002) 4. Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa – Trần Bá Hoành (2007).NSB Đại học sư phạm Hà Nội 5. Giáo trình phương pháp dạy học sinh học ở THCS – Nguyễn Quang Vinh, Trần Bá Hoành (2007). NSB Giáo Dục Hà Nội 6. Sách bài giảng sinh học 6, 9 – Trần Hồng Hải 7. Sách giáo khoa sinh học 6,7,8,9 – Bộ DG&ĐT 8. Sách giáo viên sinh học 6,7,8,9 - Bộ DG&ĐT.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> Mục lục A. Đặt vẫn đề. I. Lý do chọn đề tài. II. Phạm vi thực hiện đề tài III. Kế hoach nghiên cứu B. Nội dung đề tài I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở thực tế II. Khái niệm về học tích cực ? 1. Định nghĩa: 2. Kĩ thuật học tích cực III. Tìm hiểu một số kĩ thuật học tích cực 1. Kĩ thuật mảnh ghép 2. Kĩ thuật khăn trải bàn IV. Áp dụng một số kĩ thuật học tích cực trong quá trình dạy học 1. Áp dụng kĩ thuật mảnh ghép 2. Áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn V.Hiệu quả thực hiện 1. Kết quả 2. Phổ biến ứng dụng C. Tài liệu tham khảo.
<span class='text_page_counter'>(16)</span> NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ..................................................................................................................................
<span class='text_page_counter'>(17)</span>