Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (154.95 KB, 20 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học? Cách giải quyết vấn đề của triết học?</b>
<i><b>Trả lời:</b></i>
<i>1.Vấn đề cơ bản của triết học:</i>
- Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan
với nhau, trong đó vấn đề cơ bản của triết học là những vấn đề cực kì quan trọng làm nền
tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại. Theo Ăng_ghen: “Vấn đề
cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy
và tồn tại”.
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn là:
+ Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết
định cái nào?
+ Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
<i>2.Cách giải quyết vấn đề của triết học</i>
a. Để giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân
định các trường phái của triết học:
+ Một là: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Cách giải quyết này
thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thư hai của ý thức. Thuộc trường phái nhất
nguyên duy vật (chủ nghĩa duy vật).
+ Hai là ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất. Cách giải quyết này
thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, tính thứ hai của vật chất. Thuộc trường phái nhất
nguyên duy tâm (chủ nghĩa duy tâm).
+ Ba là: vật chất và ý thức tồn tại độc lập, chúng không nằm trong quan hệ quyết định
nhau (giao động giữa CNDV-CNDT). Thuộc trường phái nhị nguyên luận.
- Cách giải quyết thứ nhất và cách giải quyết thứ hai tuy đối lập nhau về nội dung nhưng
giống nhau ở chỗ, chúng đều thừa nhận tính thứ nhất của một nguyên thể (hoặc vật chất,
hoặc ý thức). Hai cách giải quyết này thuộc về triết học nhất nguyên.
- Bản chất của thế giới là vật chất, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý
thức. Ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất trong óc người.
- Nguồn gốc:
+ Nhận thức: từ tri thức khoa học, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của khoa học.
+ Xã hội: Gắn bó với lợi ích của các giai cấp tiến bộ trong xã hội.
- Chủ nghĩa duy vật là kết quả khái quát thành tựu nhận thức và thực tiễn xã hội qua các
giai đoạn lịch sử. Nó có tác dụng định hướng cho các lực lượng tiến bộ trong xã hội hoạt
động trên nền tảng ấy.
- Chủ nghĩa duy vật đã trải qua quá trình phát triển lâu dài mà đỉnh cao của nó là chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
<b>CN Duy tâm.</b>
- Coi bản chất của thế giới là ý thức, ý thức có trước vật chất, ý thức sinh ra và quyết định
vật chất.
- Nguồn gốc:
+ Nhận thức: Do xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính
+ Xã hội: Vì lợi ích của giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động, thường có
mối quan hệ với tôn giáo và là cơ sở của thế giới quan tôn giáo.
- Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản:
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận tính thứ nhất của <i>ý thức con người</i>, phủ nhận
tồn tại khách quan.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan: cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng theo họ
đây là thứ <i>tinh thần khách quan</i> có trước và tồn tại độc lập với con người (ý niệm, tinh
thần tuyệt đối, lý tính thế giới)
b. Để giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học "Con người có thể nhận
thức được thế giới hay không?” thì xuất hiện các trường phái khả tri luận (gắn với
CNDV), bất khả tri luận và hoài nghi luận (gắn với CNDT).
<i><b>Trả lời:</b></i>
<i>a. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:</i>
* Khái niệm
- Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt cuae một sự vật, hiện
tượng trong thế giới.
- Mối liên hệ có vai trò là cơ sở cho sự tồn tại, làm điều kiện cho sự vật bộc lộ thuộc tính
của mình.
- Liên hệ phổ biến là mối liên hệ chung nhất tồn tại ở tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế
giới.
* Tính chất của các mối liên hệ.
- Tính khách quan của các mối liên hệ: là sự liên hệ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của con người bởi vì các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú
khác nhau song chúng vẫn là các dạng cụ thể của vật chất.
- Tính phổ biến của các mối liên hệ, tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác. Không có sự
vật, hiện tượng nào nằm ngồi mới liên hệ.
+ Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất
định. Song, dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến
nhất, chung nhất.
- Tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ.
+ Tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai
trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó.
+ Các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các
mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá
trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể.
*Kết luận:
+ Sự vật tồn tại trong mối liên hệ phổ biến
+ Thông qua mối liên hệ phổ biến mà sự vật, hiện tượng bộc lộ được bản chất của nó.
*Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần có quan điểm:
- Quan điểm toàn diện.
+ Khi nhận thức về một sự vật hiện tượng chúng ta phải xem xét mợt cách tồn diện:
• Phải nhận thức sự vật, hiện tượng qua các mối liên hệ của nó, chống phiến diện, một
chiều.
• Cần phân biệt các mối liên hệ và chú ý đến các mối liên hệ bản chất, cơ bản, chủ ́u,
tất nhiên, chớng chàn lan.
• Cần sử dụng đồng bộ các giải pháp để tác động vào các sự vật hiện tượng.
- Quan điểm lịch sử – cụ thể.
+ Khi nhận thức về sự vật, hiện tượng và tác động vào các sự vật hiện tượng thì phải chú
ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể mà trong đó sự vật sinh ra
tồn tại và phát triển.
+ Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình
huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lí
các vấn đề thực tiễn.
→ Nguyên lý để chỉ ra rằng mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ
biến với các sự vật hiện tượng khác của thế giới. Điều đó bắt nguồn từ tính thống nhất vật
chất của thế giới. Các mối liên hệ là khách quan, phổ biến, phong phú đa dạng. Thông
qua mối liên hệ phổ biến, sự vật sẽ bộc lộ các thuộc tính bản chất, quy luật tồn tại của
mình. Vì vậy muốn nhận thức đúng đắn các sự vật, cần nhận thức các mối liên hệ của nó
- Phát triển cuãng là vận động nhưng vận động theo xu hướng đi lên, từ ít đến nhiều, từ
thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
- Phát triển mang tính phổ biến, nó là khuynh hướng chung của thế giới
- Phát triển diễn ra theo xu hướng đường xoáy ốc. Phát triển cũng diễn ra theo cách đứt
đoạn trong liên tục, nghĩa là từ sự tích lũy về lượng để dẫn đến sự thay đổi về chất, từ sự
thay đổi về chất tác động trở lại sự thay đổi về lượng. Cứ như vậy, phát triển diễn ra một
cách khách quan, tự thân, vốn có của sự vật.
* Tính chất:
- Tính khách quan của sự phát triển.
+ Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì, theo quan điểm duy vật biện
chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật.
+ Đó là quá trình liên tục giải quyết các mâu thuẫn ở bên trong sự tồn tại và vận động của
sự vật, vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện
vọng, ý chí, ý thức của con người.
- Tính phổ biến của sự phát triển.
+ Tính phổ biến của sự phát triển, được thể hiện ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư
duy; ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan.
- Tính đa dạng và phong phú của sự phát triển.
+ Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng, song mỗi sự vật hiện
tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Tồn tại ở không gian và thời gian
khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau.
+ Ngoài ra sự phát triển còn có tính chất tiến lên, kế thừa, liên tục.
* Trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần:
- Quan điểm phát triển trong nhận thức sự vật, nghĩa là nhận thức sự vật trong sự vận
động, phát triển.
- Đòi hỏi chống quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới phát triển.
- Phát triển là khó khăn, phức tạp vì vậy, trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực
tiễn khi gặp khó khăn, thất bại phải bình tĩnh và tin tưởng vào tương lai.
→ Tóm lại nội dung nguyên lý của sự phát triển là: Phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng
mọi sự vật tồn tại trong quá trình vận động với xu hướng phát triển. Phát triển là khách
quan, phổ biến, đa dạng, phong phú: có nguyên nhân bên trong, được quyết định bởi mâu
thuẫn khách quan của sự vật hiện tượng, là kết quả của quá trình tích lũy về lượng, nhảy
vọt về chất, thông qua những lần phủ định biện chứng và diễn ra theo đường xoáy ớc.
<b>Câu 3: Hình thái KTXH là gì? Vì sao có thể khẳng định: Sự thay thế các hình thái </b>
<b>KTXH là quá trình lịch sử - tự nhiên?</b>
<i><b>Trả lời: </b></i>
* Khái niệm:Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng
để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng
cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến
trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
- Cấu trúc: Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống hồn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, bao
gờm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
* Chứng minh:
- Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau là: Công xã nguyên
thủy, Chiến hữu nô lệ, Phong kiên, Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở
phát hiện ra các quy luật vận động và phát triển khách quan của xã hội. C.Mác đã kết
luận: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự
nhiên”.
- Quá trình vận động từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác
được thực hiện bởi con người mang ý thức, nhưng nó không tuân theo ý muốn chủ quan
của con người mà tuân theo các quy luật phát triển khách quan.
+ Quy luật quan hệ sx phù hợp với trình độ của lực lượng sx
+ Quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
+ Trong xã hội có giai cấp còn có thêm quy luật đấu tranh giai cấp
xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì
người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình
thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.
- Chính sự phát triển của lực lượng sx làm thay đổi quan hệ sx, quan hệ sx lại làm cho
kiến trúc thượng tầng thay đổi theo. Trên cơ sở đó, hình thái KTXH cũ được thay thế
bằng hình thái KTXH cao hơn.
- Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế xã hội thay thế
nhau từ thấp đến cao, đó là con đường phát triển chung của nhân loại. Song, con đường
→ Như vây, quá trình lịch sự – tự nhiên của sự vận động phát triển từ hình thái kinh tế
xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác, chẳng những diễn ra bằng con đường phát
triển tuần tự, từ thấp đến cao mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất
định, một hoặc một vài hình thái kinh tế xã hội nhất định.
<b>Câu 4: Nội dung và tác động của quy luật giá trị?</b>
<i><b>Trả lời:</b></i>
a. Nội dung của quy luật giá trị là:
- Quy luật giá trị: là quy luật cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ở đâu có sản
xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động. Quy luật giá trị đòi hỏi
việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được thực dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội
cần thiết.
- Sự vận động giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của chính nó là cơ
chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy
luật giá trị phát huy tác dụng.
b. Tác động của quy luật giá trị là:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
+ Điều này được thể hiện ở việc phân bố SLĐ và TLSX giữa các ngành, các lĩnh vực
kinh tê. Tác dụng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hóa
trên thị trường dưới tác động của quy luật Cung – cầu.
+ Điều tiết lưu thông: Phân phối hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao.
- Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao đông, làm cho lực
lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh.
+ Để giành lợi thế trong cạnh tranh và làm ăn có hiệu quả, tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản,
người sản xuất phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao
động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kĩ thuật, cải tiến tổ chức
quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ tăng năng suất lao động.
+ Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính
xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đấy phát triển nhanh chóng.
- Thực hiện lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo.
+ Người nào có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội, thì thu được nhiều lãi trở nên giàu
có.
+ Người nào có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội, sẽ bị rơi vào tình trạng thua lỗ và
trở nên nghèo khó.
* Ý nghĩa của quy luật.
- Lựa chon tự nhiên, đào thải yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển.
- Phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳn trong xã hợi.
<b>Câu 5: Phân tích bản chất của lợi nhuận tư bản thương nghiệp, tư bản ngân hàng,</b>
<b>tư bản cho vay và địa tô?</b>
* Tư bản thương nghiệp:
- Khái niệm: Tư bản thương nghiệp là bộ phận của tư bản công nghiệp, được tách rời ra
và phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của TBCN.
- Lợi nhuận của TBTN:
+ Lợi nhuận thương nghiệp là một phần của giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh
vực sản xuất và do nhà TBCN nhượng lại cho nhà TBTN để nhà TBTN tiêu thụ hàng hóa
cho mình.
+ Trên thực tế, các nhà TBTN thu lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và giá bán. Điều đó
không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hóa cao hơn giá trị của nó mà nhà
TBTN mua hàng của nhà TBCN với giá thấp hơn giá trị (nhà TBCN đã chấp nhận
nhượng một phần giá trị thặng dư cho nhà TBTN) sau đó nhà TBTN lại bán cho người
tiêu dùng với giá trị đúng của nó.
+ Công thức của TBTN: T – H – T’
Hàng hóa được chuyển chỗ 2 lần: từ tay nhà TBCN sang tay nhà TBTN, từ tay nhà
TBTN sang tay người tiêu dùng. Như vậy, TBTN chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông
và không mang hình thái là tư bản sản xuất.
* Tư bản cho vay:
- Khái niệm: TBCV là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho người khác sử
dụng trong một thời gian nhất định nhằm thu thêm một số lời nhất định, số lời đó được
gọi là lợi tức ( kí hiệu: z)
- Lợi nhuận của TBCV:
+ Bản chất của tư bản nói chung và TBCV nói riêng đều là giá trị mang lại giá trị thặng
dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
+ Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh
vực sãn xuất. Tuy nhiên việc nhà TBCV thu được lợi tức đã che giấu được thực chất bóc
lột tư bản chủ nghĩa
+ Công thức của tư bản cho vay là : T = T’ (trong đó T’ = T + z), đối với nhà tư bản thì
tiền phải đẻ ra tiền. Vi vậy nhà tư bản phải đưa tiền cho người khác vay để kiếm lời. Như
vậy bản chất của tư bản cho vay là tiền đem đi cho vay để thu được lãi.
- Khái niệm: Tư bản ngân hàng trong chủ nghĩa tư bản là một xí nghiệp kinh doanh tư
bản tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay.
- Lợi nhuận của TBNH:
+ TBNH giống TBCV ở chỗ đều có đối tượng là tiền tệ được nhà tư bản mang đi cho vay
để thu về lợi tức (hay một số tiền lãi nhất định nhờ cho vay).
+ Tư bản ngân hàng là tư bản hoạt động, tư bản chức năng, lợi nhuận ngân hàng vận động
theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân.
+ Tư bản cho vay chỉ bao gồm tư bản nhàn rỗi. Còn tư bản ngân hàng, ngồi các tư bản
nhàn rỡi ra còn bao gồm các kim loại quý (đặc biệt là Vàng), các chứng khoán có giá (cổ
phiếu, trái phiếu).
+ Nguồn vốn của tư bản ngân hàng gồm có: Tư bản tiền tệ của chủ ngân hàng, tư bản
tiền tệ của các nhà tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, ...
* Địa tô TBCN:
- Khái niệm: Địa tô TBCN là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi lợi
nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải nộp cho địa chủ.
- Bản chất của địa tô TBCN:
Để làm rõ bản chất của địa tô TBCN ta so sánh sự giống và khác nhau giữa địa tô TBCN
và địa tô phong kiến:
+ Giống nhau: là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế. Cả hai loại địa
tô này đều là kết quả của sự bóc lột đối với người lao động làm thuê.
+ Khác nhau:
Về mặt chất
• Địa tô phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp là địa chủ và nông dân.
• Địa tơ TBCN biểu hiện mới quan hệ giữa ba giai cấp trong xã hội là: Địa chủ, tư sản
kinh doanh trong nông nghiệp và công nhân làm thuê.
Về mặt lượng
• Địa tô TBCN là một phần giá trị thặng dư do công nhân làm thuê tạo ra (một phần giá
trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận cho tư bản cơng nghiệp).
<b>Câu 6: Phân tích đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền?</b>
<i><b>Trả lời: </b></i>CNTB độc quyền có 5 đặc điểm:
* Tập trung sản xuất vào các tổ chức độc quyền
- Tổ chức đốc quyền là sự liên minh giữa các nhà tư bản lớn để chi phối hoạt động sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhằm mục đích thu được siêu lợi nhuận (lợi nhuận độc quyền
cao).
- Các hình thức của tổ chức độc quyền
+ Cacten (Cartel): là hình thức tổ chức độc quyền giữa các nhà tư bản ký hiệp nghị thỏa
thuận với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thị trường tiêu thụ, kì hạn thanh toán … Các
nhà tư bản tham gia vào Cacten vẫn độc quyền về sản xuất và lưu thông.
+ Xanhđica (Cyndicate): là hình thức tổ chức độc quyến cao hơn, ổn định hơn cacten.
Các xí nghiệp tham gia vào xanhđica vẫn độc lập về sản xuất, chỉ mất độc lập về lưu
thông
+ Tờ rớt (Trust): là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn cả cacten và xanhđica, nhằm
thống nhất cả việc sản xuất và tiêu dùng, tài vụ đều do một ban quản trị quản lý.
+ Công_xooc_xi_om: đây là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ và quy mô lơn hơn
tất cả các hình thức tổ chức độc quyền trên
+ Công gơ lô mê rát
* Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
- Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và ngân hàng kết hợp chặt chẽ với nhau và
thúc đẩy nhau làm nảy sinh một thứ tư bản mới, gọi là tư bản tài chính.
- Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất (hay dung hợp) giữa tư bản độc quyền ngân
hàng với tư bản độc quyền trong công nghiệp. Tư bản tài chính là tư bản đợc qùn phát
+ Sự hình thành tư bản tài chính làm cho nó trở thành tư bản sở hữu, còn tư bản ngân
hàng và tư bản công nghiệp chỉ là tư bản chức năng.
- Bọn đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự, thực
chất là mợt nhà tài chính lớn, hoặc mợt tập đồn tài chính lớn nhờ có số cổ phiếu không
chế mà năm được một công ty lớn nhất với tư cách là cơng ty gớc, (cơng ty mẹ).
+ Ngồi chế độ tham dự, bọn đầu sỏ tài chính còn sử dụng những thủ đoạn như thành
lập công ty mới, phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán, đầu cơ chứng khoán,
để thu được lợi nhuận độc quyền cao.
+ Thống trị về kinh tế là cơ sở để bọn đầu sỏ tài chính thống trị về chính trị và các mặt
khác của đời sống xã hội.
* Xuất khẩu tư bản
- Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài) nhằm mục
đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản.
- Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì các nguyên
nhân cơ bản sau:
+ Một số nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn và có một số “tư
bản thừa”, nên cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận hơn.
+ Có nhiều nước lạc hậu về kinh tế, thiếu tư bản (vốn), giá ruộng đất giảm xuống thấp,
tiền công thấp, giá nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư tư bản.
- Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là: Đầu tư trực tiếp (FDI)
và đầu tư gián tiếp (ODA)
+ Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng nhữn xí nghiệp mới hoặc
mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư biến nó thành một chi nhánh
của công ty mẹ ở chính quốc.
+ Đầu tư gián tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay để thu lãi.
- Chủ xuất khẩu tư bản được phân thành xuất khẩu tư bản tư nhân và xuất khẩu tư bản
nhà nước.
+ Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nươc tư bản độc quyền dùng nguồn vốn từ ngân
sách của mình, tiền của các tổ chức độc quyền để đầu tư vào các nước nhập khẩu tư bản;
hoặc viện trợ có hồn lại hoặc khơng hồn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tê,
chính trị và quân sự.
- Tác dụng: Việc xuất khẩu tư bản là mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước
ngoài nhằm thu lợi nhuận cao, là công cụ chủ yếu để bành trướng thống trị, bóc lột, nô
dịch các nước khác.
* Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền.
- Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng lên cả về quy
mô và phạm vi tất yếu dẫn đến sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập đồn tư
bản đợc qùn và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tê. V.I.Lê nin nhận xét: “Bọn tư
sản chia nhau thế giới, không phải do tính độc ác đặc biệt của chúng, mà do sự tập trung
đã tới mức buộc chúng phải đi vào con đường ấy để kiếm lời”.
- Nguyên nhân của sự phân chia này là:
+ Do sự hấp dẫn của lợi nhuận siêu ngạch thúc đẩy tư bản độc quyền tăng cường bành
+ Thị trường nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đế quốc.
+ Do sự phát triển của Lực lượng sản xuất.
+ Nhu cầu ngày càng cao về nguồn nguyên liệu và nơi tiêu thụ.
- Biểu hiện của sự phân chia thị trường trong giai đoạn hiện nay là:
+ Một là: Chủ thể phân chia thị trường thế giới không chỉ có các tổ chức độc quyền
quốc gia mà bên cạnh đó còn có các nhà nước tư bản phát triển và đang phát triển.
+ Hai là: kết quả của việc phân chia kinh tế thế giới đã hình thành lên các liên minh,
khối liên minh khu vực điển hình: Cộng đồng kinh tế chung Châu Âu EEC (1957), tiến
tới hình thanh EU (Liên minh Châu Âu năm 1992), đặc biệt là sự ra đời của đồng tiền
chung Châu Âu ERO (1999). Khới thị trường chung Châu Mỹ (dự tính hồn thành năm
2010) bằng cách từng bước mở rộng khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) gồm các
nươc: USA, Ca na đa, Mê hy cô.
- Hệ quả:
+ Sự đụng độ trên trường quốc tế giữa các cường quốc kinh tế.
+ Sự thỏa hiệp ký kết các hiệp định, hình thành các liên minh kinh tế, để củng cố địa vị
độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và thị trường nhất định
* Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các nước đế quốc.
- Sự phân chia thế giới được củng cố và tăng cường bằng việc tăng cường phân chia thế
giới về lãnh thổ. V.I.Lê nin đã chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên
liêu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu
- Sự phân chia lãnh thổ và phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản tất yếu dẫn
đến cuộc đấu tranh đòi chia lại thế giới. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến
tranh thế giới khủng khiếp nhất trong lịch sử lồi người
<b>Câu 7: Vai trị, hạn chế, xu hướng vận động của CNTB?</b>
<i><b>Trả lời: </b></i>
* Thành tựu của CNTB:
- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi "đêmtrường trung cổ" của
xã hội phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên,tự túc, tự cấp chuyển sang phát
triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa,chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại.
Dưới tác động của quy luậtgiá trị thặng dư và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa,
chủ nghĩa tư bản đã làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng của cải khổng lồ
hơnnhiều xã hội trước cộng lại.
- Phát triển lực lượng sản xuất.
Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuấtphát triển mạnh
mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹthuật thủ công lên kỹ thuật cơ
khí, sang tự động hóa, tin học hóa và côngnghệ hiện đại. Cùng với sự phát triển của kỹ
thuật vầ công nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và
chinh phục thiên nhiên của con người.
Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển
- Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp, lần đầu tiên tổ chức lao động
theo kiểu công xưởng, đó đó xây dựng được tác phongcông nghiệp cho người lao động,
làm thay đổi nề nếp thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến
- Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử thiết lập nên nền dân chủ tư sản, tiến bộ hơn
rất nhiều so với thể chế chính trị phong kiến.
* Hạn chế của CNTB:
- Lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản gắn với quá trình tích lũy nguyên thủy nên ngay từ
đầu đã thể hiện bản chất bóc lột và chiếm đoạt những người sản xuất nhỏ và nông dân tự
do. C.Mác cho rằng: đó là lịch sử đầy máu và bùn nhơ, không giống như một câu chuyên
tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giờ
phai.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột, do đó tất yếu
làm cho bất bình đẳng, phân hóa xã hội ngày càng gay gắt.
- Các cuộc chiến tranh đế quốc tranh giành thị trường dẫn đến nhữnghậu quả nặng nề cho
sự phát triển của xã hợi lồi người.
- Chủ nghĩa tư bản phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố sâu ngăn cách giữa
các nước giàu, nghèo trên thế giới.
- Trong xã hội tư bản ngày nay, sự bất bình đẳng và các tệ nạn xã hội vẫn tồn tại một
cách phổ biến: sự suy đồi về xã hội, văn hoá và đạo đức ngày càng trầm trọng.
* Xu hướng vận động của CNTB
về cơ bản không thủ tiêu được mâu thuẫn này. Sự điều chỉnh ấy vẫn không vượt qua khỏi
khuôn khổ của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
- Chính vì thế, CNTB nhất định sẽ bị phá vỡ và thay vào đó là một quan hệ sở hữu mới
để đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến sự ra đời tất yếu của
phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên,
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể tự tiêu vong và phương thức sản xuất
cộng sản chủ nghĩa cũng không thể tự hình thành mà chỉ có thể thực hiện được thông qua
cuộc cách mạng xã hội trong đó giai cấp công nhân là người có sứ mệnh lịch sử thực hiện
cuộc cách mạng này.
<b>Câu 8: Chứng minh rằng: CNXHKH là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài </b>
<b>người?</b>
<i><b>Trả lời:</b></i>
* Sự ra đời và phát triển của hệ thông CNXH trên thế giới
- Sau Cách mạng tháng 10 Nga Liên Xô là nước đầu tiên đi theo CNXH
- Tiếp theo đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời bao gồm các nước: Liên Xô,
Cộng hòa dân chủ Đức, Hunggari,Rumani, Tiệp Khắc, Anbani, Mông Cổ, Trung Quốc,
Triều Tiên, Việt Nam (sau này thêm Cuba)
- Chính vì vậy, Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân của các nước tại Matxcơva
* Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội
Cho dù lịch sử có biến động như thế nào, dù có ai cố tình xuyên tạc lịch sử cũng không
thể phủ nhận được sự thật là Liên Xô và các nước Đông Âu đã có một thời kỳ phát triển
rực rỡ và đạt được rất nhiều thành tựu to lớn đóng góp chung vào sự phát triển của nhân
loại trong thế kỷ XX.
chủ nghĩa xã hội trên quy mô lớn với trình độ hiện đại, đảm bảo ngày càng tốt hơn đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
- Chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò
quyết định đối với sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đóng vai trò quyết định đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hủy
diệt, bảo vệ hòa bình thế giới.
- Chủ nghĩa xã hội còn có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân
chủ của nhân dân trong các nước tư bản chủ nghĩa
- Các nước XHCN hiện nay đều đạt được những kết quả nhất định (VD……….)
* CNXH – tương lai của XH lồi người
- Liên Xơ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ không có nghĩa là sự sụp đổ
chung của chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của mô
hình chủ nghĩa xã hội thực tế chứ không phải là sự sụp đổ chung của chủ nghĩa xã hội với
- Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa, đổi mới và ngày càng
đạt được những thành tựu to lớn. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu đã có tác động mạnh mẽ đến các nước xã hội chủ nghĩa còn lại nhưng với sự
kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, các nước này không những đứng vững mà còn
thực hiện đổi mới tương đối thành công. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát triển chủ
nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của mình, Trung Quốc và Việt Nam đã từng bước
tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp. Tuy hai nước có những sự khác biệt
về quy mô, vị trí trên trường quốc tế, về văn hóa dân tộc nhưng sự đổi mới, mở cửa của
Trung Quốc và Việt Nam cũng có nhiều nét tương đồng với nhau:
Nam); đa dạng hóa hình thức phân phối, coi trọng phân phối theo lao động, đảm bảo
quyền kinh doanh bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp; giá cả, tỷ giá, lãi suất do thị
trường xác định có sự điều tiết của nhà nước; phát triển đồng bộ các loại thị trường từ thị
trường hàng hóa dịch vụ đến thị trường chứng khoán; thực hiện các chương trình phúc lợi
xã hội rộng lớn, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn môi trường...
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng xây dựng hệ thống pháp
luật ngày càng tương đồng với hệ thống pháp luật hiện đại, phù hợp với những cam kết
quốc tế; giảm dần sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp; gia tăng hiệu lực điều tiết vĩ mô; gia tăng sự phân quyền cho các địa phương;
thực hiện chế độ dân chủ, đặc biệt là ở các cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, gia
tăng sự giám sát của các cấp, của công luận, của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp,
của các tổ chức xã hội, thực hiện cải cách hành chính...
+ Xây dựng các tổ chức xã hội phi chính phủ đa dạng bao gồm các hội nghề nghiệp, văn
hóa, tôn giáo, xã hội...khuyến khích sự phát triển của các tổ chức này hướng vào các mục
đích như từ thiện, cứu trợ... - Hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia vào hầu hết các tổ chức
quốc tế như Liên Hợp Quốc, WTO, các tổ chức khu vực như Hiệp hội ASEAN,Đông Á
và trở thành thành viên tích cực của các tổ chức này.
+ Đảm bảo sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước trên tất cả các mặt. Sự lãnh đạo của Đảng cũng dần được đổi mới theo
hướng dân chủ và hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Trung Quốc và Việt
Nam. Công cuộc cải cách của Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng. Những định hướng phát triển của Trung Quốc và Việt Nam đều tôn
trọng những giá trị tiến bộ của nhân loại, nghiên cứu và ứng dụng chúng phù hợp với
điều kiện cụ thể trên cơ sở những giá trị nhân đạo cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Sự
tiến triển thực tế của những cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam sẽ góp phần quan
trọng làm sáng tỏ hơn con đường đổi mới chủ nghĩa xã hội.
- Đã xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong tình hình chủ nghĩa xã hội tạm
thời lâm vào thoái trào thì ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là khu vực Mỹ Latinh, từ những
năm 1990 đã xuất hiện xu thế thiên tả và phát triển lên thành một trào lưu vào đầu thế kỷ
XXI.