Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Đánh giá các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.36 KB, 11 trang )

A.

MỞ ĐẦU.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội xuất hiện những người
có của cải dư thừa, thừa thãi, chưa quyết định được đầu tư được vào đâu,bên
cạnh đó cũng có những người khơng có đủ tiềm lực về tài sản để đáp ứng
nhu cầu sử dụng. Để giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế, đặc biệt
đối với những gia đình túng thiếu cần vốn để sản xuất, kinh doanh, phải vay
mượn tài sản của người khác để thực hiện những mục đích trên …thì hợp
đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý để thỏa mãn những nhu cầu đó.
Thực tế, Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn của ngân hàng với
mức lãi suất phù hợp, các hộ nông dân nghèo có điều kiện để phát triển sản
xuất kinh doanh. Hoặc nhân dân vay, mượn của nhau để tiêu dùng cho
những việc cần thiết trong gia đình hoặc để kinh doanh là việc làm phổ biến
và có ý nghĩa cần được Nhà nước khuyến khích. BLDS 2015 đã dành hẳn
một mục để quy định về hợp đồng vay tài sản, điều này thể hiện rằng nó
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế cũng như xã hội. Để hiểu sâu
sắc hơn vấn đề này, em xin chọn đề số 15 làm bài tập học kì: “Đánh giá các
quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (nêu
những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của

B.
1.

pháp luật)”.
NỘI DUNG.
Những vấn đề chung về hợp đồng vay tài sản.

Hợp đồng vay tài sản được quy định từ điều 463 đến điều 471 BLDS 2015.
a)


Khái niệm:

Theo điều 463 BLDS 2015 thì Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải
hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và
chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.


b)

Đặc điểm của hợp đồng vay tài sản.

Thứ nhất, Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế.
BLDS 2015 không quy định cụ thể về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp
đồng vay tài sản, liên quan đến vấn đề này, thực tiễn đã có nhiều quan điểm
khác nhau. Theo quan điểm của TS. Nguyễn Mạnh Bách: “ Hiệu lực của hợp
đồng vay tài sản không lệ thuộc vào sự giao tài sản, hợp đồng vay được thành
lập khi có sự thỏa thuận của hai bên và có hiệu lực ngay từ lúc đó, bên cho vay
có nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay”.
ThS. Nguyễn Hữu Chính lại cho rằng: “Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực
tế, trong hợp đồng vay tài sản thì việc thể hiện ý chí của các chủ thể chỉ là điều
kiện cần, muốn hợp đồng có hiệu lực pháp luật, thì các bên phải tiến hành
chuyển giao tiền hoặc vật cho nhau, đó là điều kiện đủ”.
Từ thực tiễn có thể thấy, Hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đồng ưng thuận
cũng có thể là hợp đồng thực tế tùy từng trường hợp cụ thể, điều này tùy thuộc
vào sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể, cũng như hình thức của hợp đồng vay.
Thứ hai, Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ
Xét về nguyên tắc, hợp đồng cho vay là đơn vụ đối với những trường hợp vay
khơng có lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải hoàn trả vật cùng
loại tương ứng với số lượng, chất lượng của tài sản cho bên cho vay. Bên vay

khơng có quyền đối với bên cho vay. Tuy nhiên, đối với hợp đồng cho vay có
lãi suất thì bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, nếu vi phạm
phải chịu trách nhiệm dân sự. Tức là, bên vay và bên cho vay ràng buộc nghĩa
vụ đối với nhau từ thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực. Do vậy, việc xác định
hợp đồng vay tài sản là hợp đồng song vụ hay đơn vụ, điều đó phụ thuộc vào
thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng.


Thứ ba, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có đền bù hoặc khơng có đền bù
Nếu hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù. Khoản lãi chính là lợi
ích vật chất mà bên cho vay nhận được từ hợp đồng vay; Nếu hợp đồng vay
khơng có lãi suất là hợp đồng khơng có đền bù. Hợp đồng vay khơng có đền bù
được xác lập phổ biến với những người có quan hệ thân thích, tình cảm…mang
tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Thứ tư, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản
từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản. Vì vậy, bên cho vay có
tồn quyền đối với tài sản vay, trừ trường hợp vay có điều kiện sử dụng.
c)

Ý nghĩa của hợp đồng vay tài sản.

Hợp đồng vay tài sản là quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng ngày.
Hợp đồng vay tài sản có ý nghĩa trong việc phân phối nguồn vốn trong xã hội,
gián tiếp mang lại lợi ích cho đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày
càng giàu mạnh. Đồng thời, đây cũng là một phương tiện pháp lý để thực hiện
quan hệ hợp tác giữa các cá nhân với nhau; giữa Nhà nước với cá nhân và pháp
nhân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giúp lưu
thơng hàng hóa, điều hịa nền kinh tế thị trường.
2. Đánh giá các quy
2.1.

Về khái niệm,

định trong BLDS 2015 về hợp đồng vay tài sản.
hình thức của hợp đồng vay tài sản ( điều 463 BLDS

2015)
Từ quy định tại điều 463 BLDS 2015, có thể nhận thấy rằng hợp đồng
dân sự được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của hai bên chủ thể, bên cho vay
có nghĩa vụ “Giao tài sản”; bên vay có nghĩa vụ “hồn trả vật cùng loại theo
đúng số lượng, đúng chất lượng”. Nó đã thể hiện được rõ bản chất của hợp
đồng vay là việc chuyển quyền sở hữu giữa hai bên chủ thể, cũng như đề cao


nguyên tắc tự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, các bên có thể thỏa thuận về
hiệu lực của hợp đồng, từ đó xác định đặc điểm của hợp đồng trong từng trường
hợp cụ thể.
- Ưu điểm:
+) Điều 463 đã nêu rõ được đối tượng của hợp đồng vay là tài sản. Tài sản theo
quy định tại Điều 105 bao gồm “Tiền, vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
khác”. Tiền là đối tượng phổ biến trong hợp đồng vay tài sản và tiền cần phải
đáp ứng được điều kiện “Do Ngân hàng Nhà nước phát hành và đang có giá trị
lưu thơng”, trong trường hợp vay ngoại tệ thì phải đáp ứng điều kiện một trong
hai bên phải có giấy phép được lưu thơng tiền tệ. Nếu đối tượng của tài sản là
vật thì phải là vật cùng loại, vật đã có hoặc sẽ có trong tương lai như vàng, thóc,
gạo,… bên vay có nghĩa vụ hồn lại vật cùng loại theo đúng số lượng, chất
lượng nên vật đặc định không được xác định là đối tượng của hợp đồng vay.
+) Hình thức của hợp đồng vay: Hợp đồng vay tài sản có thể được xác lập bằng
miệng, văn bản ( có hoặc khơng có cơng chứng, chứng thực). Điều này đã giúp
việc giao kết hợp đồng được diễn ra thuận tiện, nhanh chóng hơn.
- Hạn chế:

+) Theo Luật Ngân hàng nhà nước thì tiền bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và
các giấy tờ có giá trị như tiền. Như vậy, đối tượng vay phổ biến là đồng nội tệ
(VND), ngân phiếu, cổ phiếu, trái phiếu…cũng có thể là đối tượng của HĐVTS.
Vậy ngoại tệ có được xem là đối tượng của HĐVTS? Theo quy định tại Pháp
lệnh ngoại hối 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2013). Tại Điều 22 quy định:
“Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo
giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác
của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ


các trường hợp được phép theo quy định của NHNN Việt Nam.” Có thể thấy
ngoại tệ là một loại ngoại hối hạn chế sử dụng. Trường hợp muốn sử dụng
ngoại tệ trong các giao dịch hay thanh toán phải thuộc đối tượng (đặc thù chứ
không phổ biến) đã được pháp luật quy định cho phép. Dù đã có quy định hạn
chế việc sử dụng ngoại tệ trong giao dịch, nhưng thực tế nó vẫn diễn ra và khá
phổ biến. Cần có sự cụ thể hóa vào các quy định trong BLDS. Các đối tượng là
vàng, kim khí quý, đá quý, khơng nên để nó bao gồm trong đối tượng là vật.
Bởi vàng, kim khí quý, đá quý là những tài sản có giá trị đặc biệt, đối với vàng
tiêu chuẩn quốc tế theo quy định của pháp luật ngân hàng nó cịn là ngoại hối và
được quản lý theo quy chế giống như là ngoại tệ. Việc đánh đồng các loại tài
sản nêu trên có thể dẫn đến việc pháp luật khơng được giải thích rõ, ảnh hưởng
đến việc tn thủ pháp luật trên thực tế mà ở đây là hợp đồng vay tài sản.
+) Hình thức của hợp đồng, theo thực tế xét xử cho thấy, các HĐVTS giao kết
bằng lời nói nhiều hơn các hợp đồng giao kết bằng văn bản. Điều này cũng gây
khơng ít khó khăn cho q trình giải quyết tranh chấp.
- Định hướng hồn thiện:
+) Quy định về đối tượng của hợp đồng vay tài sản, đối với những tài sản có giá
trị đặc biệt như vàng, kim khí, đá quý,... nên được quy định rõ ràng, cụ thể, chi
tiết hơn. Từ đó, tạo điều kiện cho việc hiểu và thi hành pháp luật.
+) Cần quy định chi tiết hơn về hình thức của HĐVTS để tạo điều kiện thuận

lợi cho Tồ án có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐVTS;
đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên. Nên quy định theo hướng: với
giá trị tài sản bao nhiêu thì Hợp đồng vay tài sản phải được lập thành văn bản...
2.2.

Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản.


Nghĩa vụ của các bên chủ thể được quy định tại điều 465 và điều 466 BLDS
2015.
-Ưu điểm: quy định rõ việc thực hiện nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo các
quyền và lợi ích của cả bên vay và bên cho vay đối với tài sản vay được hiện
thực hóa, hướng tới mục đích đã định sẵn; dự liệu được những tình huống có
thể xảy ra đồng thời có chỉ ra hướng giải quyết linh hoạt, hợp lý đồng thời vẫn
tôn trọng yếu tố tự thỏa thuận giữa các bên; đặt ra quy định về lãi quá hạn nhằm
nâng cao trách nhiệm trả nợ qua đó hướng đến đảm bảo quyền lợi của bên cho
vay khi hết hạn hợp đồng vay.
-Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm nói trên thì quy định về nghĩa vụ của các
bên vẫn có một số hạn chế. Cụ thể, trong trường hợp bên cho vay “biết tài sản
không bảo đảm chất lượng mà khơng thơng báo cho bên vay biết”, luật có quy
định bên cho vay phải bồi thường thiệt hại, tuy nhiên một trong những điều kiện
để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải có thiệt hại thực tế xảy ra,
do đó cần thiết đưa vào điều khoản này về sự kiện “… gây thiệt hại cho bên
vay”, từ đó mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại...
-Định hướng hoàn thiện: cần bổ sung, làm rõ quy định về nghĩa vụ của các
bên, tránh việc lợi ích hợp pháp của bên vay hoặc bên cho vay bị xâm phạm.
2.3.

Lãi suất.


Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận khơng
được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên
quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ,


Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo
cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định
tại khoản này thì mức lãi suất vượt q khơng có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng khơng xác định rõ
lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức
lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
-Ưu điểm: vấn đề lãi suất được đặt ra trong HĐVTS nhằm mục đích để bên cho
vay được hưởng một giá trị vật chất, từ đó khuyến khích việc giao kết HĐVTS.
Việc giới hạn về lãi suất cho vay là công cụ pháp lý quan trọng nhằm quản lý
hoạt động của các tổ chức tín dụng, cân bằng lợi ích giữa các bên từ đó tạo ra
thị trường tín dụng lành mạnh, tránh hiện tượng đầu cơ, cho vay nặng lãi.
-Hạn chế: với quy định này, rất khó để xác định chính xác khoản tiền vay tại
từng thời điểm trong trường hợp bên cho vay liên tục nhập các khoản lãi suất
vào nợ gốc và yêu cầu bên vay phải trả lãi trên tồn bộ số nợ đó. Khi đó, việc
áp dụng lãi suất 20%/năm cho khoản vay vào thời điểm nào mới là phù hợp và
số tiền nào được gọi là khoản tiền vay? Ngoài ra tại điều 468 BLDS 2015 chỉ
quy định mức lãi suất trong trường hợp tài sản vay là tiền, mức lãi suất không
được vượt quá 20% một năm của khoản tiền vay. Tại điều này cũng như những
quy định cịn lại của chế định HĐVTS khơng hề nhắc đến hạn mức lãi suất
trong trường hợp tài sản vay khơng phải là tiền. Sự thiếu sót này gây khó khăn
cho Tịa án trong việc giải quyết tranh chấp trên thực tế. Cụ thể như bản án số
47/2015 DS-ST ngày 18/06/2015 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành

phố Cần Thơ,..


-Định hướng hoàn thiện: Về mức lãi suất của khoản tiền vay, cần mở rộng quy
định này đối với các tài sản khác hoặc hướng dẫn tính mức lãi suất đối với các
tài sản khác; Về tỉ lệ điều chỉnh lãi suất của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cần dự
trù trường hợp cụ thể nào thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể điều chỉnh tỉ lệ
lãi suất này và sẽ công bố như thế nào để đảm bảo tính phổ biến của một quy
phạm pháp luật cũng như đảm bảo thuận tiện khi giải quyết tranh chấp,...
2.4.
Kì hạn vay.
a. Hợp đồng vay

không kỳ hạn.

Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay khơng kỳ hạn và khơng có lãi thì bên cho vay có quyền
địi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải
báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác.
2. Đối với hợp đồng vay khơng kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền địi lại
tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý
và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, cịn bên vay cũng có quyền trả
lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng
cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.
- Ưu điểm: Quy định này phù hợp với ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng
vay không kỳ hạn. Trong trường hợp một người có tài sản nhàn rỗi, chưa xác
định thời điểm sử dụng, đầu tư thì có thể cho người khác vay số tài sản đó, đến
khi có nhu cầu sử dụng, bên cho vay hồn tồn có quyền địi lại tài sản. Về
phương diện của người vay tài sản, quy định về “thực hiện hợp đồng vay không

kỳ hạn” cũng tạo điều kiện cho bên vay linh hoạt trong việc trả nợ, khơng chịu
gị bó về mặt thời gian, và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ nếu như có


thỏa thuận về lãi. Ngoài ra, quy định về thủ tục “phải thông báo trước một thời
gian hợp lý” cũng nhằm để cho các bên có thời gian chuẩn bị để thực hiện nghĩa
vụ trả nợ (hoặc tiếp nhận tài sản) của mình.
- Hạn chế và định hướng hồn thiện: quy định về “thực hiện hợp đồng vay
không kỳ hạn” dù đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ của các
bên, tuy nhiên vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý. Chẳng hạn, bên cho
vay có thể lợi dụng quyền địi nợ “bất cứ lúc nào” để yêu cầu bên vay phải thực
hiện nghĩa vụ, dù bên vay chưa đạt được mục đích của việc vay tài sản.
b. Hợp đồng vay có kỳ hạn.
Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và khơng có lãi thì bên vay có quyền trả lại
tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian
hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay
đồng ý.
2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản
trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác hoặc luật có quy định khác.
-Ưu điểm: giống như hợp đồng vay khơng kỳ hạn, bên vay đều có “quyền trả
lại tài sản bất cứ lúc nào”, tuy nhiên, trong hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi, nếu
như bên vay trả trước kỳ hạn thì số lãi mà họ phải trả được xác định là “toàn bộ
lãi theo kỳ hạn, nếu khơng có thỏa thuận khác”. Quy định này phù hợp với tâm
lý của bên cho vay, khi mà tài sản vay được mang ra giao dịch, được bên vay
xác định nhằm mục đích thu lại khoản giá trị tăng lên từ tiền lãi mang lại. Ngoài
ra, quy định cũng mang tính hợp lý nhằm đề cao nguyên tắc tự nguyện của các
bên trong HĐVTS.



2.5.

Họ, hụi, biêu, phường.

Điều 471. Họ, hụi, biêu, phường
1. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài
sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại
cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh
họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.
2. Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tn theo quy định
của Bộ luật này.
4. Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi.
Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho hình thức chơi họ vốn đã tồn tại
từ lâu trong đời sống nhân dân. Đơng thời, cũng khuyến khích những hình thức
chơi họ có tính chất lành mạnh, qua đó nhằm hướng đến mục đích tương trợ lẫn
nhau trong nhân dân ta.
C.

KẾT LUẬN.
Không chỉ trong các quy định về hợp đồng vay tài sản mà trong các

quy định khác của BLDS 2015 hay bất kì bộ luật nào khác,đều có những bất
cập tồn tại cần được hoàn thiện. Đây là một vấn đề hết sức thực tế với nhà làm
luật. Cần phải theo sát thực tiễn pháp luật trong cuộc sống để rút ra được những
hướng đổi mới sửa đổi, cho phù hợp, tránh tình trạng hiểu sai, áp dụng sai các
quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.



Do kiến thức còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót, em rất
mong nhận được sự góp ý của thầy, cơ trong tổ bộ mơn để em có cái nhìn sâu
sắc và tồn diện hơn về vấn đề.
Em xin chân thành cảm ơn!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.
2.

Bộ luật Dân sự 2015
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công

3.

an nhân dân.
Bài viết “Điểm mới, điểm hạn chế của chế định Hợp đồng vay tài sản trong
Bộ luật Dân sự 2015 và hướng hồn thiện”, tác giả Nguyễn Võ Linh Giang,

4.

Tạp chí Luật học, số 8/2017.
Bài viết “Bất cập trong quy định về lãi suất, phạm vi hợp đồng vay tài sản,
hình thức hợp đồng”, tác giả Lê Văn Sua, Luật sư 2018.



×