Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

SKKN LOP 2 20122013 VIET DOAN VAN NGAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.51 KB, 17 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>I. PHẦN MỞ ĐẦU I.1.Lý do chon đề tài. Ngày nay đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá để tiến tới “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Một trong những vấn đề chiến lược để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp ấy là yếu tố con người. Để đào tạo được con người đáp ứng nhưng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Giáo dục và Đào tạo phải giải quyết hàng loạt những vấn đề quan trọng trong đó vấn đề có tính chiến lược là đổi mới phương pháp dạy học. Vấn đề này đã được nghị quyết lần thứ 2 BCH – TW khoá 8 khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học và tự nghiên cứu của học sinh”. Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông. Vì vậy phương pháp dạy học ở bậc tiểu học có tầm quan trọng đặc biệt. Việc hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn hình thành nếp tư duy sáng tạo ngay từ khi các em bắt đầu đến trường phổ thông. Hiện nay giáo duc nước ta vấn đề đổi mới phương pháp dạy ở bậc Tiểu học đang diễn ra một cách sôi động, được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trên bình diện cả về mặt lí luận cũng như về mặt thực tiễn. Việc dạy học theo hướng “Tích cực hoá người học” hay “hướng tập trung vào học sinh” tăng cường dạy phương pháp học tổ chức cho học sinh hoạt động để các em có thể tự chiếm lĩnh kiến thức bằng chính hoạt động học của mình là định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Trong các môn học ở tiểu học môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức, ban đầu và còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn học khác. Đặc biệt phân môn Tậm làm văn là phân môn tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phân môn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ các câu. Với mục tiêu rèn học sinh ở cả bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viêt trong đó kĩ năng viết “một đoạn văn ngắn” là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân môn Tập làm văn lớp 2. Qua thực tế giảng dạy ở nhiều năm tôi thấy dạy học sinh viết đoạn văn ngắn là kiểu bài rất khó. Hầu hết các giáo viên đều cho rằng: “Đây là một kỹ năng khó đạt nhất trong các kĩ năng của phân môn Tập làm văn”..

<span class='text_page_counter'>(2)</span> Bởi vậy hiệu quả giờ dạy học sinh viết đoạn văn còn rất hạn chế. Một phần người dạy chưa tìm ra quy trình và phương pháp dạy thích hợp. Hơn nữa đây là loại bài tập hoà toàn mới đối với học sinh lớp 2. Vì các em từ ở lớp 1 lên và đến bây giờ các em mới bắt đầu làm quen với thể loại này. Với đối tượng này vốn từ, kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ còn hạn chế. Học sinh chưa hiểu sâu sắc về nghĩa các từ ngữ và bản chất của câu nên khi viết một đoạn văn các em thường bộc lộ các điểm yếu về cách diễn đạt như: từ bị lặp nhiều, câu không rõ nghĩa, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi. Học sinh thường dập khuôn theo hướng dẫn mẫu của giáo viên. Vì những lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu kiểu bài tập: “Viết đoạn văn ngắn” kể (tả) về người, vật, cuộc sống xung quanh trong phân môn Tập làm văn lớp 2, để góp phần nâng dần chất lượng học Tập làm văn nói riêng và học Tiếng Việt nói chung trong nhà trường Tiểu học. I.2.Mục đích chọn đề tài Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu, đề xuất những biện pháp góp phần vào đổi mới cách dạy học sinh viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2.Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học của trò. Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học thông qua cách tổ chức câu. ý sao cho lô gích, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết. I.3.Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2012 đến đầu tháng 3 năm 2013. Nghiên cứu ở hai lớp 2D của trường Tiểu học Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. 1.4 Đóng góp mới về mặt lí luận về mặt thực tiễn Cách viết một đoạn văn ngắn để kể (tả) về người, vật, cuộc sống xung quanh trong phân môn Tập làm văn lớp 2. Việc xây dựng các kiến thức đó được dựa trên các kiến thức đã học ở lớp dưới, qua các phân môn tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện. Trên cơ sở đó học sinh được mở rộng, đa dạng và phức tạp trừu tượng hơn. Song hầu hết ở các dạng viết giáo viên nên kết hợp sử dung các tranh minh hoạ sách giáo khoa, cảnh tự nhiên xung quanh trẻ đặc biệt phải có hệ thống câu hỏi lô gích. Giáo viên hướng dẫn sử dụng các từ ngữ phù hợp với nội dung bài, các câu văn đúng về nội dung, và ngữ pháp. Quá trình đó đòi hỏi thầy dạy phải biết kết hợp nhiều phương pháp mới đem lại hiệu quả cao như: Quan sát, đàm thoại, vấn đáp, phương pháp thực hành theo mẫu ... Đề tài góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn văn ngắn với câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sự sắp xếp các câu văn không lô-gíc.Giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn văn. Bồi dưỡng lòng say mê yêu thích con người cảnh vật xung quanh các em..

<span class='text_page_counter'>(3)</span> Khả năng tiếp thu bài không đều, phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến chất lượng học tập của con em. Năm học 2012 - 2013 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2D gồm 6 học sinh (3 nữ). Khả năng tiếp thu của các em rất kém. Quá trình học theo phương pháp mới các em còn tự phát hiện chậm. II- PHẦN NỘI DUNG II.1. Chương I: Tổng quan - Đề tài hướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong môn tập làm văn bao gồm các nội dung cụ thể như: - Nghiên cứu kĩ nội dung chơng trình, SGK, vở bài tập về nội dung các loại sách tham khảo tiếng việt lớp 2 để GV nắm chắc trọng tâm của chuơng trình môn học - Điều tra tình hình thực tiễn những vấn đề có liên quan đến đề tài: + Trao đổi với đồng nghiệp để đánh giá khả năng nhận thức dạy học sinh viết đoạn văn ngắn để từ đó rút ra bài học có giá trị. + Dự giờ của giáo viên cùng khối 2 để nắm bắt phơng pháp giảng dạy hướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn để rút ra bài học kinh nghiệm quý báu. + Đề xuất một số giải pháp về hướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn trong phân môn tập làm văn. Đề ra phương án thiết kế một số tiết dạy hướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng với kết quả nghiên cứu của đề tài II.2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu II.2.1. Cơ sở lý luận: II.2.1.1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 2: Học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập. Các em hiếu động, ham chơi, sự tập trung cho học tập và chú ý chưa cao. Tư duy của các em nặng về trực quan cụ thể, tư duy trừu tượng chưa phát triển. Do đó khi tổ chức dạy học giáo viên phải linh hoạt sáng tạo thì mới có hiệu quả. II.2.1.2. Đặc điểm về chương trình sách giáo khoa: Như chúng ta đã biết ở lớp một học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ tập nói (viết) câu nó nội dung theo chủ đề bà học hoặc tìm tiếng nói có âm vần vừa học. Các em được phép tiếng và nói những câu đơn giản, riêng lẻ có nội dung gần gũi với cuộc sống của các em hoặc ở các bài tập đọc. Song đến lớp 2 các em đã phải viết đoạn từ 1 đến 3 câu rồi cao hơn từ 4 đên 5 câu kể về một sự việc đơn giản mình cũng chứng kiến (tham gia) hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh các em. ở học kỳ I chủ yếu các em được viết đoạn từ 3 đến 5 câu kể.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> về ngườ thân như: Cô giáo, ông, bà, anh, chị, em và rộng hơn là toàn thể gia đình. - Song đến học kỳ II các em được viết đoạn tả con vật (chim), tả cảnh (biển), tả cây cối, tả người (ảnh Bác Hồ). Tuần 34 và 35 học sinh được kể về những việc làm mà bản thân chứng kiến hoặc tham gia … Xen kẽ giữa các bài tập có yêu cầu kể (tả) nối trên có 2 dạng bài kể tả con vật được viết đầy đủ song sáo trộn trật tự câu nhằm mục đích củng cố về liên kết câu, gắn kết ý … Mở đầu ngay ở tuần 1 sách giáo khoa đã giới thiệu cách kể theo nội dung tranh sau đó viết thành đoạn. đây chính là hình thức giúp học sinh vận dụng linh hoạt kỹ năng vốn hiểu biết khi học phân môn kể chuyện vào viết đoạn … Nói chung kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp một cách hợp lí, lô-gic đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến sự vận dụng vốn sống, vốn hiểu biết để viết đoạn. Học sinh được dạy các kĩ năng kể tả đơn giản. Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện cảnh vật theo nội dung bài tập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các em được kể (tả) những gì có và diễn ra trong cuộc sống xung quanh. Điều này đã phát huy tính tích cực, chủ đông, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết đoạn. Do đó ta có thể khẳng định rằng sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đặc biệt chú trọng tới rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh. II.2.2. Cơ sở thực tiễn: Việc day cho học sinh viết đoạn chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh. Điều đó đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh có cách tổ chức câu ý sao cho lô-gic, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết. Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 khó nhận thức được việt sắp xếp ý (cảm nhận của mình) theo trật tự đúng. Vốn sống của các em còn hạn chế do đó khi diễn đạt học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Sự sắp xếp tổ chức câu trong đoạn còn rời rạc. Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và lô-gic … Đôi khi các em còn viết câu không rõ ý, từ lặp lại nhiều … II.2.3. Thực trạng nghiên cứu: Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy việc dạy viết đoạn ngắn cho học sinh lớp 2 hiệu quả còn nhiều hạn chế cơ bản do mấy nguyên nhân sau: II.2.3.1.Về phía giáo viên: Giáo viên chưa coi trọng việc rèn đoạn cho học sinh cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh. Cách dạy của giáo viên có phần xáo rỗng, khuôn mẫu. Từ ngữ mà giáo viên dùng để hướng dẫn viết đoạn đôi khi còn xa lạ đối với học sinh..

<span class='text_page_counter'>(5)</span> Ví Dụ: Khi dạy học sinh bài Tập làm văn tuần 20 “Tả ngắn về bốn mùa”. Giáoviên đã hướng dẫn gợi mở theo các câu hỏi theo sách giáo khoa: ?/ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ? + Mùa hè bắt đầu từ tháng tư trong năm. ?/ Mặt trời mùa hè như thế nào ? + Mặt trời mùa hè rất chói chang ?/ Cây trái trong vườn như thế nào ? + Cây trong vườn có rất nhiều hoa quả ?/ Học sinh thương làm gì trong dịp nghỉ hè ? + Học sinh thường được vui chơI trong dịp nghỉ hè Giáo viên chưa vận dụng kỹ năng tả “Mùa Xuân” của bài tập 1 vào hướng dẫn bài tâp 2. Sự rập khuôn máy móc như vậy dẫn đến bài viết của học sinh là bốn câu thiếu lôgíc và sáng tạo, không phát huy được tính tích cực của học sinh. Khi trao đổi với giáo viên dạy lớp 2 về cách hướng dẫn học sinh làm bài tập “Viết đoạn văn ngắn”, đa số giáo viên đều trả lời rằng: Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu bài Bước 2: Giáo viên nêu yêu cầu của bài – Viết đoạn từ 3 đến 5 câu, các câu phải liên kết với nhau. Bước 3 : Học sinh viết vào vở. Bước4 : Chấm chữa lỗi. Gọi 1 hoặc 2 học sinh đọc bài viết. Giáo viên chấm bài. chữa một số lỗi sai về câu từ. Với cách hướng dẫn như trên học sinh khó có thể nhận ra nội dung bài viết cần có những gì? liên kết câu như thế nào? Cách diễn đạt làm sao cho thoát ý … Đến bước 4 chấm lỗi như vậy chưa có kết quả thiết thực đối với học sinh vì đối tựơng lớp 2 các em dễ nhớ nhưng nhanh quên. do đó cái sai của học sinh vẫn được lặp lại trong bài. II.2.3.2. Về phía học sinh: Học sinh có hứng thú trong giờ tập làm văn song chủ yếu tập trung vào các bài tập làm miệng với các yêu cầu nói lời cám ơn, xin lỗi, đáp lại lời khẳng định phủ định… Học sinh thích thú nói về các con vật, người, quang cảnh và những gì diễn ra xung quanh trẻ. Song kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các em chưa nhận ra được sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ví dụ: Khi học bài tập làm văn tuần 10 Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết 1 đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông bà hoặc người thân của em. Ví dụ bài viết của học sinh: Bà em đã lên 58 tuổi rồi rất quý em. Một hôm bà dẫn em ra ngoài vườn hoa chơi bà bảo em mang bánh ra cho ăn. bà cho em một.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> chai sôcôla uống xong bà hỏi cháu có ăn kẹo cao su không. Không cháu không ăn đâu ạ thế là về. Học sinh thường viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ mình cho nên câu văn chưa giàu hình ảnh đôi khi rất ngây thơ, ngộ nghĩnh. Ví dụ: Cũng viết đoạn văn ngắn kể về ông, bà hoặc người thân ở bài tập làm văn nói trên có một học sinh viết: Ông đã già, 70 tuổi. Nghề là uỷ ban nhân dân xã. Hôm nào ông thích ông lại rủ em đi chơi với. Một số học sinh còn dùng từ địa phương khi viết đoạn Ví dụ: Cô giáo lớp 1 của em là Trịnh thị Nguyệt. Cô rất yêu thương em. Hôm ấy đến lượt em trực nhật, em quên. Thế là cô “bảo” em lấy cho cô hai chiếc “chổi” để cô trò mình cùng quét… Một số bài viết của học sinh còn lộn xộn về câu, ý, câu rời rạc thiếu sự liên kết. Ví dụ: Những ngày đi học về em cảm thấy rất nhớ nó. Mỏ nó mượt và nó hót rất hay. Em rất thương nó và nó đẹp. Bộ lông nó mượt. Hình dáng của con bồ câu rất thích thú. Trên đây là đoạn văn của 1 học sinh khi viết đoạn tả về mọt loài chim mà em thích (Tập làm văn tuần 21) Đôi khi học sinh viết câu dùng cụm từ so sánh để diễn tả nội dung song sự so sánh ấy rất khập khiễng. Ví dụ: “Mặt trời mùa hè rát như kim châm” Hoặc: “Chân cò dài như cái tăm” “Cô giáo lớp 1 của em tên là Hương Giang. Cô rất ngây thơ”. II.2. 3.Thực tế khảo sát Sau khi dạy xong bài tập làm văn tuần 8 tôi khảo với đề bài như sau: Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 3 đên 5 câu kể về cô giáo lớp 1 của em.  Thời gian: 15 phút  Đối tượng học sinh: 6 em lớp 2D Kết quả đạt được như sau Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % 0 0 0 0 2 33,3 4 66,7 Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy ngay rằng tỉ lệ bài viết tỉ lệ điểm yếu cao. Trước thực trạng đó tôi đã tìm tòi, tham khảo nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp cụ thể. II.3. Chương 3:Phương pháp nghiên cứu II.3.1.Về nhận thức của giáo viên :.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> Giáo viên cần chú trọng việc rèn viết đoạn văn ngắn cho học sinh. Cần coi đây là công việc có vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 2. Vì có viết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc để học văn sau này. II.3.2.Về nội dung: Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em. Song có được đoạn văn theo yêu cầu của bài là cả một quá trình học sinh phải tư duy, phân tích, tổng hợp, sắp xếp…. Để có kĩ năng viết đoạn tốt cần rèn cho học sinh kĩ năng nói gãy gọn, trọn vẹn ý. Ví dụ: Khi tả về con chim mà em yêu thích có học sinh nói. “Chim chích choè cứ sáng sớm, trên cây dừa nhà em nó đậu rồi nó hót”. Giáo viên cần phải phân tích cho học sinh: “ ý của em nói: Cứ vào thời điểm buổi sáng, ở trên cây dừa nhà em có một con chim chích choè đến và hót”. Vây em cần nói cho gãy gọn và hay hơn: “Sớm nào cũng vậy, chim chích choè lại bay đến đậu trên cây dừa nhà em, cất tiếng hót líu lo”. Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số từ phù hợp với văn cảnh. Ví dụ: Tả nắng của mùa hè: nắng chói chang, nắng gắt gỏng, nắng như thiêu như đốt… Tả về tiếng hót của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng … Tả về hình dáng người. + Thân hình: Mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả … + Nước da: Đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen … + Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn…. Giáo viên đưa một só câu văn hay đến với học sinh một cách tự nhiên không gò ép. Ví dụ: khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển tuần 26 giáo viên gợi mở: Câu “Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng rực lên, trông xa như những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh chim hảI âu”. Có thể trả lời cho câu hỏi nào? (Trên mặt biển có những gì ?) Bên cạnh đó giáo viên cần quan tâm đến cách sử dụng từ địa phương trong đoạn viết. Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng từ phổ thông dễ hiểu. Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Khi viêt đoạn văn dẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc kép. Ví dụ : Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của em, cần phải viết: * Dì em bảo: “Cháu cứ lấy kẹo ra mà ăn”..

<span class='text_page_counter'>(8)</span> Họăc khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em thích. Mỗi khi có khách đến chơi chú lại nhanh nhảu: “có khách! Có khách!”. Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế. Ví dụ: Viết 2 đến 3 câu về loài chim mà em thích. Từ hôm trước giáo viên yêu cầu mỗi học sinh quan sát kỹ con chim trong thực tế mà mình yêu thích. Cụ thể là: Các bộ phân đầu mình, chân, hoạt động, tiếng hót… của chim. II.3.3.Về phương pháp Bài tập viết đoạn văn ngắn là loại bài sản sinh lời nói. Học sinh tập viết đoạn văn là tập sản sinh lời nói, văn bản. Vì vậy giáo viên cần dựa vào các bước sau để hướng dẫn học sinh làm bài tâp l. * Bước 1: Xác định yêu cầu bài. Định hướng học sinh viết. Học sinh nêu yêu cầu bài tập (đọc). Giáo viên phân tích yêu cầu. + Hướng dẫn định hướng viết. Tả (kể) về ai (cái gì) ? Viết mấy câu ? Viết với tình cảm như thế nào ? + Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý. Dù mới là học sinh lớp 2, bài viết chưa yêu cầu cao với bố cục một bài văn như lớp 4+5, cũng chưa có khái niệm lập dàn ý. Song với đoạn viết từ 3 đến 5 câu với 2 đến 3 ý cũng cần sự sắp xếp ý. Ở học kỳ I học sinh được kể về những người thân thiết với mình như: Cô giáo, thầy giáo, ông, bà, anh, chị, em… Do đó giáo viên lên gợi ý học sinh trước tiên tự giới thiệu về người đó (Tên là gì, mối quan hệ với bản thân). Tiếp đó là hình dáng, tính cách, công việc hoặc ý thích của người kể và cuối cùng là tình cảm của học sinh đối với người mình kể… Sang học kỳ II, học sinh được tả về một số con vật, cảnh vật xung quanh mình. Đầu tiên cần gợi mở cho học sinh giới thiệu về vật (Cảnh vật) định tả. Chi tiết nổi bật của cảnh, vật đó. Cuối cùng là tình cảm của bản thân đối với cảnh vật và con vật đó… + Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. ở khâu này học sinh bộc lộ rất rõ nhược điểm về tư duy cách viết câu, sử dụng từ. Giáo viên không nên làm thay cho học sinh mà nên trang bị một số tình huống, một số cách dùng từ, một số cách liên kết… Phù hợp với nội dung đoạn viết để học sinh vận dụng viết bài. Bước 2: Học sinh viết bào vào vở. (Trước khi viết vào vở cho học sinh nêu miệng bài văn)..

<span class='text_page_counter'>(9)</span> Bước 3: Chấm bài – chữa lỗi. - Học sinh đổi chéo vở đọc bài, sửa câu từ, nhận xét bài lẫn cho nhau. - Giáo viên yêu cầu một số học sinh đọc bài viết của mình và đọc bài viết đã được bạn sửa (Câu từ) trước lớp. Học sinh dưới lớp nhận xét sửa chữa bổ sung. - Giáo viên chấm và chữa một số lỗi cơ bản (Từ, câu, ý). - Giáo viên đọc đoạn văn mẫu mà giáo viên đã chuẩn bị để học sinh tham khảo. Ví dụ: Khi dạy học sinh viết một đoạn từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè, giáo viên cần hướng dẫn theo các bước như sau. Bước 1: Xác định yêu cầu bài. Định hướng học sinh viết. - Học sinh đọc yêu cầu bài: “Hãy viết từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè”. - Giáo viên phân tích yêu cầu. + Hướng dẫn học sinh định hướng viết. ?/ Viết đoạn gồm mấy câu? (Viết đoạn từ 3 đến 5 câu). ?/ Viết về cái gì? (Viết về mùa hè). + Hướng dẫn học sinh sẵp xếp ý. ?/ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm? (Mùa hè bắt đầu từ tháng 4 trong năm). ?/ Mặt trời mùa hè như thế nào? (Mặt trời mùa hè rất chói chang). ?/Cả hai câu trên cho em biết về thời điểm và nét tiêu biểu của mùa nào? (Đó là mùa hè). Giáo viên khẳng định đây là ý 1 của bài. ?/ Bà Đất nói về mùa hè như thế nào? (Mùa hè cho ta trái ngọt hoa thơm). ?/ Vậy câu nói của Bà Đất có thể trả lời được cho câu hỏi nào trong bài? (Cây trái trong vườn như thế nào). (Đây chính là ý 2 của đoạn viết). ?/ Em có thích mùa hè không? (Có). ?/ Vì sao? (Vì mùa hè em không phải đi học mà được nghỉ hè). ?/ Học sinh thường làm gì vào dịp nghỉ hè? (Học sinh được đi tham quan, thắng cảnh, thăm ông bà…). Đây chính là ý 3 của đoạn viết. ?/ Đoạn viết có mấy ý? (3 ý) Giáo viên giảng mùa hè đến khiến cho cây tươi tốt trái trĩu cành và học sinh được nghỉ hè. ?/ ý nào là kết quả của ý nào đem tới? (ý 2 và ý 3 là kết quả của ý 1 đem tới). Vậy đoạn văn có thể viết : Ý1----- Ý2------- Ý3 Hoặc: Ý1----- Ý3------- Ý2 Hoặc: Ý1----- Ý3 nồng Ý2.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> + Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Với 3 ý này học sinh có thể phát triển mỗi ý thành 1 hoặc 2 câu. Từ câu này sang câu khác phải có sự liên kết tránh lặp lại; từ ý này phát triển tiếp ý kia. * Giáo viên gợi ý: Với ý 1 nói về thời điểm và đặc điểm tiêu biểu của mùa hè các em cần lưu ý không nên lặp lại từ mùa hè trong 2 câu liên tiếp. Khi viết về ánh nắng mặt trời nên dùng cách so sánh như: Nắng như thiêu như đốt, nắng cháy cả da, cháy thịt, nắng chang chang, nắng rát cả mặt… ?/ ánh nắng mùa hè em đã cảm nhận bằng những giác quan nào? (Em đã cảm nhận bằng mắt, da…). ?/ Em có ngửi thấy mùi hương của hoa không? (Có). ?/ Có được ăn hoa quả trong mùa hè không? (Có). ?/ Đó là hương, vị ta cảm nhận được bằng gì? (Cảm nhận được bằng mũi và lưỡi). Vậy với nội dung ý 2 các em cần lưu ý điều gì? (Em cần đội mũ nón)… Tóm lại: Không nhất thiết cứ mỗi câu hỏi viết được một câu trong đoạn văn. Cần viết với sự cảm nhận bằng nhiều cách: Nhìn, ngửi, ăn… xen lồng với tình cảm của bản thân về mùa hè. Bước 2: Học sinh làm bài vào vở. - Giáo viên hướng dẫn cách trình bày một văn bản. Khi bắt đầu viết đoạn cáh lề một ô, viết hết câu này tiếp sang câu khác, ý này tiếp sang ý kia, viết hết đoạn mới xuống dòng. - Khi học sinh làm bài giáo viên quan sát đỡ học sinh yếu. Bước 3: Chấm bài – chữa lỗi: - Học sinh đổi chéo bài, đọc bài viết của bạn sau đó nhận xét về cách trình bày, sửa câu, từ sai có trong đoạn viết. - Một số học sinh đọc bài viết của mình, đọc câu bạn đã sửa giúp. Học sinh khác góp ý bổ sung. - Giáo viên chấm bài, chữa một số nỗi cơ bản (Từ, câu, ý). - Giáo viên đọc đoạn văn mẫu cho học sinh tham khảo. II.3.4.Dạy thực nghiệm: II.3.4.1. Các bước tiến hành dạy thực nghiệm: - Xây dựng kế hoạch bài dạy, tập làm văn lớp 2 các bài có yêu cầu viết đoạn: Tuần 8, tuần 10, tuần 11, tuần 13, tuần 15, tuần 16, tuần 20, tuần 21, tuần 26, tuần 28, tuần 31, tuần 33, tuần 34. - Dạy thực nghiệm. * Lớp dạy thực nghiệm: Lớp 2D - Tiến hành khảo sát lần 1, lần 2, lần 3 để lấy số liệu đánh giá chất lượng viết đoạn của học sinh. - Tổng kết và đánh giá kết quả thực nghiệm..

<span class='text_page_counter'>(11)</span> II.3.4.2. Bài dạy thực nghiệm: - Tiến hành dạy bằng phương pháp nói trên tất cả các tiết Tập làm văn có bài tập yêu cầu viết đoạn. - Bài: “Chia vui. Kể về anh chị em”. I. Mục tiêu: - Học sinh hiểu được thế nào là nói chia vui và ích lợi của việc nói chia vui. Nắm được cách kể ngắn về anh chị em của mình. - Học sinh biết nói lời chia vui (Chúc mừng) hợp với tình huống giao tiếp. Viết được đoạn văn ngắn kể về anh, chị, em, của mình. - Giáo dục học sinh có thái độ đồng cảm, chia sẻ vui buồn với mọi người và lòng yêu mến anh, chị, em trong gia đình. II.Đồ dùng dạy học: Tranh minh hoạ bài tập 1 (SGK). III . Các hoạt động dạy học: 1. Kiểm tra bài cũ:(5’) - Giáo viên gọi một học sinh. ?/Em hãy nói lời an ủi của em với ông (Bà) khi kính đeo mắt của ông(Bà) bị vỡ.. - Học sinh nói: Bà đừng tiếc nữa bà nhé! Ngày mai mẹ cháu sẽ mua tặng bà chiếc kính khác. - Học sinh nhận xét. - Hai học sinh đứng tại chỗ đọc.. - Giáo viên chấm điểm. + Giáo viên gọi 2 học sinh khác đọc đoạn văn “Kể ngắn về gia đình em”. + Giáo viên nhận xét tuyên dương, nhắc nhở. 2. Dạy bài mới: a. Giới thiệu bài:(1’) Các em đã biết kể ngắn về gia đình, biết an ủi khi người khác gặp nỗi buồn hay có sự bất hạnh. Vậy khi bạn bè hoặc người thân có niềm vui ta cần phải làm gì? Cần kể về anh, chị, em . trong gia đình bằng tình cảm như thế nào? Cô mời các em đi tìm hiều bài học ngày hôm nay có tựa đề: “Chia vui – Kể ngắn về anh chị em”. - Giáo viên ghi bảng. 2 học sinh nhắc lại đầu bài. b. Hướng dẫn học sinh làm bài tập:(28’) Bài 1: (Miệng). - Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh Học sinh quan sát tranh. trong sách giáo khoa. ?/ Tranh vẽ mấy nhân vật? Học sinh trả lời: Tranh vẽ 2.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> ?/ Đó là những ai? ?/ Bé Nam đang làm gì? ?/ Nét mặt hai chị em như thế nào? Giáo viên giảng: Chị Liên vừa đoạt giảI nhì trong kỳ thi học giỏi tỉnh. chị rất vui vì đã đạt được thành tích này. Là em trai bé Nam đem hoa tặng chị và Nam còn nói gì với chị ? Em hãy nhắc lại lời của bé Nam. - Giáo viên nhắc nhở học sinh tự nhiên thể hiện sự vui mừng của em trai trước thành công của chị. - Giáo viên khen học sinh nói lời chia vui của Nam tốt nhất. ?/ Nam đã nói lời chia vui với chị khi nào ? Giáo viên kết luận: Khi bạn hoặc người thân có niềm vui ta cần biết chúc mừng bạn, người thân đó.Sự chúc mừng đem lại niềm vui cho mình và niềm vui cho bạn. Để hiểu kĩ hơn nữa chúng ta cùng tìm hiểu bài tập 2 Bài 2 (Miệng) GV phân tích lại yêu cầu.. nhân vật. Đó là bé Nam và chị Liên. Nam đang cầm hoa tặng chị. Nét mặt 2 chị em rất vui.. Học sinh tiếp nhau nói lời của Nam( em chúc mừng chị sang năm được giả nhất). HSTL: Nam nói lời chia vui khi chị Liên có 1 niềm vui lớn.. -Học sinh đọc yêu cầu bài: “Em sẽ nói gì để chúc mừng chị ?/ Bài yêu cầu em làm gì? Liên”. ?/ Để làm gì ? - HS trả lời: Yêu cầu nói lời của Giáo viên nhắc học sinh ko được nhắc lại lời của em. Nam Để chúc mừng chị Liên - GV khuyến khích học sinh bày tỏ lời chúc mừng theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ: Em xin chúc mừng chị hoặc: Chúc chị học giỏi hơn nữa. hoặc Chúc mừng chị đoạt giải - Giáo viên yêu cầu một vài cặp đóng vai trước - Học sinh nối tiếp nhau phát lớp. biểu ý kiến. - Giáo viên tổ chức học sinh bình xét cặp thể hiện thái độ và nói lời chúc mừng tốt. Góp ý cặp chưa đạt. Học sinh đóng vai nói lời chia ?/ Khi nói lời chia vui vói người khác em cần vui. nói với thái độ thế nào? Học sinh trả lời: Em cần nói tự nhiên với tháI độ chân thành và.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> Giáo viên kết luận: Cần nói tự nhiên với thái độ chân thành mừng vui… khi chia vui với người khác. Chuyển ý: Buồn vui và tình cảm của mỗi con người rất cần có sự cảm thông chia sẻ của người khác. Còn việc kể về người thân thiết trong gia đình thì kể như thế nào? Cách viết đoạn văn ra sao cô mời các em tìm hiểu tiếp sang bài 3 – GV ghi bảng Bài 3 (viết) * Bước 1 -GV phân tích yêu cầu bài (+) Hướng dẫn HS định hướng viết. ?/ Viết mấy câu? ?/ Viết về ai? ?/ Viết về 1 hay nhiều người? ?/ Đoạn văn viết yêu cầu kể hay tả về người đó? + Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý. ?/ Tên người em định kể là ai? ?/ Người đó hình dáng như thế nào? ?/ Tính nết người đó ra sao? ?/ Tình cảm của em đối với người đó như thế nào? ?/ Khi kể về anh (chị,em) em cần kể những gì? - GV kết luận: ý 1 giới thiệu người định kể; ý 2 hình dáng tính nết người mình định kể; ý 3 tình cảm bản thân đối với người đó. + Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn: Khi kể về mái tóc có thể dùng các từ: óng mượt, đen nhánh, bồng bềnh loăn xoăn … Về thân hình : gầy gò, mảnh mai, vạm vỡ … Về nước da: Hồng hào, trắng hồng, xanh xao… Về tính cách : có thể dùng các từ: Hiền hoà, hoà nhã, thân mật, giắt gỏng. Là anh chị phải dùng các từ tỏ ý kính trọng: quý mến, kính yêu, hoà nhã, hiền lành. Nừu viết về em có thể dùng các từ thể hiện sự trìu mến :. vui mừng.. - Học sinh đọc yêu cầu bài – Lớp đọc thầm theo: “ Hãy viết từ 3 đến 5 câu kể về anh, chị, em ruột hoặc anh, chị,họ của em”) - Viết từ 3 đến 5 câu. - Viết về anh, chị, em ruột (hoặc anh, chị, em họ) Viết về 1 người. - Yêu cầu em kể về người đó. - HS tự trả lời. HSTL: Trước tiên là giới thiệu tên sau đó đến hình dáng cá tính cách và cuối cùng là tình cảm của em..

<span class='text_page_counter'>(14)</span> ngây thơ, ngộ nghĩ. Cần dùng 1 cách xưng hô khi viết đoạn, 2 câu liền nhau tránh lặp lại từ… * Bước 2: Học sinh viết bài vào vở - GV hướng dẫn HS viết đoạn : chữ đầu đoạn cách lề 1 ô câu này nối câu kia. Hết đoạn mới chấm xuống dòng * Bước 3 : Chấm, chữa lỗi.. GV chấm bài, sửa một số lỗi cơ bản về (ư, câu, ý) GV đọc đoạn văn mẫu cho HS tham khảo Đoạn văn mẫu: “ Anh trai của em tên là Nhật Hà, năm nay đang học lớp 8. Anh ko mập lắm, nước da trắng hồng, mái tóc bồng bềnh trông thật đáng yêu. Em rất thích được nghe anh kể chuyện và nhìn thấy anh cười. Em sẽ học thật giỏi để lúcnào anh cũng có thể tự hào về em ! “ 3. Củng cố – dặn dò(2’) ? / Hôm nay chúng ta học bài Tập làm văn gì? ?/ Khi nào ta cần nói lời chia vui? ?/ Nói lời chia vui với tháI độ như thế nào? - GV nhận xét đánh giá tiết học. - Dặn học sinh về đọc lại đoạn văn, tiếp tục sửa lỗi về ( câu, từ, ý) Và thực hành nói lời chia vui khi bạn hoặc người thân có niềm vui. HS làm vào vở. HS đổi vở đọc bài, nhận xét và sửa câu, từ cho bài của bạn. Nhiều học sinh đọc bài viết trước lớp đồng thời đọc câu bạn đã sửa cho mình. HS khác bổ sung.. HSTL; Bài chia vui. Kể về anh chị em. Khi người khác có niềm vui. Giọng tự nhiên, thái độ chân thành, vui mừng.. II.4.Kết quả đạt được Sau một thời gian áp dụng biện pháp nói trên trong việc dạy học sinh viết đoạn văn ngắn, tôi đã kiểm tra học sinh để lấy số liệu. Lần 1: Tuần 15 Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu nói về anh chị em của em ruột (hoặc anh chị em họ của em) Thời gian làm bài :15 phút Kết quả đạt được như sau:.

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Giỏi. Khá. T.Bình. Yếu. Lớp. Sĩ số. SL. %. SL. %. SL. %. SL. %. 2D. 6. 0. 0. 1. 16,6. 3. 50. 2. 33.3. Lần 2: Tuần 21 Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu nói về một loài chim mà em yêu thích. Thời gian: 15 phút Kết quả đạt được như sau: Giỏi. Khá. Lớp. Sĩ số. SL. %. SL. %. 2D. 6. 0. 0. 1. 16,6. T.Bình SL % 4. 66.7. Yếu SL. %. 1. 16,6. Lần 3: Tuần 26: Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn từ 4 đến 5 câu nói về con vật mà em yêu thích. Thời gian: 15 phút Kết quả đạt được như sau: Điểm. Giỏi. Khá. T.Bình. Yếu. Lớp. Sĩ số. SL. %. SL. %. SL. %. SL. %. 2D. 6. 1. 16,6. 1. 16,6. 4. 66.7. 0. 0. Nhìn chung vào các bảng kết quả trên cho thấy cách tổ chức học sinh viết đoạn ngắn theo hướng đã trình bày ở trên giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn chắc chắn, thành thạo, chất lượng đoạn văn viết của học sinh tăng lên rõ rệt qua từng đợt kiểm tra. Mặt khác qua quá trình dạy thực nghiệm trên lớp 2D tôi thấy giờ học diễn ra sôi nổi. Học sinh tiêp thu bài một cách chủ động. Song điều đáng nói hơn cả là hiện tượng nói câu không rõ, nghĩa không trọn ý không còn nữa. Học sinh đã biết dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, câu viết khá sinh động. Khi viết về các con vật và con người xung quanh mình. Thời gian hoàn thành đoạn viết trong các lần kiểm tra cũng nhanh hơn so với lớp đối chứng..

<span class='text_page_counter'>(16)</span> Điều đó chứng tỏ cách dạy viết đoạn văn theo hướng đã trình bày ở trên đã đem lại kết quả đầy khả quan, cần được phát triển để thực sự nâng cao chất lượng viết đoạn nói riêng và học Tiếng Việt nói chung cho học sinh lớp 2. III. PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ III.1. Phần kết luận Quá quá trình nghiên cứu phương pháp dạy học sinh viết đoạn văn ngắn ở học sinh lớp 2, tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sau. Trước hết người giáo viên phải tâm huyêt với nghề, luôn tìm tòi, học hỏi, tao đổi kiến thức, cập nhập với những vấn đề mới của xã hội để có phương pháp dạy phù hợp. Nắm chắc nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng việt 2 nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Đặc biệt cần nắm chắc, hiểu rõ những vấn đề, kiến thức đổi mới của Tiếng Việt 2 so với chương trình cải cách giáo dục từ đó có những sáng tạo, cải tiến về mặt phương pháp sao cho phù hợp với từng bài dạy cụ thể, từng đối tượng học sinh. Cần xác định rõ mục đích – yêu cầu của bài dạy, các bước dạy viết đoạn văn ngắn cho học sinh. Thường xuyên dự giờ, quan sát, tìm hiểu thực tế đê rút ra ưu nhược điểm của phương pháp giảng dạy mình đang thực hiện từ đó có hướng khắc phục. Phải có phương tiện tối thiểu cần thiết phục vụ bài giảng Tranh minh hoạ, bảng phụ. Song cần lưu ý rằng: Hãy sử dụng triệt để đồ dùng sẵn có như: Tranh minh hoạ trong sách giáo khoa, cảnh tự nhiên xung quanh trẻ…. Dạy học bằng phương pháp trên khơi dậy hứng thú học tập lòng say mê ham thích học hỏi của học sinh, cần làm cho học sinh cảm thấy mỗi giờ học như một buổi đi thăm quan, khám phá những điều mới lạ có trong cuộc sống xung quanh các em không nên gò ép các em theo một khuôn thước nhất định mà cần phát huy tính sáng tạo, chủ động của học sinh. Qua nghiên cứu thực trạng dạy – học viết đoạn văn ngắn ở lớp 2 tôi thấy việc rèn học sinh kĩ năng viết đoạn là việc làm vô cùng quan trọng. Công việc này đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo song cũng cần kiên trì, chịu khó trong suốt quá trình giảng dạy Tập làm văn nói chung và dạy học sinh viết đoạn văn nói riêng. Việc dạy học sinh viết đoạn theo hướng nêu trên đã đem tới sự tiến bộ vượt bậc không chỉ ở riêng phân môn Tập làm văn mà trong các giờ kể chuỵên ngôn ngữ kể của các em cũng sát thực và giàu hình ảnh hơn….

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Trên đây là kinh nghiệm của tôi nhằm nâng cao chất lượng viết đoạn trong phân môn Tập làm văn nói riêng và chất lượng học Tiếng Việt ở tiểu học nói chung. Trong khi viết không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong được sự đóng góp của các nhà nghiên cứu các cấp lãnh đạo và các đồng nghiệp. III.2. Phần kiến nghị *Về sách giáo khoa. Một số bài tập làm văn có nội dung sắp xếp chưa được hợp lý. Ví dụ: ở tuần 8 đây là tiết đầu tiên học sinh được làm quen với kiểu bài: Kể ngắn theo câu hỏi. Sách giáo khoa đưa ra 3 nội dung. + Nói lời mời nhờ yêu cầu đề nghị. + Kể ngắn theo câu hỏi. + Viết một đoạn văn khoảng 4 đến 5 câu nói về cô giáo hoặc (thầy giáo cũ) của em dựa vào các câu trả lời ở nôi dung 2 . Đến tuần 10 đây là tiết thứ 2 (không kể tuần ôn tập) và là tiết thứ 3 (tính cả tuần ôn tập). Học sinh được học kiểu bài kể về người thân. Sách giáo khoa chỉ đưa 2 nội dung. + Kể về ông, bà (hoặc người thân) của em dựa vào các câu gợi ý. + Viết đoạn văn ngắn kể về ông bà người thân của em dựa theo yêu cầu bài 1 Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi. Trong bài viết chắc không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong sự góp ý, giúp đỡ của các anh chị và bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là hội đồng khoa học cho bản thân tôi được tiếp thu những cái mới, cái hay trong kinh nghiệm giảng dạy để đưa chất lượng văn hóa nói chung, chất lượng một lớp học nói riêng ngày một nâng cao. Tôi xin chân thành cảm ơn !.

<span class='text_page_counter'>(18)</span>

×