ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGỌ THỊ XUÂN
QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ VÀ NHÂN
SINH
TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC
NGÁI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ, VĂN HĨA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM THỊ PHƯƠNG THÁI
THÁI NGUYÊN - 2021
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám
hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí -Truyền thơng và Văn học, Trường Đại học
Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp
đỡ trong suốt q trình học tập
Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS. Phạm
Thị Phương Thái - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhất
cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hồn thành luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn tới các ông, bà, cô, bác, anh, chị…người dân tộc
Ngái ở tại các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bình
Dương, Bình Phước… đã cung cấp tư liệu văn học dân gian quý báu để giúp tơi
hồn thành luận văn. Cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ nhiệt tình của gia đình, bạn
bè. Đó
chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tơi theo đuổi và hồn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới các thầy cô trong Hội đồng khoa học đã đọc và
chỉ rõ những thành công và hạn chế trong luận văn.
Thái Nguyên, ngày … tháng… năm 20...
Học viên
Ngọ Thị Xuân
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiêm cứu của riêng tôi. Các tác phẩm
văn học dân gian, các số liệu của dân tộc Ngái mà tôi sưu tầm, thu thập từ thực địa
và các tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, trung thực. Nếu có sai
phạm gì tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày … tháng… năm 20...
Học viên
Ngọ Thị Xuân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu ........................................................................6
4. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................7
5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ...................................................................7
6. Cấu trúc của luận văn ..............................................................................................8
7. Đóng góp của đề tài.................................................................................................9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC DÂN GIAN
CỦA DÂN TỘC NGÁI.............................................................................................10
1.1. Tổng quan về lịch sử dân tộc Ngái ở Việt Nam.................................................10
1.1.1. Nguồn gốc tộc người....................................................................................10
1.1.2. Nguồn gốc và tộc danh ................................................................................14
1.2. Văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái .....................................................15
1.2.1. Khái niệm về văn hóa, văn học dân gian.....................................................15
1.2.2. Cơ sở hình thành những sáng tác dân gian của dân tộc Ngái ở Việt Nam .18
1.2.3. Ảnh hưởng của sáng tác dân gian đến đời sống tinh thần của người Ngái 25
1.2.4. Thực trạng văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái hiện nay.............27
1.3. Tiểu kết chương 1 ..............................................................................................29
Chương 2: QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA
DÂN TỘC NGÁI ......................................................................................................31
2.1. Quan niệm về vũ trụ...........................................................................................31
2.2. Quan niệm về vũ trụ trong sáng tác văn học dân gian của dân tộc Ngái ...........31
2.1.1. Quan niệm về sự hình thành trời đất, con người và mn lồi ...................31
2.2.2. Quan niệm về các hiện tượng tự nhiên ........................................................40
2.2.3. Quan niệm về thời gian và không gian ........................................................43
2.3. Tiểu kết chương 2 ..............................................................................................50
Chương 3: QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN
CỦA DÂN TỘC NGÁI.............................................................................................52
3.1. Khái niệm về quan niệm nhân sinh ....................................................................52
3.2. Quan niệm nhân sinh trong sáng tác dân gian của người Ngái..........................53
3.2.1. Mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên ......................................54
3.2.2. Mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống........................56
3.2.3. Quan niệm nhân sinh trong tín ngưỡng dân gian của người Ngái .............69
3.3. Những giá trị và hạn chế trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái..................77
3.3.1. Những giá trị trong sáng tác dân gian của người Ngái ..............................77
3.3.2. Hạn chế ........................................................................................................78
3.4. Tiểu kết chương 3 ..............................................................................................81
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................85
DANH MỤC BÀI VIẾT CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ..............................................88
PHỤ LỤC..................................................................................................................89
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên một lãnh thổ, mỗi dân
tộc có những sắc thái riêng, nét văn hóa riêng, giá trị văn học riêng… Sự phát triển
độc lập nhưng lại có sự hịa quyện bình đẳng, bổ sung cho nhau tạo nên sự phong
phú nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Trong cộng đồng đa dân tộc,
dân tộc Ngái là dân tộc có số dân ít, đứng thứ 49 trong 54 dân tộc trên đất nước.
Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc năm 2015, cả nước có
999 người Ngái; nhưng đến năm 2019 kết quả điều tra dân số và nhà ở tại Việt
Nam, số người Ngái đã tăng lên 1649 người. Người Ngái là cư dân lúa nước, họ cư
trú ở nơi bằng phẳng, gần sơng suối, có nước, có ruộng hay ở thung lũng thuộc các
tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Thái Nguyên, Bắc Kạn,... Người Ngái
không cư trú tập trung thành bản làng mà sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác như
Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu... Với sự phong phú của cảnh quan, môi trường, địa cư
sống đã tác động rất lớn đến đời sống tinh thần của người Ngái, làm nên một đời
sống văn hóa, văn học dân gian khá phong phú, đa dạng qua đó họ thể hiện những
quan niệm về vũ trụ, nhân sinh sâu sắc. Trong sáng tác văn học dân gian ẩn chứa
những khái niệm trừu tượng mà ở đó, chúng ta có thể thấy được năng lực tư duy,
phán đốn, phân tích và nhận thức của con người về vũ trụ và cuộc sống. Tuy nhiên,
trước sự vận động và biến đổi không ngừng của thế giới, sự tác động của cơ chế thị
trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay khiến cho văn
hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái dần bị mai một, những giá trị trong sáng tác
dân gian vẫn còn khuất lấp đâu đó trong cộng đồng người Ngái mà chưa được tìm
thấy. Vậy làm thế nào để khơi phục lại, giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị
đó nhất là những quan niệm tích cực của họ về vũ trụ quan, nhân sinh quan gửi gắm
trong những sáng tác dân gian?
Nhận thức được ý nghĩa và sự cấp thiết của vấn đề, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học, để giúp hiểu rõ hơn tầm quan
trọng của việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị trong sáng tác dân gian của
dân tộc Ngái hiện nay. Hồn thành cơng trình này, chúng tơi mong muốn được góp
phần nhỏ bé để khẳng định, bảo tồn và lưu giữ những giá trị trong sáng tác dân gian
2
của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Ngái nói riêng, nhất là hiểu rõ hơn về
những quan niệm của họ về vũ trụ, về nhân sinh trong cuộc sống; trân quý những
giá trị văn hóa dân tộc, bồi đắp thêm kho tàng văn học, văn hóa của 54 dân tộc Việt
Nam. Đồng thời, góp thêm một cơ sở, một nguồn tư liệu khi tìm hiểu về văn hóa,
văn học
của dân tộc Ngái hơm nay và mai sau.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về những sáng tác văn học dân
gian hoặc những quan niệm của họ gửi gắm qua những sáng tác dân gian của các
dân tộc thiểu số Việt Nam như những sáng tác dân gian của người Thái, Dao, Tày,
Nùng… ở những phạm vi, góc độ và khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong đó
những tài liệu và cơng trình nghiên cứu về những sáng tác dân gian của dân tộc Ngái
được công bố là vô cùng ít ỏi, chưa có cơng trình nghiên cứu chun khảo về vấn
đề này. Một số cơng trình nghiên cứu cịn sơ lược ở một số khía cạnh như phong
tục cưới hỏi, tín ngưỡng trong đời sống tâm linh của dân tộc Ngái, chưa đi sâu vào
nghiên cứu về những quan niệm của người Ngái về vũ trụ, về nhân sinh được thể
hiện thông qua sáng tác dân gian, đây là vấn đề mà luận văn quan tâm. Chính vì vậy,
trong quá trình sưu tầm, thu thập tài liệu phục vụ cho đề tài, tôi mới chỉ được tiếp
cận được một số
các tài liệu sau:
Trong cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)” [27,
tr5, 27] Khi viết về dân tộc Hoa có nhắc đến người Ngái là bộ phận, một nhóm địa
phương của dân tộc Hoa. Cuốn sách đã đề cập đến tên gọi và nguồn gốc cư trú của
người Ngái nhưng chưa mô tả được đặc trưng của tộc người này, các thông tin còn
mơ hồ và chưa rõ ràng. Đặc biệt chưa đề cập đến những tác phẩm văn học dân gian
của họ.
Ngồi ra, có một số bài báo đã cơng bố liên quan đến dân tộc Ngái, cụ thể là:
“Tìm lại Cội nguồn người Ngái” [27], tác giả đưa ra thực trạng ở Việt Nam
đến nay vẫn chưa có sự nhất quán trong việc xác định tộc người của người Ngái và
người Hoa. Theo tác giả, người Ngái tại Thái Nguyên là một dân tộc độc lập, khác
hoàn toàn so với dân tộc Hoa. Để chứng minh cho lập luận của mình tác giả đã miêu
tả kiểu nhà, lối kiến trúc của người Ngái truyền thống thông qua quan sát những
ngôi
3
nhà cũ trong làng. Đặc biệt tác giả giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng trong ẩm
thực, trong kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của tộc người Ngái tại Thái Nguyên.
“Dân tộc Ngái” [5] bài viết mô tả tên gọi và tên tự gọi của dân tộc Ngái,
những đặc điểm về văn hóa vật chất như ăn, ở, trang phục của người Ngái, phương
tiện đi lại. Đặc biệt bài viết đề cập đến các hình thức cưới xin, ma chay, tín ngưỡng,
những kiêng kị của người phụ nữ Ngái sau sinh, các tiết trong năm và các hình thức
cúng lễ của người Ngái tại Thái Nguyên.
“Kiểu nhà phòng thủ của người Ngái xưa” [13] đã đề cập đến lối kiến trúc
nhà phòng thủ, nhiều mái là nhà phổ biến của người Ngái xưa tại Thái Nguyên.
Ngoài ra bài viết giới thiệu các nguyên liệu, cách làm ra các nguyên liệu làm nhà
của người Ngái tại Thái Nguyên. Mặt khác bài viết đưa ra thực trạng và sự biến đổi
văn hóa trên lĩnh vực nhà cửa của người Ngái tại Thái Nguyên hiện nay, đó là sự
thay đổi trong kiểu cách làm nhà, vật liệu làm nhà giống như người Kinh. Đó là kết
quả của sự thích ứng với văn hóa đa số xung quanh.
“Nét ẩm thực độc đáo của người Ngái ở Thái Nguyên” (2013) [19], bài viết
đã chỉ ra nguồn sinh kế chính của người Ngái, nét độc đáo trong ẩm thực của người
Ngái tại Thái Nguyên ở cách thức chế biến, loại thức ăn đặc trưng, các loại gia vị
người Ngái ưa chuộng, chế độ ăn của người Ngái phụ thuộc vào nơng lịch và đặc
điểm khí hậu vào từng mùa. Đó chính là những nét đặc trưng tiêu biểu trong ẩm
thực của người Ngái ở Thái Nguyên.
“Lễ Kỳ Yên dân tộc Ngái tỉnh Bắc Giang” (2014), [16] bài viết giới thiệu về
nghệ thuật dân gian của người Ngái tại xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
Giang đó chính là hát Xướng ca hay cịn gọi là Sường cô và những nghi lễ thờ cúng
các tiết trong năm của người Ngái. Bài viết đưa ra mục đích, ý nghĩa lễ Kỳ Yên của
người Ngái ở tỉnh Bắc Giang đó là cầu mưa thuận, gió hịa, dân chúng được bình an,
vơ sự trong năm mới. Đặc biệt bài viết mô tả lễ vật, người tổ chức điều hành lễ, các
quy trình thực hiện nghi lễ. Đồng thời bài viết đã đề cập đến sự biến đổi của lễ Kỳ
Yên hiện nay so với lễ Kỳ Yên truyền thống đó là sự biến đổi, rút gọn các thủ tục
phức tạp, đồ lễ ngắn gọn hơn xưa.
“Vì sao cơ dâu khóc trong ngày cưới” [09], tác giả Trà Giang đã giải thích tục
lệ, nguồn gốc của việc cơ dâu khóc trước khi về nhà chồng. Trong đó tác giả đã chia
4
sẻ những câu chuyện về việc khóc của các cơ dâu khi ngày trọng đại diễn ra và lý
giải nguyên nhân của việc cơ dâu khóc vào ngày cưới. Đặc biệt tác giả đã đề cập đến
đặc điểm đám cưới của người Ngái và phong tục khóc của cơ dâu người Ngái trước
khi về nhà chồng “Ở Việt Nam, dân tộc Ngái vẫn con giữ tục khóc trong đám cưới.
Lễ
cưới của người Ngái khá nặng về lễ vật, ngoài tiền mặt, thịt, rượu, gạo, chè thuốc…
và phải sắm đủ chăn màn, quần áo đủ cho con dâu trước khi về nhà chồng. Đặc
biệt, nhất là ở tục… cơ dâu khóc trước khi về nhà chồng. Sau khi ăn hỏi, các cô gái
Ngái thường lo lắng cho cuộc sống mới, cộng với tâm lý sắp phải xa bố mẹ, xa
người thân nên khơng kìm nén được cảm xúc…” Ngồi ra tác giả đề cập đến sự cải
biên của đám
cưới có cơ dâu người Ngái hiện nay.
“Người Ngái ở Thái Nguyên: Mai một bản sắc dân tộc” [31], tác giả phản ánh
thực trạng người Ngái ở xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên hiện nay các giá trị văn hóa truyền thống dần mai một được thể hiện trong
việc số lượng người hiểu biết về văn hóa truyền thống ngày càng thu hẹp, các tài
liệu gia phả dòng họ của người Ngái hiện nay khơng cịn, những thơng tin, hiện
vật về
người Ngái được lưu giữ cịn ít ỏi, hạn chế về mặt số lượng cũng như sự “khan
hiếm” về mặt nội dung. Đặc biệt tác giả chỉ ra ngơn ngữ của người Ngái bị mai một
đó là sự thích ứng với xã hội xung quanh và “đồng hóa” văn hóa của người Kinh.
Trong cuốn “Cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam” Đặng Nghiêm Vạn
cho rằng: “Ngái là tộc người gồm nhiều nhóm, nguồn gốc đa dạng, xưa cư trú ở
huyện Phòng Thành và vùng biển tỉnh Quảng Đơng như Sin, Đản, Lê, ... Những
nhóm này ý thức tộc người chưa rõ, khi thì nhận là Sán Chay, Việt,…cư trú tập
trung ở Hà Bắc, Lạng Sơn, nhất là ở Quảng Ninh và các hòn đảo ở Vịnh Bắc Bộ”.
Năm 2003, trong cuốn “Niên giám thống kê của tỉnh Thái Nguyên” đã thống
kê cụ thể số lượng người Ngái và địa điểm cư trú của dân tộc này ở Thái Nguyên.
Trong cuốn “Địa chí Thái Nguyên” tác giả Mai Thanh Sơn giới thiệu khái
quát về dân số, phân bố dân cư, hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần của người Ngái. Đây là tư liệu duy nhất viết về người Ngái ở địa
phương cụ thể là huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, giúp người đọc hình dung
một số đặc
5
điểm văn hóa của dân tộc người Ngái nói chung và dân tộc Ngái ở Thái Nguyên nói
riêng- một trong những dân tộc đang suy giảm về số lượng.
Cuốn “Địa chí Bắc Giang” tác giả Bùi Xuân Đính đề cập chung đến bộ phận
người Hoa, người Ngái. Nội dung bài viết tóm tắt giới thiều một số đặc điểm về tổ
chức xã hội của người Hoa và người Ngái trước giải phóng miền Bắc (1954). Tuy
nhiên, tư liệu riêng về người Ngái đặc biệt là những sáng tác dân gian hầu như chưa
đề cập tới.
Trong cuốn “Tổng quan văn hóa các dân tộc Việt Nam” của GS.TS Hoàng
Nam (2011), đã đề cập tới những nét khái quát nhất về 54 dân tộc Việt Nam trong đó
có dân tộc Ngái về lịch sử cư trú, kinh tế truyền thống và văn hóa truyền thống.
Nhưng lại chưa đi sâu về người Ngái mà chỉ dừng lại ở mức tổng quan chung chung.
Báo điện tử Thái Nguyên bài“Sự thay đổi trong đời sống của người Ngái
Xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” ra số ngày
4/11/2014 trên trang (baothainguyen.org.vn), đã đề cập đến vấn đề kinh tế của
người Ngái ở Thái Nguyên chỉ tổng quan về kinh tế chung chung.
Năm 2015, có thêm hai cơng trình về người Ngái là khóa luận tốt nghiệp
“Hơn nhân và gia đình của người Ngái thơn Đồng Tâm, xã Đồng Niên, Huyện Phú
Bình, Tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Linh Hương và “Người Ngái ở thôn Cầu
Vồng (Bắc Giang): Lịch sử tụ cư, đặc điểm văn hóa và biến đổi” của Hồng Thị Hỏi
(cùng thuộc khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội). Hai khóa luận đã phác họa bức tranh chung về lịch sử tộc
người, đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội đặt ra một số câu hỏi cần xem xét về những
mâu thuẫn giữa ý thức tộc người với tên tộc danh sử dụng trong các văn bản hành
chính, căn cước và hiểu biết về cộng đồng người Ngái ở hai điểm nghiên cứu.
Cũng trong năm 2015, có hai sinh viên là Đàm Thị Thương và An Thị Kim
Nhẫn, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên có báo cáo nghiên cứu khoa học về tộc
người Ngái với nhan đề “Đời sống văn hóa của người Ngái ở xóm Tam Thái, xã Hóa
Thượng, huyện Đơng Hỷ, tỉnh Thái Ngun (1986-2015)” và “Hơn nhân và gia đình
của người Ngái ở xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên (1986-2015)” do tính chất như một bài tập để các em sinh viên nâng cao kỹ
năng nghiên
6
cứu khoa học nên kết quả nghiên cứu của hai đề tài này còn sơ lược, mới chỉ đề cập
tới thực trạng đời sống văn hóa cũng như hơn nhân và gia đình của người Ngái ở
xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun cịn rất chung
chung.
Nhìn chung, các tài liệu báo chí, luận văn điểm lại ở trên đã có những đóng
góp đáng ghi nhận vì nó đã bước đầu nêu được một số yếu tố cơ bản liên quan đến
văn hóa, phong tục tập quán của người Ngái và những biến đổi trong đời sống tộc
người Ngái hiện nay ở một số địa phương, khẳng định được những giá trị văn hóa
truyền thống của tộc người Ngái.
Với nguồn tài liệu ít ỏi, đặc biệt là chưa có một nguồn tài liệu, một cơng trình
nghiên cứu nào viết về những sáng tác văn học dân gian hoặc những quan niệm của
họ về vũ trụ, nhân sinh được gửi gắm trong sáng tác dân gian, nhưng với niềm đam
mê muốn khơi phục lại, muốn tìm lại những giá trị văn hóa, văn học của các dân tộc
thiểu số đặc biệt là dân tộc Ngái đang mai một về đời sống tinh thần, đã thôi thúc
chúng tôi chọn đề tài: “Quan niệm về vũ trụ về nhân sinh trong sáng tác dân gian
của dân tộc Ngái” một khía cạnh của văn hóa, văn học dân gian để làm sống dậy
những giá trị văn hóa, văn học của họ, từ đó góp phần làm phong phú hơn cho nền
văn hóa, văn học Việt Nam, điều mà Bác Hồ và Đảng ta quan tâm, xem là mục tiêu
quan trọng của thời kỳ hội nhập “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc”.
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn bước đầu làm sáng tỏ quan niệm về vũ trụ, nhân sinh trong sáng tác
dân gian của dân tộc Ngái. Trên cơ sở đó rút ra những giá trị về mặt triết lý trong
quan niệm của người Ngái xưa về thế giới, về vị trí, vai trị của con người trong thế
giới, về triết lý sống, đạo làm người… trong sáng tác dân gian của người Ngái góp
phần nâng cao ý thức của đồng bào các dân tộc Việt Nam trong việc khôi phục, bảo
tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình trước xu thế
hội
7
nhập và dưới những tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác dân gian các dân tộc thiểu số rất đa dạng và phong phú... đặc biệt là
sáng tác dân gian của dân tộc Ngái, một trong 16 dân tộc thiểu số rất ít người ở Việt
Nam. Luận văn đi sâu khai thác những quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan
của người Ngái xưa thông qua những sáng tác dân gian của họ.
5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ
chính sau:
- Sưu tầm, khảo sát về các sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.
- Làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.
- Hiểu rõ hơn về quan niệm của người Ngái về vũ trụ, về nhân sinh trong
sáng tác dân gian trên bình diện so sánh quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của dân tộc
Ngái với một số dân tộc khác.
- Đưa ra những định hướng khơi phục, giữ gìn và phát huy những giá trị tinh
thần trong sáng tác dân gian của người Ngái trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng những phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của
cộng đồng dân tộc Ngái. Đồng thời tìm hiểu những nét đặc sắc về văn hóa cịn lưu
giữ đến ngày nay.
Phương pháp liên ngành (so sánh, tổng hợp): Có cái nhìn tổng quan về dân
tộc Ngái, so sánh những quan niệm nhân sinh, vũ trụ trong sáng tác dân gian của
người Ngái với các dân tộc anh em khác, từ đó thấy được những nét giống và khác
nhau của các dân tộc trên cùng một lãnh thổ, đặc biệt là so sánh với dân tộc Hoa bởi
hai dân tộc này gần gũi nhau về ngơn ngữ, văn hóa…
8
Phương pháp điền dã dân tộc học:
- Để tìm hiểu những sáng tác văn học dân gian của dân tộc Ngái, đặc biệt là
những quan niệm nhân sinh, vũ trụ được gửi gắm qua những tác phẩm đó, thì điền
dã dân tộc học là phương pháp chủ yếu, phương pháp này thể hiện ở những hình
thức tiến hành cụ thể như sau:
- Để thực hiện luận văn, tôi tiến hành những chuyến điền dã dân gian tại một
số địa phương có đồng bào Ngái sinh sống tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang,
Quảng Ninh, Bắc Kạn, Cao Bằng làm cơ sở để thu thập những tư liệu về tác phẩm
dân gian, những phong tục tập quán… của dân tộc Ngái.
- Để thu thập thông tin phục vụ cho luận văn tôi tiến hành phỏng vấn các cá
nhân tại địa phương nơi dân tộc Ngái cư trú để sưu tầm những tác phẩm dân gian,
giúp tìm hiểu rõ hơn về những quan niệm của họ về vũ trụ, về nhân sinh trong sáng
tác dân gian và trong cuộc sống của họ. Với cách thức phỏng vấn sâu tôi đã tiến
hành nhiều cuộc phỏng vấn với các gia đình vợ chồng bác Thẩm Dịch Thọ, Vợ
chồng bác Thẩm Dịch Sơn và Lâm Ngọc Dung, Bác Thẩm Thị Gấm, cô Lâm Thị
Mai… (tại thơn Tam Thái, Hóa Thượng, Đồng Hỷ, Thái Ngun); ơng Sằn Tắc
Sình, bà Trương Thị Phụng, anh Phùng A Phùi, bà Trần Thị Eng, Tăng Thị Máy…
(tại Thị Trấn Phủ Thơng, Bạch Thơng, Bắc Kạn); Ơng Trần Sửu Ging, bà Trần
Thị Giàng, anh Di Văn Hùng, anh Hồng Văn Chng… (tại Cốc Đán, Ngân Sơn,
Bắc Kạn). Đặc biệt là 2 ngày tại Bắc Giang cùng ăn, ở và tham dự lễ hội Tả Tài
Phán của người Ngái, người Hoa và người Sán Dìu trên địa bàn thơn Đơng Hương,
xã Đơng Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tại đây tôi đã gặp nhiều người
Ngái đặc biệt là những thành viên trong gia đình bà Dương Thị Lỷ (80 tuổi), cung
cấp những bài hát giao duyên, câu ca dao… là những tài liệu quý báu phục vụ cho
luận văn này.
Phương pháp thống kê: Từ việc khảo sát bằng hình thức phỏng vấn đối với
cộng đồng người Ngái ở Thái Nguyên, tác giả đã tập hợp số liệu thống kê để làm tư
liệu minh họa cho đề tài.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
9
Chương 1: Tổng quan về lịch sử, điều kiện từ nhiên- xã hội và văn hóa, văn
học dân gian của dân tộc Ngái.
Chương 2: Quan niệm về vũ trụ trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.
Chương 3: Quan niệm nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.
7. Đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần vào thành quả sưu tầm văn học dân tộc Ngái. Đồng thời
làm rõ một số quan niệm của người Ngái về vũ trụ, nhân sinh trong các sáng tác dân
gian của họ. Để từ đó, hiểu thêm về đời sống tâm hồn phong phú, độc đáo của một
tộc người thuộc nhóm dân tộc thiểu số rất ít người.
10
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC DÂN GIAN
CỦA DÂN TỘC NGÁI
1.1. Tổng quan về lịch sử dân tộc Ngái ở Việt Nam
1.1.1. Nguồn gốc tộc người
Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa. Trải qua q
trình phát triển của lịch sử, bức tranh văn hóa Việt Nam được tạo nên bởi 54 tộc
người với sự phong phú, đa dạng về văn hóa. Các tộc người ở Việt Nam được hình
thành bởi hai nguồn gốc là cư dân bản địa và cư dân di cư. Tuy nhiên, các cộng
đồng dân tộc dù có nguồn gốc như thế nào thì khi đã chọn Việt Nam là quê hương
để sinh sống thì họ ln có tư tưởng gắn bó với lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng
chung sống và tuân thủ mọi luật pháp của Nhà nước Việt Nam. Tạo nên một mái nhà
chung vừa đa dạng, vừa thống nhất.
Theo các tài liệu nghiên cứu về lịch sử của các dòng họ, tộc người, quá trình
di cư của người Ngái vào Việt Nam diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ. Tổ tiên của dân
tộc Ngái đều có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Trung Quốc, các tỉnh Phúc Kiến,
Quảng Đông và Quảng Tây. Do những biến động lịch sử và sức ép kinh tế - xã hội
nơi quê nhà, họ đã di cư đến khu vực Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi từ
đây di cư vào khu vực Móng Cái, Hà Cối (Đầm Hà và Hải Hà ngày nay) thuộc tỉnh
Hải Ninh (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Thời điểm các dịng họ di cư đến khu
vực này tính đến nay đã 7-8 đời. Từ đây, các gia đình dần dần di cư sâu hơn vào
trong đất liền, di tán khắp mọi nơi lên các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn,
… một bộ phận lớn người Ngái đã di cư vào Nam sau năm 1954. Theo lời kể của
bác Thẩm Dịch Thọ người được cho là thông thạo hiểu biết rõ về dân tộc của mình:
“Người Ngái chúng tôi di cư từ vùng Hà Cối, tỉnh Hải Ninh (cũ) lên Thái Nguyên và
định cư ở đây nhiều đời, cuộc sống ban đầu vơ cùng khó khăn, đói kém. Nhất là
những biến cố lịch sử, chiến tranh biên giới phía Bắc vào năm 1979, một số người
về Trung Quốc, một số di cư vào Nam. Tuy nhiên, nhiều người vẫn quyết tâm ở lại
mưu sinh trên mảnh đất Thái Ngun cho đến nay. Cộng đồng Ngái chúng tơi có
nguồn gốc ở vùng Quảng Đông của Trung Quốc”. Bác Thẩm Dịch Đức kể lại:
“Cuộc sống mưu
11
sinh ở đất Quảng Ninh khá chật vật, lại nghe nói vùng đất Thái Nguyên làm ăn dễ
dàng, nên vào những năm 1940, khi tơi cịn ẵm ngửa thì gia đình chúng tơi đã di cư
từ Quảng Ninh lên mảnh đất Thái Nguyên và khai phá mảnh đất này từ thời đó”. “Ở
thơn Tam Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun chúng tơi ngày nay có bốn dịng
họ lớn như họ Thẩm, họ Trần, họ Lâm và họ Hoàng. Họ vẫn giữ được những nét
văn hóa của người Ngái”. Trong đó họ Thẩm là dịng họ lớn nhất của người Ngái ở
Thái Nguyên, là người gốc Hán nói tiếng Ngái và tiếng Khách, quê cha đất tổ ở
vùng La Lương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Họ Thẩm đến Việt Nam định cư
được khoảng
8 đời. Bốn đời trước định cư ở vùng Hà Cối, tỉnh Hải Ninh (cũ). Khi định cư ở vùng
Hải Ninh (cũ), các gia đình họ Thẩm làm ruộng trồng lúa, ngô, khoai, sắn. Tuy
nhiên không định cư lâu dài bởi đất trồng trọt xấu, chăn nuôi không hiệu quả. Cụ
Thẩm Hoa Huân năm nay đã 91 tuổi, nhưng cụ vẫn còn nhớ rất rõ cuộc di cư cùng
gia đình từ Hà Cối, Quảng Ninh lên Thái Nguyên khi đó cụ mới 11 tuổi. Cụ kể lại:
"Bố tơi sinh ra ở Trung Quốc, di cư sang Việt Nam. Tơi sinh ra ở Hà Cối. Năm tơi
11 tuổi thì bắt đầu đến Thái Nguyên. Không nhớ là đã đi bao nhiêu ngày, nhưng khi
đến vùng đất này thì dừng lại, vì ở đây đất đai tươi tốt, lại có nhiều mỏ thép, dễ làm
ăn"[02]. Trong quá trình thực địa tại thôn Tam Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên khi được hỏi bác Thẩm Dịch Đức cũng chia sẻ “Tôi nghe các cụ kể lại,
trước kia chúng tôi sống ở vùng Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh (ngày nay) vô cùng khó
khăn, đất đai bạc màu, do gần biển nên chủ yếu là đất pha cát, làm ăn thất bát liên
tục. Nghe người ta nói vùng đất Thái Nguyên đất đai mầu mỡ, có nhiều ruộng, núi
rừng hiểm trở có thể sinh sống mà không lo chiến tranh đe dọa, chúng tơi sinh sống
từ đó đến nay. Một số gia đình họ Thẩm di cư tiếp sang vùng đất Bắc Giang, chúng
tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau”. Khi viết về các dạng di trú của những tộc
người ở Trung Quốc, tác giả Trần Khánh có bàn về dạng di trú sinh thái, khi phân
tích nguyên nhân di cư và các dạng di trú của người Trung Hoa trong lịch sử có viết:
“Sự mất mùa đói kém, bệnh tật, dân cư thừa thải, sinh đẻ quá mức, đất chật người
đông, buộc con người ta phải từ bỏ quê hương, đi tìm nơi sinh sống mới tốt hơn.
Việt Nam nói riêng, các nước Đơng Nam Á nói chung có điều kiện tự nhiên thuật
lợi, nằm sát ngay với Trung Quốc, có thể dễ dàng di cư sang đó bằng đường bộ
hoặc đường thủy. Mặt khác, phong tục tập quán, lối sống, tôn giáo và chủng tộc của
người Việt Nam cũng như các cư dân khác trong
12
khu vực tương đối gần gũi với người Trung Hoa, nên việc lập quê hương mới của
họ trên đất khách quê người ít gặp trắc trở” [13, tr37]. Khi vào Việt Nam mỗi dịng
họ người Ngái đều mang theo mình những câu chuyện về hành trình di cư. Mỗi
vùng đất họ đi qua đều để lại dấu ấn văn hóa của chính mình và của những người
dân sở tại. Chúng hịa quyện với nhau, giao thoa và tiếp biến. Có thể nói, con đường
di cư đó đã một phần tác động, tạo nên một thứ văn hóa tộc người đa dạng, tổng hòa
từ nhiều yếu tố và được hun đúc, giữ gìn theo thời gian.
Năm 1978 quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng do mâu
thuẫn trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Người Hoa ở Việt Nam cũng bị ảnh
hưởng, bị cuốn theo dòng chảy lịch sử. Giữa người Việt và người Hoa đã xảy ra
những mâu thuẫn, những cuộc tranh chấp đáng tiếc, phần lớn người Hoa trở về
Trung Quốc. Trong thời gian này, cuộc sống của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
đã phải trải qua cơn biến động khơng nhỏ. Theo đó, người Ngái ở Việt Nam có
nguồn gốc từ Trung Quốc, được xem là một bộ phận của dân tộc Hoa, cũng khơng
tránh khỏi vịng xốy biến động đó. Khi nói về sự kiện này ơng Sằn Tắc Sìnhngười Ngái tại thành phố Thái Nguyên chia sẻ: “Những biến cố lịch sử năm 1979,
để lại trong chúng tôi những vui buồn của một thời chưa xa, về những năm tháng
lịch sử đầy biến động. Cuộc sống của chúng tơi gặp khơng ít khó khăn do hồn
cảnh lịch sử lúc bấy giờ”. Khi chúng tơi muốn hỏi kỹ hơn thì ơng bà khơng chia sẻ
nữa. Ơng nói: “Đã là q khứ khơng vui thì khơng nên nhắc lại”. Bà Trương Thị
Phụng nói: “Chúng tôi đến với Việt Nam từ thời các các cụ và xem Việt Nam là q
hương của mình, chúng tơi u Việt Nam và gắn bó với Việt Nam”. Ơng bà vẫn còn
cất giữ được những trang phục của người Ngái, bà chia sẻ: “Trước kia thì hay mặc,
cả đàn ông, đàn bà thường mặc trong sinh hoạt, trong lao động sản xuất. Giờ thì ít
mặc lắm, chủ yếu mặc trang phục của người Kinh thôi”.
Sau năm 1979, người Ngái lần đầu tiên được tách ra khỏi dân tộc Hoa để trở
thành một tộc người riêng, có những đặc trưng khác với người Hoa. Có ý kiến cho
rằng việc tách nhóm Ngái khỏi người Hán là chính sách phân hóa của Việt Nam để
làm giảm cố kết của họ với các nhóm người gốc Hán. Trong khi đó, các nhà nghiên
cứu Việt Nam cho rằng việc tách người Ngái khỏi dân tộc Hoa là có cơ sở khoa học
và là một cách để chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc. Kể từ khi người Ngái
13
được công nhận là một tộc người riêng biệt đến nay vẫn chưa được giới dân tộc học
và nhân học quan tâm đúng mức. Chính vì vậy các cơng trình nghiên cứu về người
Ngái ở Việt Nam cịn rất ít. Những nghiên cứu ít ỏi và sơ lược có nhắc đến các nhóm
nói tiếng Ngái và Hắc cá/Khách gia khơng thấy có cơng trình nghiên cứu chun
biệt nào về người Ngái. Đặc biệt các cơng trình nghiên cứu những giá trị văn hóa,
văn học
của dân tộc Ngái là vơ cùng ít ỏi và mờ nhạt.
Dân tộc Ngái có sự biến động và luôn thay đổi về dân số. Theo Tổng điều tra
dân số và nhà ở 1999, có 4.841 người Ngái; nhưng sau 10 năm, trong cuộc Tổng
điều tra dân số năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người (giảm
3.806 người), có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Tính đến năm 2015, số
liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc, cả nước có 999 người Ngái;
nhưng gần đây theo Tổng điều tra dân số ở Việt Nam tính đến 01/04/2019 có 1649
người Ngái trên cả nước. Nguyên nhân của tình trạng này là do sau những biến cố
trong quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc hoặc một số người Ngái khai đổi
thành tộc danh của các tộc người sống cận cư (Sán Dìu, Tày, Nùng, …). Hoặc
những năm gần đây một số người Ngái ở Quảng Ninh, ở Bắc Giang họ đã kê khai là
người Hoa trong thành phần dân tộc của họ mặc dù họ ln ln tự nhận mình là
người Ngái, họ nói tiếng Ngái (?).
Dân tộc Ngái có nhiều đặc trưng phân biệt với các dân tộc khác, tuy nhiên tộc
người Ngái lại có quan hệ gần gũi là người Hoa. Họ sống trên mọi miền trên đất
nước Việt Nam, họ không sống thành bản, làng riêng biệt giống một số dân tộc
thiểu số khác mà sống xen kẽ với các dân tộc cận cư khác như người Kinh, người
Hoa, người Sán Dìu... Các dân tộc có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trên tất cả
các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội. Từ đó có sự giao thoa về văn hóa, văn học
của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú cho nền văn hóa, văn học dân tộc.
Mỗi dân tộc lại có bản sắc văn hóa riêng đồng thời trên cơ sở cộng cư đã hình thành
niềm cộng cảm trong cộng đồng các dân tộc. Trong sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ
lẫn nhau giữa các dân tộc anh em, tạo nên quan hệ vừa là thân thuộc, gần gũi, bà con
các dân tộc đã tiếp nhận các giá trị văn hóa của nhau.
14
1.1.2. Nguồn gốc và tộc danh
Người Ngái ở Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau: Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu
Mần, Sín, Đản, Lê, Hẹ, Xuyến, Khách. Tuy nhiên, tên chính thức của Nhà nước ta
gọi dân tộc này trong 54 dân tộc Việt Nam là dân tộc Ngái. Sán Ngái lại là một tên
gọi tự xưng, mang nghĩa là “người ở rừng” hay “người miền núi”, chỉ đây là nhóm
người sống ở vùng sơn cước mà trong nhiều văn bản khơng chính thức, người đọc
vẫn thấy ở đâu đó như là một niềm tự hào của người Ngái, trên địa bàn cư trú truyền
thống của họ. Tên gọi ấy khơng chỉ mang hàm ý về địa hình nơi họ sinh sống mà
còn như lời khẳng định rằng, dân tộc mình là một trong những nhóm người có cơng
khai phá, dựng xây nên các bản làng trên vùng cao của các địa phương có dân tộc
Ngái cư trú.
Sau năm 1979, biến cố trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc,
nhiều người Ngái thay đổi tộc danh của dân tộc mình thành tộc danh của các tộc
người sống cận cư như Sán Dìu, Sán Chay, Nùng…, nhiều người trở về Trung Quốc.
Hiện nay một số người Ngái ở Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và Bằng Khẩu, tỉnh Bắc
Kạn vẫn kê khai là người Hoa trong thành phần dân tộc của họ mặc dù họ ln ln
nhận mình là người Ngái. Họ lý giải có lẽ vì họ di cư từ Trung Quốc nên được gọi
chung là người Hoa (?). Khiến cho dân số người Ngái giảm đáng kể. Theo tác giả
Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “người Ngái có ý thức tộc người chưa rõ ràng nên về
số lượng hay thay đổi thất thường, do chịu ảnh hưởng của tình hình chính trị mà địa
bàn cư trú của người Ngái cũng ln ln có sự biến đổi. Đó cũng là một trong
những đặc điểm cần xem xét có liên quan đên vấn đề tộc danh, tên gọi khi tìm hiểu
về dân tộc Ngái. Ở một số địa phương hiện nay, người Ngái vẫn được gọi là người
Hoa- tộc danh ghi trong văn bản, giấy tờ hành chính. Song đa số người dân ln có
ý thức là người Ngái” [34, tr335-336]. Đó cũng là một trong những đặc điểm cần
xem xét có liên quan đến vấn đề tộc danh, tên gọi khi tìm hiểu về người Ngái.
Ngơn ngữ của người Ngái là tiếng Ngái, thuộc nhóm ngơn ngữ Hán-Tạng, là
phương ngữ chi nhánh người Sán Há (hay còn gọi là dân tộc Xa) sống ở vùng Đông
Bắc, tỉnh Quảng Đông và Phụng Hoàng Sơn, tỉnh Phúc Kiến, nhưng nay thuộc đất
huyện Nhiêu Bình, Triều Châu, tỉnh Quảng Đơng, Trung Quốc. Mặc dù có ngơn ngữ
bản địa là tiếng Hoa và có nguồn gốc từ Quảng Đông song người Ngái hiện đã được
Chính phủ Việt Nam cơng nhận là một dân tộc độc lập với dân tộc Hoa.
15
1.2. Văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái
1.2.1. Khái niệm về văn hóa, văn học dân gian
1.2.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành nên những giá trị,
những chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động sản xuất, trong đời sống sinh hoạt
hàng ngày. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý,
hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người.
Tổ chức UNESCO đã thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển
xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trị điều tiết xã hội. Nó khơng những là yếu tố
nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu, động lực cho sự phát triển xã hội.
Văn hóa giúp cho con người tự hồn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã
hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã
diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ,
nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà
dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [07, tr.23]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát
vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc.
Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự
hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc. Mặc dù, tiêu chuẩn các giá
trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là khơng như nhau. Giá trị văn hóa cịn mang
tính khách quan, khơng phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên ngồi áp đặt vào để trở
thành văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc.
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di
truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được
tích lũy lắng đọng trong q trình hoạt động của mình. Chính q trình đó đã hình
thành nên bản sắc văn hóa riêng của một dân tộc. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết
định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc, một dân
tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả”
[15, tr.13]. Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính
mình, một nền văn
16
hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc. Chính vì vậy,
việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là
vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc.
Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam là bộ phận quan trọng cấu thành văn
hóa Việt Nam, làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam đa dạng mà thống nhất. Trong
kho tàng văn hoá nghệ thuật phong phú, văn học dân gian có thể được xem là thành
tố tiêu biểu nhất chuyển tải cả đời sống vật chất, đời sống tinh thần lẫn lịch sử phát
triển của các dân tộc.
1.2.1.2. Sáng tác dân gian
Sáng tác dân gian là những sản phẩm nghệ thuật do tập thể nhân dân lao động
sáng tạo ra, ở những giai đoạn khác nhau và được gọt giũa qua nhiều thế hệ, bao
gồm nhiều thành tố cấu thành như: Âm nhạc dân gian, mỹ thuật dân gian, điêu khắc,
múa dân gian, tín ngưỡng dân gian… Trong đó văn học dân gian là thành tố quan
trọng nhất, tạo nên những giá trị tình thần vượt thời gian. Những giá trị đó đã có
những tác động khơng nhỏ đến đời sống sinh hoạt của các dân tộc trên cùng lãnh thổ
Việt Nam “sáng tác văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm
hồn dân tộc" làm cho đời sống của họ thêm phong phú và đậm đà bản sắc hơn.
Văn học dân gian ra đời sớm nhất trong lịch sử văn học dân tộc, khi chưa có
chữ viết, gắn liền với khái niệm folklore. Khi văn học viết xuất hiện thì văn học dân
gian khơng phải vì thế mà bị triệt tiêu. Hai dịng văn học này vẫn song song tồn tại
và phát triển, có sự tác động qua lại lẫn nhau, văn học dân gian ln ln đóng vai
trị quan trọng là ngọn nguồn nuôi dưỡng văn học viết. Văn học dân gian là những
sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham
gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư
tưởng, tình cảm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên vũ trụ. Trong xã hội hiện đại,
văn học dân gian vẫn giữ nguyên sức sống của nó.
Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của các
tầng lớp nhân dân lao động, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua
các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay. Ở Việt Nam, ba thuật ngữ sau đây được xem là
tương
17
đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore
(folkore văn học).
1.2.1.3. Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trên đất nước ta, bên cạnh dân tộc Việt là dân tộc chiếm đa số thì có 53 dân
tộc thiểu số anh em. Cùng với dân tộc Việt các dân tộc thiểu số anh em đã chung
sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần cùng dân tộc Việt trong việc
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn học dân gian của các
dân tộc thiểu số chiếm vị trí khơng nhỏ trong nền văn học đa dân tộc. Trên cơ sở
những tiền đề văn hoá xã hội đặc thù, văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt
Nam đã ra đời. Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, văn học dân gian
của các dân tộc thiểu số đã phản ánh lịch sử và tâm hồn dân tộc, góp phần khơng
nhỏ vào việc hình thành bản sắc văn hố, văn học Việt Nam. Có thể nói một cách
khách quan rằng: Văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã chứng minh được giá trị,
sự phong phú đa dạng của mình, trong một chừng mực nhất định, cịn góp phần giới
thiệu văn hoá Việt Nam với thế giới.
Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số ở nước ta ra đời và phát triển trong
các sinh hoạt hằng ngày của nhân dân lao động khi làm nương rẫy, làm ruộng, quay
tơ, diệt vải, lúc tâm sự, chia sẻ với người yêu, lúc dăn dạy con cháu, chúc mừng,
chào hỏi nhau, lúc ru con hay nhưng lúc thiêng liêng như thờ cúng, cầu khấn trời
đất, thần linh, khi vui đùa đuổi bắt con trẻ dưới sân… tất cả điều này tạo nên những
tác phẩm dân gian có giá trị trong đời sống tình thần của họ.
Ở các dân tộc thiểu số, văn học dân gian chưa có sự phân hóa ra khỏi hoạt
động khác của đời sống với tư cách là một hoạt động tinh thần với chức năng nhận
thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ. Phần lớn nảy sinh tức thời ngay
trong các hoạt động của đời sống, người ta ứng tác ngay trong những lúc hoạt động
đang diễn ra hàng ngày. Người sáng tác đồng thời cũng là người thưởng thức và lưu
truyền. Một số dân tộc thiểu số đã dùng chữ viết ghi lại các tác phẩm văn học dân
gian trên giấy, trên lá… đó là một thuận lợi lớn trong việc bào tồn văn học dân gian.
Nhưng văn học dân gian tồn tại và phát triển được chủ yếu là nhờ phương thức
truyền miệng và bao giờ cũng gắn chặt với đời sống của từng cộng đồng.
18
Theo đó, văn học dân gian của người Ngái cũng ra đời, tồn tại và lưu giữ
trong môi trường sinh hoạt của công đồng người Ngái. Họ ứng tác ngay trong các
hoạt động sinh hoạt hàng ngày như lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa gia đình,
văn hóa lễ hội… Trong sáng tác dân gian của họ lưu giữ những quan niệm về thế
giới vũ trụ, quan niệm nhân sinh tốt đẹp trong đời sống. Văn học dân gian nảy sinh
và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Sinh hoạt nhân dân
là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Do tính chất truyền miệng nên
các tác phẩm văn học dân gian thường có kết cấu đơn giản, nội dung dễ hiểu và
nhiều dị bản. Xét về góc độ văn hóa, tác phẩm dân gian mang dấu tích văn hóa của
một thời đã qua và dấu tích ấy được ẩn giấu đằng sau những chi tiết, cốt truyện,
những sự kiện xảy ra trong q trình diễn biến câu chuyện. Nó liên quan đến tín
ngưỡng, phong tục, tập quán sinh hoạt của cộng đồng người Ngái thời xa xưa mà
ngày nay chỉ còn trong tâm thức. Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng những
bài hát ru gắn với việc ru con ngủ - một hình thức sinh hoạt gia đình. Ngược lại, việc
đưa con ngủ thường khơng thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các
truyền thuyết thường gắn với tín ngưỡng, lễ hội dân gian. Từ đó có thể thấy, văn học
dân gian của dân tộc Ngái đa dạng và phong phú gồm: Truyền thuyết, thần thoại,
truyện cổ tích, tục ngữ và dân ca ... Văn học dân gian với ý nghĩ vô cùng to lớn thể
hiện những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của dân tộc Ngái trong đời sống.
1.2.2. Cơ sở hình thành những sáng tác dân gian của dân tộc Ngái ở Việt Nam
1.2.2.1. Cơ sở khách quan để hình thành sáng tác dân gian của người Ngái
Việt Nam là đất nước đa dân tộc, sống hịa hợp, đồn kết, tương trợ lẫn nhau.
Vì thế đã hình thành kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng, phản ánh sinh
động hiện thực cuộc sống của nhân dân lao động. Sáng tác dân gian của mỗi dân tộc
điều có tầm quan trọng và ý nghĩa khác nhau. Những sáng tác dân gian được nảy
sinh và phát triển tồn tại lâu dài, đa dạng về thể loại, dồi dào về số lượng tác phẩm,
phong phú về nội dung, đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ. Sáng tác dân gian là nguồn
sữa trong lành nuôi dưỡng biết bao thế hệ trẻ lớn lên trong chiếc nôi tre Việt Nam,
trong tiếng ru ầu ơi, nhưng câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ.
19
Sáng tác dân gian của các dân tộc Việt Nam là món ăn tinh thần khơng thể
thiếu, phản ánh nhận thức của nhân dân lao động về thiên nhiên đất nước, về lao
động sản xuất, về đối nhân xử thế trong cuộc sống, chế giễu những thói hư tật xấu,
những áp bức bất công, ca ngợi những điều thiện, thể hiện những cung bậc cảm xúc
trong tình yêu, phản ánh những quan hệ gia đình xã hội.Với tư duy ngây thơ, đơn
giản của mình, nhân dân lao động xưa chưa thể nào lí giải một cách khoa học và
logic về các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống, cũng như trong các vấn đề xã hội.
Cùng với thời gian, con người đã phát hiện ra một số quy luật của thiên nhiên, ý
thức khám phá những quy luật tự nhiên đó. Từ đó, con người ln muốn đi tìm câu
trả lời cho các câu hỏi như: Con người sinh ra từ đâu? Tại sao con người sống và
chết? Cuộc sống của con người thời đó như thế nào? Cách ứng xử của con người
trong cuộc sống ra sao? Họ có những mối quan hệ với nhau như thế nào?... Với tư
duy và nhận thức đơn giản của con người họ đã lý giải các hiện tượng tự nhiên, các
vấn đề xã hội bằng những câu chuyện dân gian, những câu hát dân gian hay những
lễ hội dân gian. Để từ đó họ thể hiện những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong
cuộc sống.
Như vậy, sáng tác dân gian Việt Nam rất phong phú và đa dạng, có lịch sử
lâu đời, có mối quan hệ gắn bó, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các sáng tác dân
gian của các dân tộc, tạo nên một nền văn học dân gian thống nhất trong đa dạng.
Văn học dân gian là loại hình văn học có sức sống mạnh mẽ góp phần quan trọng
trong nền văn học nước nhà. Bên cạnh những nét chung, tính thống nhất thì các tác
phẩm văn học dân gian của các dân tộc lại có những nét riêng biệt. Văn học dân gian
của người Ngái được hình thành trên cơ sở đó.
1.2.2.2. Cơ sở riêng để hình thành sáng tác dân gian của người Ngái
Văn hóa xã hội mỗi dân tộc đều có những nét khác biệt, biểu hiện ở đời sống
vật chất, tình thần và những nét sinh hoạt của họ. Cũng giống như các dân tộc thiểu
số khác trên dải đất Việt Nam, Dân tộc Ngái có những nét văn hóa đặc trưng độc
đáo, riêng biệt, nó tác động và ghi dấu ấn sâu đậm trong những sáng tác dân gian.
Qua đó, họ thể hiện những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh sâu sắc, cần lưu giữ, bảo
tồn và phát huy những giá trị đó nhất là trong thời điểm hiện nay.
* Văn hóa vật chất
20
Nhà ở: Nhà cửa của đồng bào Ngái có nhiều loại khác nhau, tùy theo môi
trường cư trú, điều kiện kinh tế và ảnh hưởng của các dân tộc cận cư. Các ngôi nhà
truyền thống của đồng bào Ngái vẫn còn lưu giữ ở một số tỉnh như: Cao Bằng, Bắc
Kạn, Thái Ngun… nhưng khơng cịn nhiều. Đó là những ngơi nhà trệt hai mái,
trình tường hoặc xây bằng gạch mộc, nguyên liệu làm nhà từ gỗ, tre, nứa, đất đá. Gỗ
dùng làm cột, kèo, xà, quá giang, tre để làm mái, đất thường dùng để đóng gạch mộc
hoặc trình tường, đất dùng làm ngói lợp mái nhà. Kết cấu khung nhà chủ yếu thuộc
dạng vì kèo tam giác ba cột hoặc vì ba cột nhưng trốn hai cột bên. Với những ngơi
nhà trốn
cột, tường có chức năng chịu lực rất lớn bởi quá giang được gác lên thân tường. Để
liên kết các bộ phận khung nhà, người Ngái sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau,
tường nhà được xây dựng chắc chắn, để liên kết các viên gạch với nhau, người Ngái
không dùng vôi cát mà chỉ dùng đất dẻo làm vữa, mái nhà bằng ngói hoặc lợp tranh
hay lá cọ. Những ngôi nhà truyền thống của người Ngái xưa là tổ hợp kiến trúc gồm
nhà chính để ở, bếp nấu ăn và chuồng trại gia súc, gia cầm. Trong ngơi nhà chính, số
gian bao giờ cũng lẻ, phổ biến nhất là nhà ba gian, chỉ có một số ít ngôi nhà làm
theo kiểu ba gian hai trái hoặc ba gian hai trái lồi ở phía hiên. Hiện tượng này mới
phát sinh sau quá trình giao lưu tiếp xúc với người Sán Dìu và người Kinh. Bố trí
nhà chính của người Ngái có nơi thời cúng tổ tiên, nơi ở. Bếp thường được làm ở
hồi nhà theo kiểu nối gian hoặc vng góc với nhà chính. Trong nhà có bàn thờ gia
tiên đặt ở gian chính giữa, vị trí được coi là trang trọng nhất của ngơi nhà, phía trước
bàn thờ có kê một bộ bàn ghế làm nơi tiếp khách, buồng ngủ của chủ nhà được ngăn
riêng ở gian bên phải, gian bên trái là chỗ ngủ của các thành viên khác trong gia
đình, phía trước là nơi ngủ của khách hoặc các con trai lớn chưa có gia đình riêng.
Sân nhà rộng rãi trồng cây cối. Họ thường xây nhà ở gần nguồn nước, gần trung
tâm buôn bán, giao thông thuận tiện “bộ phận dân cư ở ven biển và hải đảo sống
ngay trên những chiếc thuyền, có thể tập trung thành những làng chài cố định hoặc
di cư theo mùa đánh bắt” [28]. Đối với người Ngái, họ quan niệm rằng nhà cửa có
ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng, sức khỏe, công việc làm ăn của tất cả các thành
viên trong gia đình. Bởi vậy khi làm nhà, người Ngái thường phải xem tuổi có hợp
khơng và cũng là xác định hướng nhà cụ thể. Việc làm nhà bao giờ cũng xem tuổi
người đàn ông chủ nhà. Sau khi hoàn thiện nhà, phải làm lễ về nhà mới và hồi công
thợ. Trong lễ này, chủ nhà