Tải bản đầy đủ (.doc) (144 trang)

Nghiên cứu nhân giống vô tính cây tre ngọt (dendrocalamus brandisii (munro) kurz) tại phú thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.44 MB, 144 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA THANH THUYẾT

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VƠ TÍNH CÂY TRE NGỌT
(Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) TẠI PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên - 2020


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA THANH THUYẾT

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VƠ TÍNH CÂY TRE NGỌT
(Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) TẠI PHÚ THỌ

Ngành : Lâm học
Mã số ngành: 8 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN THỊ THU HÀ
TS. NGUYỄN VĂN THỌ

Thái Nguyên - 2020



i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Luận văn có sử dụng một phần số liệu nghiên cứu từ đề tài: “Nghiên cứu
khai thác và phát triển nguồn gen cây Tre ngọt (Dendrocalamus brandisii
(Munro) Kurz) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc để lấy măng” trong đó tác
giả là cộng tác viên, các số liệu sử dụng trong luận văn này do tác giả trực tiếp
thực hiện và đã được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, các thơng tin trích dẫn
trong luận văn được cảm ơn và chỉ rõ nguồn gốc.
Người cam đoan

Ma Thanh Thuyết


ii

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Nghiên cứu nhân giống vơ tính cây Tre ngọt
(Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz ) tại Phú Thọ” được hồn thành
theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khóa
học K26 của Trường Đại học Nơng lâm Thái Ngun.
Trong q trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và
các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Nhân dịp này tác giả
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới P.GS.TS Trần Thị

Thu Hà và T.S Nguyễn Văn Thọ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng
dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu, hướng dẫn tác giả trong q
trình hồn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin cảm ơn Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung
tâm Bắc Bộ đã tạo điều điều kiện về thời gian và công việc để tác giả theo học
và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và
người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học
tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2020
Tác giả

Ma Thanh Thuyết


3

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC .................................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .....................................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG , BIỂU ............................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH.........................................................................................vii
MƠ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................2
2.1. Mục tiêu tổng quát ...............................................................................................2
2.2. Mục tiêu cụ thể.....................................................................................................2

3. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................2
3.1. Y nghĩa khoa học của đề tài.................................................................................2
3.2. Y nghĩa thực tiễn của đề tài .................................................................................3
Chương 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...........................................4
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ......................................................................4
1.1.1. Nghiên cứu nhân giống tre................................................................................4
1.1.2. Nghiên cứu về cây Tre ngọt..............................................................................8
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ......................................................................12
1.2.1.
Nghiên
cứu
về
kỹ
...........................................................12

thuật

nhân

giống

tre

1.2.2. Nghiên cứu về cây Tre ngọt............................................................................13
1.3. Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu ...............................................................16
1.3.1. Vị trí địa lý .....................................................................................................16
1.3.2.
Địa
hình,
địa

..............................................................................................16

thế

1.3.3. Địa chất, thở nhưỡng.......................................................................................17
1.3.4. Khí hậu, thủy văn............................................................................................17
1.3.5. Hệ thực vật rừng .............................................................................................18
1.3.6. Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội...............................................................19
1.3.7. Đánh giá về những thuận lợi và khó khăn ......................................................22
Chương 2, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......25


4

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .........................................................................25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................25
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................25
2.2. Nội dung nghiên cứu..........................................................................................25
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................25
2.3.1. Cách tiếp cận...................................................................................................25
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu nhân giống Tre ngọt...............................................26
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu ..............................................................................31
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................33
3.1. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng chiết gốc cành ......................................33
3.1.1. Thí nghiệm tạo cành chét................................................................................33
3.1.2. Ảnh hưởng của loại thuốc và nồng độ thuốc kích thích đến khả năng
ra rễ của gốc cành chiết.............................................................................................34
3.1.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra rễ của chiết gốc cành Tre Ngọt ......41
3.1.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến khả năng ra rễ của gốc cành chiết
Tre Ngọt.....................................................................................................................45

3.2. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng giâm hom gốc cành ..............................47
3.2.1. Ảnh hưởng của loại thuốc kích thích sinh trưởng và nồng độ đến khả năng
ra rễ của giâm hom gốc cành Tre Ngọt.....................................................................47
3.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng ra rễ của giâm hom gốc cành
Tre ngọt. ....................................................................................................................52
3.3. Kỹ thuật nhân giống vơ tính Tre ngọt bằng hom thân .......................................55
3.3.1. Ảnh hưởng thuốc kích thích đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom thân. ...............55
3.3.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra rễ của giâm hom thân Tre Ngọt......61
3.4. Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống vơ tính cây Tre ngọt. ......................................65
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VA KIẾN NGHỊ ................................................................68
1.Kết luận ..................................................................................................................68
2.Tồn tại ....................................................................................................................68
3.Kiến nghị................................................................................................................68
TAI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................69
PHỤ LỤC....................................................................................................................1


5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

I
A
I
B
N
A
B
A
N

P
V
ib
C
T
T
B

:
In
:
In
:
N
:
H
:
N
:
T
:
C
:
G


6

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Cơng thức thí nghiệm chiết gốc cành Tre ngọt ................................................... 27

Bảng 3.1. Thí nghiệm tạo cành chét Tre Ngọt.................................................................... 33
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của loại thuốc kích thích và nồng độ thuốc đến khả năng
ra rễ của gốc cành chiết Tre ngọt ở vụ xuân....................................................................... 35
Bảng 3.3. Chất lượng rễ trong các cơng thức thí nghiệm với các loại thuốc
và nồng độ khác nhau ở vụ xuân........................................................................................ 37
Bảng 3.4. Kết quả giâm ươm gốc cành chiết tại vườn ươm (cành chiết vụ xuân)
sau 3 tháng ........................................................................................................................ 40
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của thời vụ và các nồng độ thuốc đến khả năng
ra rễ của chiết gốc cành Tre ngọt ....................................................................................... 41
Bảng 3.6. Chất lượng rễ trong các cơng thức thí nghiệm với các loại thuốc
theo các nồng độ khác nhau ở cả 2 vụ xuân và thu............................................................. 43
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến khả năng ra rễ của gốc cành chiết
Tre ngọt ............................................................................................................................ 45
Bảng 3.8. Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệmvới các loại hỗn hợp ruột bầu
khác nhau.......................................................................................................................... 46
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của loại thuốc và nồng độ đến thời gian ra rễ và tỷ lệ cành ra rễ
giâm hom gốc cành Tre ngọt ............................................................................................. 48
Bảng 3.10. Số lượng chồi và chất lượng rễ trong các cơng thức thí nghiệm
giâm hom gốc cành ở vụ xuân ........................................................................................... 50
Bảng 3.11. So sánh thời gian bắt đầu ra rễ và tỷ lệ ra rễ hom gốc cành vụ thu và vụ xuân.. 52
Bảng 3.12. So sánh chất lượng rễ chồi trong các cơng thức thí nghiệm với NAA
ở các nồng độ khác nhau ở vụ xuân và thu......................................................................... 54
Bảng 3.13. Kết quả giâm hom thân Tre ngọt với các loại thuốc và nồng độ khác nhau....... 56
Bảng 3.14. Chất lượng rễ trong các cơng thức thí nghiệm với các loại thuốc
và nồng độ khác nhau ở vụ xuân........................................................................................ 58
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của tuổi hom đến tỷ lệ ra rễ của Tre ngọt....................................... 60
Bảng 3.16. Chất lượng rễ chồi trong các cơng thức thí nghiệm với các t̉i hom
thân khác nhau. ................................................................................................................. 61
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng ra rễ của giâm hom thân Tre ngọt.......... 61
Bảng 3.18. Số lượng chồi, chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm

với các nồng độ thuốc ở cả 2 vụ xuân và thu ..................................................................... 64


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cây Tre ngọt ...................................................................................................... 15
Hình 1.2. Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất lâm nghiệp huyện Đoan Hùng,
tỉnh Phú Thọ ..................................................................................................................... 24
Hình 2.1 Dụng cụ chiết gốc cành....................................................................................... 26
Hình 2.2 Chiết gốc cành Tre ngọt ...................................................................................... 26
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm với phương pháp giâm hom gốc cành ............................ 29
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm với phương pháp giâm hom thân ................................... 30
Hình 3.1 Biểu đồ ảnh hưởng các phương pháp đốn ngọn đến tỷ lệ cành chét ..................... 34
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của gốc cành chiết ở vụ xuân................................................. 36
Hình 3.3. Chiết gốc cành với các loại thuốc và nồng độ khác nhau .................................... 37
Hình 3.4. Chất lượng rễ gốc cành chiết Tre Ngọt (vụ xuân) ............................................... 39
Hình 3.5. Giâm hom gốc cành chiết tại vườn ươm (vụ xuân) ............................................. 40
Hình 3.6. Biểu đồ so sánh tỷ lệ ra rễ của gốc cành chiết ở cả 2 vụ...................................... 42
Hình 3.7. Chiết cành Tre ngọt với IBA (vụ thu)................................................................. 43
Hình 3.8. Chất lượng rễ gốc cành chiết.............................................................................. 44
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của các hỗn hợp ruột bầu khác nhau ...................................... 46
Hình 3.10. Chất lượng rễ cành chiết ở các hỗn hợp ruột bầu khác nhau ............................. 47
Hình 3.11. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của giâm hom gốc cành ở vụ xuân....................................... 49
Hình 3.12. Giâm hom gốc cành với các loại thuốc và nồng độ khác nhau (vụ xuân) .......... 50
Hình 3.13. Chất lượng rễ giâm hom gốc cành.................................................................... 52
Hình 3.14. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ các công thức thí nghiệm qua mùa vụ khác nhau ................. 53
Hình 3.15. Giâm hom gốc cành vụ thu .............................................................................. 54
Hình 3.16. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của hom thân chiết ở vụ xuân .............................................. 57
Hình 3.17 giâm hom thân trên luống cát ẩm. ..................................................................... 58

Hình 3.18. Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của hom thân ở tuổi cây khác nhau ...................................... 60
Hình 3.19. Biểu đồ so sánh tỷ lệ ra rễ của cành chiết ở cả 2 vụ xuân và thu ....................... 63
Hình 3.20. Xử lý hom thân bằng thuốc kích thích.............................................................. 63


1

MƠ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tre là nguồn tài ngun lâm sản ngồi gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài
nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới và cận nhiệt
đới. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử
dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Nhiều lồi lồi tre trúc cho măng ăn ngon,
đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm sạch có giá trị và có mặt ngày càng nhiều
trên thị trường quốc tế, được nhiều quốc gia ưa chuộng. Hơn nữa, thân khí sinh của
tre trúc được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, làm nguyên liệu giấy và đặc biệt là
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ván ghép thanh, ván sàn,... Ơ Việt Nam, việc
trồng và phát triển tre trúc đã được quan tâm nghiên cứu và mở rộng ra nhiều địa
phương, mang lại nguồn thu nhập thường xuyên và ổn định cho các hộ gia đình, đặc
biệt là người dân miền núi.
Những năm gần đây với sự phát triển kinh tế của đất nước, cùng hội nhập và
mở cửa thị trường, sản phẩm từ tre trúc ngày càng có nhu cầu lớn ở trong nước và
xuất khẩu, đi cùng với nó là yêu cầu chất lượng của các sản phẩm ngày càng khắt khe
hơn trên thị trường. Nhưng, người dân địa phương chỉ với kiến thức kinh nghiệm
trồng rừng theo truyền thống, khơng mang tính sản xuất hàng hóa, trình độ khoa học
kỹ thuật cịn thiếu, canh tác còn lạc hậu nên chưa chọn được các loài tre cho năng
suất cao phù hợp với điều kiện lập địa ở địa phương.
Tre ngọt (Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) là một loài tre đa tác dụng,
ngoài khả năng phịng hộ đầu nguồn Tre ngọt cịn có giá trị kinh tế cao, sử dụng để
làm vật liệu xây dựng (làm nhà), cột thuyền, đồ gia dụng và nguyên liệu giấy, đặc

biệt là măng làm thực phẩm như một loại rau sạch. Măng Tre ngọt lên cao vẫn không
đắng ngay cả ăn sống trở thành một nguồn thực phẩm ưa chuộng. Măng tre đã và
đang là món ăn ưa thích của nhiều quốc gia do có hàm lượng chất béo thấp và giàu
kali, cacbon-hydrat, chất sơ và vitamin, Choudhury và cộng sự, (2012). Hàm lượng
chất dinh dưỡng của măng Tre ngọt rất cao, có 0,49 g đường, 2,31 g Prơ-tít, 4,9 g
cacbon- hydrat, 3,01 g Amino Acid, 4,03 g chất sơ, 1,59 mg VitaminC và 0,42mg
Vitamin E trong 100 gam măng tươi; có hàm lượng Pro-tít, Amino Acid và Vitamin
C cao hơn các loại rau quả khác như Bí đỏ, khoai tây, dưa chuột, cà rốt và cải bắp,
Chongtham


2

và cộng sự, (2011). Đây là một loài thực phẩm sạch, giàu chất sơ rất tốt cho sức khỏe.
Hiện nay, người dân địa phương thường trồng quảng canh, năng suất thấp, mỗi hộ
trồng một số bụi nên khối lượng sản phẩm thấp, chủ yếu sử dụng trong gia đình,
nhiều người chưa biết đến sản phẩm măng của loài tre giá trị này, dựa vào kinh
nghiệm là chính, chưa chú ý đầu tư thâm canh nên năng suất không cao. Hơn nữa,
cho đến nay, chưa có các nghiên cứu về nhân giống và gây trồng loài cây này, người
dân chưa nắm được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm
hom, trong khi nhân giống bằng gốc lại rất hạn chế về số lượng giống do chỉ trồng
được cây non t̉i một và vận chuyển khó khăn do gốc to nên số lượng giống cung
cấp ra thị trường rất ít, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình.
Như vậy, việc nhân giống vơ tính cây Tre ngọt cịn thiếu hướng dẫn kỹ thuật
nhân giống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng. Do đó,
việc kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng đã thành công cho
một số loài tre, đặc biệt là các loài thuộc chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật
nhân giống, gây trồng và tổng kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ
thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Tre ngọt.
Xuất phát từ thực tế trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu nhân giống vơ

tính cây Tre ngọt (Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) tại Phú Thọ” là rất
cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được kỹ thuật nhân giống vơ tính cây Tre ngọt thích hợp để làm cơ
sở xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống vơ tính Tre ngọt áp dụng cho thực tiễn
sản xuất.
2.2. Mục tiêu cụ thê
- Xác định được kỹ thuật nhân giống bằng chiết gốc cành cây Tre ngọt.
- Xác định được kỹ nhân giống bằng hom gốc cành và hom thân cây Tre ngọt.
3. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Y nghĩa khoa học của đê tài
Góp phần bở sung cơ sở khoa học về kỹ thuật nhân giống vơ tính cây Tre ngọt
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.


3

3.2. Y nghĩa thực tiễn của đê tài
Kết quả của đề tài là cơ sở để đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống vơ
tính thích hợp và xây dựng quy trình nhân giống vơ tính đối với cây Tre ngọt trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ.


4

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu nhân giống tre

A.N. Rao và V. Ramanatha, (2000) cho biết nhân giống sinh dưỡng là phương
pháp có hiệu quả với hầu hết các loài tre. Nhân giống bằng giâm hom cành là một
phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương
pháp tốt cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này sử dụng
cho các lồi có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang. Nghiên cứu cũng đánh giá
rằng các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ. Các rễ khí sinh thường
ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm. Khả năng ra rễ
của các loài khác nhau là khác nhau và phụ thuộc vào kích thước của đoạn và độ dày
của vách. Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng
nhiều hơn trong đoạn giâm hom. Tác giả nghiên cứu cho loài Bambusa vulgaris và
đưa ra phương pháp nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn với hom cành 2-3 năm
tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất. Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt
cành, cành được cắt sát ở cổ. Cành cắt được cho vào túi bầu polyethene thích hợp bao
gồm đất ở trên và xơ dừa vụn với tỷ lệ 1:5. Nước được tưới thường xuyên trong thời
gian một tuần sau khi cho vào túi, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời
gian 3-4 tuần sau đó.
China National Bamboo Research Center, (2001) cho thấy: sử dụng hom cành
to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng
10%. Cành sử dụng giâm hom là cành của cây 1 năm t̉i, có trên 2 mắt phía trên của
cành, đường kính cành khoảng trên 1cm, chiều dài cành cắt khoảng 30cm và cắt vát ở
phần trên với góc 45 độ, cành để lại 3-5 lá. Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng sự,
(2000) về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ
t̉i 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm t̉i. Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3
đốt, cành nên được đặt nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên
của cành lên khỏi mặt đất. Luống giâm nên được che phủ bằng lá và tưới nước. Tác
giả cho rằng, nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ khơng hoặc có rất ít
tởn


5


thương cho cây mẹ và khả năng ra măng của nó. Nhân giống có thể thực hiện tốt vào
tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng
cho giâm hom có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí
thấp về giá cả. Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống
cao. Nghiên cứu của China National Bamboo Reaserch Center, (2008) về giâm hom
sử dụng cành cho thấy nên thực hiện vào mùa xuân tháng 3-4 vì nhiệt độ và độ ẩm
tăng, thuận lợi cho tre nảy chồi và măng khơng mọc thời gian này, do đó cây giàu
dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Vào mùa
thu nhiệt độ quá cao và măng đã lên, chất dinh dưỡng kém. Nếu sử dụng cành trong
thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng khơng ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp.
Giâm hom bằng cành nên chọn những cành chính trịn mập, mắt khoẻ từ 3 năm
t̉i, đường kính lớn hơn
1cm ở lóng cành. Đoạn cành được ngâm trong nước hoặc ở nơi râm mát sau khi
ngâm
vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ. Tạo rãnh 30cm và để cành theo khoảng cách
1518 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có lá ra ngồi. Giẫm đất xung quanh và phủ
rơm, tưới nước, mật độ giâm hom là 120.000 – 150.000 cành trên ha.
Razvi và cộng sự, (2015) đã thí ngiệm giâm hom cành lồi Dendrocalamus
giganteus ở Ấn Độ với 3 loại thuốc kích IAA, IBA, NAA ở 3 nồng độ 100, 200 và
500 ppm ở 4 mùa (Xuân, Mùa mưa, mùa thu và mùa đông) cho thấy: Tỷ lệ ra rễ cao
nhất ở công thức đối chứng ở mùa mưa đạt 63,3%, trong các lồi thuốc sử dụng trong
mùa này thì IBA 500ppm đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất là 55,0%. Mùa có tỷ lệ ra rễ cao thứ
2 là mùa xuân với tỷ lệ ra rễ cao nhất ở công thức đối chứng đạt 55,83%, công thức
IBA
500 ppm ở mùa này cao nhất đạt 50,83%. Ơ mùa thu công thức IBA 200 ppm đạt tỷ
lệ ra rễ cao nhất 54,5%, sau đến IBA 500ppm là 45%, cơng thức đối là 44,5, cịn các
cơng thức khác dưới 40%. Ơ mùa đơng, khơng có cơng thức nào có hom cành ra rễ.
Razvi và cộng sự, (2017) thí nghiệm hom cành 2 đốt lồi Dendrocalamus
gigantus dưới điều kiện tự nhiên bằng xử lý thuốc kích thích IAA, NAA, IBA với các

nồng độ 100, 200 và 500 ppm trong thời gian 24 giờ cho thấy: tỷ lệ ra rễ cao nhất
chỉ đạt 40,42% ở công thức đối chứng, sau đến công thức IBA 500 ppm là 37,71%
và thấp nhất ở công thức NAA 500ppm là 28,12%. Hossain và cộng sự, (2018) đã
thí nghiệm giâm hom cành lồi Mạnh tơng (D.asper ) ở Malysia bằng thuốc IBA


6

nồng đồ 2000 ppm, 4000 ppm, 8000 ppm trong thời gian 5 phút và công thức đối
chứng cho thấy: Tỷ lệ ra rễ các công thức rất cao trên 80% ngay cả đối với công
thức đối chứng, cao nhất ở công thức IBA 4000 ppm đạt 95,2% số hom ra rễ.
Victor Cusack, (1997) đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ lệ
thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc
vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân. Ơ phương pháp này,
chọn một cây trưởng thành khoảng 2-3 năm tuổi với các đoạn cắt ở chiều dài 1,5-2 m,
cắt tất cả các cành và lá, có thể để một cành dài hơn ở một số đốt. Đoạn hom thân
được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 150mm, các cành dài để nhô ra khỏi mặt đất,
nước nên được tưới hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3
tuần tiếp theo, và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp. Sau 4 tuần những
cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát
triển và tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là
hom thân
1 đốt hoặc 2 đốt.
A.N. Rao và V. Ramanatha Rao, (2000) nghiên cứu về giâm hom sử dụng hom
thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các lồi tre có
vách dày và kích thước lớn (8-12cm đường kính) như lồi Bambusa blumeata.
Những cây 1 năm t̉i sử dụng phù hợp cho giâm hom, cắt đoạn hom để 1 hoặc 2
đốt. Hom được cắm xuống với một góc 450 và độ sâu 20 cm trong môi trường ra rễ.
Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên. Thực hiện
tưới nước 2 lần/ngày và chồi mới có thể mọc sau 2-4 tuần sau đó. Nước, thuốc chống

nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được ứng dụng trong 6-12 tháng trước khi ra
ngôi. Tuy nhiên, tác giả nhận định phương pháp này là không phở biến vì có chi phí
đắt, thêm vào có sự giới hạn trong sử dụng hom thân 1 năm tuổi, cần đưa thêm cách
nhân giống khác. Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng tác viên, (2000) về nhân giống
bằng hom thân 1 đốt cho thấy, cắt hom có thể thực hiện từ cây 1 hoặc 2 năm tuổi, cây
được cắt khúc để lại 1-2 lóng. Nếu cây mẹ có đường kính 4 cm, có thể cho ra 10 đốt
dùng được và cây mẹ lớn hơn 6 cm có thể duy trì 15-20 đốt. Sau khi chuyên chở đến
vườn ươm, đốt đơn được cắt cẩn thận không làm tổn thương tới mắt. Giữ ở vị trí từ
mắt đốt tới bên phải và bên trái 6-9 cm và tưới nước sau khi phủ cỏ trên luống. Tác
giả cho rằng nhân giống


7

các lồi tre có vách mỏng bằng cắt khúc thường kém thành cơng và khơng hiệu quả vì
vậy khó sử dụng trong mơ hình nhân giống lớn. Nó phù hợp với loại tre có vách dày
và kích thước lớn. Mặc dù rất nhiều mắt đốt có thể nảy mầm nhưng chỉ khoảng 30%
trong số mắt sống sót sau cùng. Cộng sự này còn đưa thêm một phương pháp nhân
giống bằng hom thân có 2 đốt, Loại khúc cắt này được lấy và xử lý tương tự như khúc
một đốt, nhưng nó bao gồm 2 đốt và được vùi trong đất với 2 mắt về bên trái và bên
phải. Nhân giống với 2 đốt có thể làm tỷ lệ sống của cây cao hơn so với loại 1 đốt
nhưng thấp hơn so với toàn bộ cây. Trồng sử dụng đoạn cắt đơn hoặc 2 đốt có thể
khơng được đưa vào với quy mơ lớn vì hiệu quả lao động thấp. Singh và cộng sự,
(2004) đã nghiên cứu nhân giống Dendrocalamus asper ở Ấn Độ bằng hom thân 1
đốt với các loại thuốc IBA, NAA, IAA với nồng độ 2 mM trong 24 giờ cho thấy:
Loài thuốc NAA cho tỷ lệ rễ trung bình của 3 lần giâm hom tháng 4,5,6 là cao nhất
(41,7%), sau đến IBA (34,4%), IAA (33,9%), và thấp nhất ngâm với nước (30,6%).
Tỷ lệ ra rễ cao nhất vào tháng 5 đạt 93,3% với NAA và IAA, còn IBA (86,7%), cơng
thức ngâm nước có tỷ lệ ra rễ cao hơn xử lý thuốc đạt 98,3% nhưng có số lượng rễ ít
hơn hẳn xử lý thuốc kích thích ra rễ. Giâm hom thân vào tháng 4 có tỷ lệ ra rễ thấp

nhất, cao nhất cũng chỉ đạt
33,3% đối với thuốc kích thích NAA và khơng ra rễ khi xử lý thuốc IAA và ngâm với
nước. Gulabrao và cộng sự, (2012) nghiên cứu ảnh hưởng thời vụ đến khả năng ra rễ
của hom thân của 8 loài tre ở Ấn Độ cho thấy: thí nghiệm hom thân 2-3 đốt, khơng sử
dụng thuốc kích thích ra rễ thì tỷ lệ ra rễ cao nhất vào Tháng 3 (mùa xuân), sau đến
tháng 6 (mùa hè), và thấp nhất tháng 8 (mùa mưa). Lồi Dendrocalamus giganteus có
tỷ lệ ra rễ vụ xn (đạt 73,33%) cao hơn hẳn mùa hè (13,33%) và mùa mưa
(13,33%). Cịn lồi D.hamiltonii và có tỷ lệ ra rễ cao nhất ở mùa hè, tương ứng là
56,67% và
53,33%; vụ xuân có tỷ lệ ra rễ thấp hơn 1 chút, tương ứng là 53,33% và 40,0% nhưng
vẫn cao hơn mùa mưa, có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 26,67% và 16,67%.
Fu Maoyi và các cộng tác viên, (2000) cũng đã đưa ra một phương pháp nhân
giống trong đó sử dụng các cây tre non sau khi đã kết thúc sinh trưởng về chiều cao
được chặt phần ngọn để kích thích sự phát triển của mắt, khi mắt đã đủ lớn cây được
ngả xuống luống đã được chuẩn bị sẵn với độ sâu và độ rộng 10-15cm có chứa hỗn
hợp phân bón và đất. Cây ngả được phủ đất với độ dày 2-3cm và phủ tiếp một lớp cỏ


8

khô, thường xuyên tưới nước và giữ ẩm cho đất là yếu tố quan trọng để nhân giống
thành công. Nghiên cứu cũng cho rằng cây nên được ngả vào tháng 2-3, măng sẽ mọc
vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi đạt chiều cao khoảng
120cm đạt tiêu chuẩn trồng rừng. Phương pháp này được tác giả khuyến cáo sử dụng
cho các loài tre có kích thước trung bình.
Ray và Ali, (2016) cho rằng: Sinh trưởng của chồi trong nuôi cấy mô phụ
thuộc vào vị trí và thời gian lấy chồi cũng như lồi cây. BAP được sử dụng rộng rãi
để kết kết hợp với các chất thích ra rễ tạo ra mơi trường nuôi cấy mô. Raju & Roy,
(2016) nghiên cứu nuôi cấy mơ lồi tre Bambusa bambos ở Băng-la-đét cho thấy:
Mơi trường nuôi cấy với 2,5 mg/l IBA và 2,5 mg/l NAA có tỷ lệ ra rễ cao nhất đạt

86,67%, trung bình 8,72 rễ/chồi. Cây con được cấy ra bầu ni lông với hỗ hợp ruột bầu
gồm đất cát và hỗn hợp hữu cơ theo tỷ lệ 1:1:1. Sau đó 1 tháng được chuyển sang bầu
lớn hơn với tỷ lệ đất và hợp chất hữu cơ 1:1 có tỷ lệ sống cao đạt 100%. Ornellas và
cộng sự, (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ BAP đến kết quả nhân giống nuôi
cấy mô Dendrocamaus asper ở Brazil cho thấy: Trong số các nồng độ BAP thí
nghiệm (5, 10,
15, 20 µM) thì nồng độ 15 và 20 µM có hệ số nhân chồi cao nhất.
1.1.2. Nghiên cứu vê cây Tre ngọt
Tre ngọt được Munro, (1868) phát hiện và công bố dựa trên mẫu tiêu bản được
thu tại Pegu (Myanmar) ở độ cao 1200 m so với mực nước biển với tên khoa học là
Bambusa brandisii Munro thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae).
Kurz (1877) đã chuyển loài này vào chi Luồng (Dendrocalamus brandisii (Munro)
Kurz), đã và đang nhiều nhà thực vật thừa nhận sự hợp lý của xử lý này. Munro,
(1868) đã mơ tả lồi này ở Myamar có chiều cao lên đến 36 m, chiều dài lóng từ 6070cm, lá dài
25 cm, rộng 4,5 cm và có 24 gân thứ cấp. Gamble (1896) cũng giới thiệu, đây là loài
tre lớn thường xanh, mọc cụm. Thân có màu xám tro hoặc xám xanh, cao 18-36m,
đường kính 13-20 cm, lóng thân dài 30-38cm, lá 15-46 cm, rộng 4,5 – 12,7 cm.
Hooker, (1897) mô tả D.brandisii có chiều cao 18-30m, đường kính 13-20 cm, lóng
dài 30-38 cm, lá có 10-12 đơi gân thứ cấp. Hsueh & Li, (1996) và Li & Stapleton,
(2006) mô tả tre ngọt tại Trung quốc có chiều cao 10-15 m, đường kính 10-12 cm,
chiều dài lóng 34 – 43 cm, lá dài 23-30 cm, rộng 2,5-5,0 cm. Ohnberger, (1999) đã


9

giới thiệu ngắn gọn về loài này và cho rằng lồi này cao đến 30 m và đường kính đạt
20 cm. Wiswanath và cộng sự, (2013) cho rằng trong điều kiện thích hợp nhất
D.brandisii có thể đạt chiều cao 25 – 30 m, đường kính 13 -30 cm, vách thân khí sinh
dày 2,5-4 cm, lóng dài 30-38 cm, vịng rễ ở mẫu lên đến nửa dưới của thân khí sinh,
đây lồi tre thẳng, khơng có gai.

Tewari, (1993) khẳng định D.brandisii có phân bố ở Andaman và Manipur
(Ấn Độ), ở độ cao lên đến 1300m, đã được trồng ở Vườn thực vật Calcutta, ở
Karnataka, Coorg, Asoga và Kerala (Ấn Độ). Dransfield & Widjaja, (1995) xác nhận
D.brandisii có phân bố rừng thường xanh nhiệt đới ẩm, lên đến độ cao 1300m. Ơ
Myamar thường thấy ở núi đá vơi nhưng lồi này cũng sinh trưởng tốt ở nơi đất pha
sét thoát nước. Đây là một trong những loài tre to nhất khỏe nhất cho làm vật liệu
xây dựng. Tuy nhiên, cần điều tra đặc điểm sinh thái, phương pháp canh tác, đặc tính
lý hóa tính, xử lý bảo quản. Việc thu thập nguồn gen của cây này là yêu cầu cấp
thiết. Hsueh & Li, (1996) cho rằng lồi này có phân bố ở tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc) ở độ cao từ 600-2000m so với mực nước biển. Li & Stapleton, (2006) cho
biết Tre ngọt được trồng ở quanh làng thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và cũng
được trồng ở Ấn Độ và khẳng định đây là loài cây bản địa của Lào, Myanmar, Thái
Lan và Việt Nam. Ohnberger, (1999) cho rằng loài này phân bố ở rừng nhiệt đới
thường xanh mưa ẩm, ở độ cao lên đến
1300 m so với mực nước biển, có khả năng sinh trưởng trên nhiều lồi đất khá nhau
nhưng thích hợp trên đất sét pha thốt nước tốt. Phân bố ở vùng đông bắc và đảo
Andaman của Ấn độ, ở Myanmar thấy ở các quả đồi từ vùng Kachin đến Tavoy ở độ
cao lên đến 1200m, ở phía bắc của Thái Lan ở độ cao từ 1000 đến 1300 m, ở Lào,
Bắc Việt Nam và ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trên độ cao từ 380 đến 1900m so
với mực nước biển. Phân bố lên đến độ cao 1300 m ở Ấn độ, 1200m Myamar, từ 600
đến
2000 m so với mực nước biển ở Trung Quốc, Munro, (1868); Gamble, (1896);
Tewari, (1998), Geng & Wang, (1996). Li & Stapleton, (2006) cho rằng Tre ngọt là
cây bản địa của Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và được trồng quanh làng ở tỉnh
Vân Nam (Trung Quốc). Ohrnberger, (1999) cho rằng: loài này có phân bố ở vùng
đơng bắc của Ấn Độ, từ các quả đồi vùng Kachin đến Tavoy thuộc Myanmar, độ cao
lên đến 1200 m, vùng phía bắc của Thái Lan ở độ cao 1000 -1300 m, Lào, Bắc Việt
Nam và tỉnh



10

Vân Nam của Trung Quốc ở độ cao 380 – 1900 m.Tre ngọt có phân bố trong rừng
nhiệt đới thường xanh mưa ẩm, thường thấy lên đến độ cao 1300m, sinh trưởng nhiều
loại đất khác nhau và thích hợp với đất sét pha và thoát nước tốt Ohrnberger, (1999).
Wiswanath và cộng sự, (2013) xác định lồi này (D.brandisii) có phân bố ở rừng
nhiệt đới ẩm thường xanh, chủ yếu ở các dãy núi đá vôi lên đến độ cao 1300m và là
lồi cây bản địa từ đơng bắc Ấn độ, Myanmar, Bắc Thái Lan, Đông Dương và tỉnh
Vân Nam của Trung Quốc.
Tewari, (1993) cho rằng D.brandisii được sử dụng để làm nhà, đan lát và trang
trí, măng thường được sử dụng làm thực phẩm ở Thái Lan. Tre ngọt được sử dụng
nhiều mục đích khác nhau. Thân được sử dụng trong xây dựng, làm cột cờ, cột buồm,
đồ dùng trong gia đình, dung cụ ở trang trại, đựng nước, rở rá, đồ thủ cơng và làm
giấy. Cịn măng được sử dụng làm thực phẩm như một loại rau Ohnberger, (1999).
Arinana và cộng sự, (2008) khi nghiên cứu về lâm sản ngồi gỗ tại phía Bắc Thái
Lan cho rằng D.brandisii là một trong 7 loài quan trọng trồng để lấy măng, trong đó
có 3 lồi thuộc chi Luồng (D.asper, D.brandisii, D.strictus).Tre ngọt có chiều dài sợi
gỗ ở mức trung, có chiều dài sợi gỗ là 1846 m, Wiswanath và cộng sự, (2013), dài
hơn
một số loài trúc Phyllostachys edulis (1500 m ) một lồi tre cung cấp ngun liệu
chủ
yếu cho cơng nghiệp chế biến tre của Trung Quốc, Ph.pubescens (1300 m), nhưng
ngắn hơn các loài Dendrocalamus giganteus (3200 m), D.membranaceus (3200m)
và dài hơn sợi gỗ của các loài bạch đàn (chỉ từ 960 – 1 040 m) Mustafa và cộng sự,
(2011). Wang và cộng sự, (2016) xác định được chiều dài sợi trung bình của
D.brandisii là 2530 m (chiều dài tối đa là 6410 m, tối thiểu là 820 m), ngắn hơn
hơn các loài Bambusa tulda (3000m), Dendrocalamus giganteus (3200 m) nhưng
dài hơn Phyllostachys edulis (1500 m ), B.vulgaris (2300 m ) và tỷ lệ chiều dài
trên đường kính sợi gỗ là 154,63 ±8,56 m (tối đa đạt 680,10 m) và khẳng định
đây là loài tre sợi dài, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn làm giấy. Ngồi ra, thành phần

holocellulose
chiếm 72,52±0,42%, axít lignin khơng hịa tan là 28,72 ±0,93%, axít lignin hịa tan là
2,95±0,04%. Thành phần holocellulose của D.brandisii cao hơn các loài tre khác như
Bambusa
wenchouensis
Dendrocalamus

(41,04%),

Phyllostachys

pubescens

(71,70%),


11

latiflorus (41,04%) và Fargesia yunnanensis (từ 57,59% đến 74,30%) và thích hợp
làm giấy in báo.
Ruan và cộng sự, (2010) đã phân tích đa dạng di truyền của 84 bụi tre
D.brandisii thuộc 6 quần thể ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) dựa trên chỉ thị phân tử
ISSR sử dụng 80 mồi cho thấy: chỉ số đa dạng gen Nei (H) trung bình là 0,0507 và
chỉ số thơng tin Shannon trung bình là 0,0742. Chỉ số đa dạng Nei giữa các quần thể
khá cao, đạt là 84,27%. Tuy nhiên, khơng có mối liên sai khác gen giữa các vị trí địa
hình trong một quần thể.
Wiswanath và cộng sự, (2013) cho rằng: Hạt cả vỏ của D.brandisii có trọng
lượng 2.72 ±0,12 g/100 hạt, bóc vỏ có trọng lượng 2.38 ±0,13 g/100 hạt. Tỷ lệ nảy
mầm của hạt đạt trên 90% trong 10 ngày khi ươm trên giấy lọc ẩm để trong đĩa Petri.
Các thí nghiệm giâm hom thân, cành và cành ra rễ đối với các thuốc kích ra rễ IAA,

IBA, NAA và NOA của Viện khoa học và công nghệ gỗ của Ấn Độ cho thấy: Trong
3 loại hom giâm thì hom cành có rễ là tốt nhất và sử dụng dung dịch IBA nồng độ
2500 ppm trong 30 phút là tốt nhất cho ra rễ và chồi đối với hom cành có rễ. Cành có
rễ to, có đường kính 1.5-2,5 cm ra chồi trong vòng 1 tuần và 75% số hom ra trong
vòng 45 ngày khi xử lý thuốc IBA 2500 ppm trong 30 phút. Mùa vụ tốt giâm hom là
vào tháng 6 – 7. Nuôi cấy mô D.brandisii từ chồi của cây trưởng thành sử dụng môi
với các chất Ascoric acid 50 mg/lít + Citric acid 25 mg/lít, Auxin NAA 0,1-0,25
mg/ít và Cytokinins (BAP 2,5-7,5 mg/lít) và TDZ 0,1-1,0 mg/lít) ở nhiệt độ 250C và
cường độ chiếu sáng 2500 lux trong 12 giờ sẽ phản ứng sinh trưởng chồi 3 tuần đầu
tốt nhất. Sử dụng tiếp môi trường 3% đường Sucrooza + 0,1 mg/l NAA +
Cytokinins (Kn 2,5-10,0 mg/lít, BAP 1,0-10,0 mg/lít và TDZ 0,05-1,0 mg/lít) sẽ
tạo ra hệ số nhân cao nhất (3-4 lần). Tiếp theo cấy vào môi trường agar gel với 3%
đường Sucroza + 2,0 mg/lít IBA sẽ có tỷ lệ ra rễ 100% trong vịng 4 tuần. Cây
giống 6 tháng tuổi được trồng thử nghiệm với cự ly 5 x 5 m vào tháng 6,7 năm
2009 đến năm 2010 đã đạt được chiều cao 9,5-10 m và sinh ra 6,5-7 cây.
Dransfield & Widjaja, (1995) cho rằng giống gốc D.brandisii gồm thân ngầm và
một đoạn thân khí sinh được trồng vào trước hoặc trong mùa mưa. Hom thân đã
được giâm thành


12

công ở Ấn Độ, bằng cách lấy một đoạn gồm có đốt giâm ngang dưới mặt đất tuy
nhiên sinh trưởng của măng chậm, trong 3 năm chiều cao tối đa mới đạt 2m.
Wiswanath và cộng sự, (2013) đã phân tích hiệu quả kinh tế của 3 mơ hình
trồng D.brandisii tại huyện Coorg, tỉnh Karnataka (Ấn độ) trồng thuần loài cự lý 6
x 6m, trồng xen gừng cự ly 6 x 6 m, trồng xen gừng cự ly 6 x 10m cho thấy: mơ
hình D.brandisii xen gừng cự ly 6 x 6 m có chỉ số NPV cao nhất, đạt 497.517,94
Rupi/ha (tương đương 166,8 triệu đồng/ha).
Pandey và cộng sự, (2008) đã tính tỷ lệ ăn được của măng 12 lồi tre khi có

số bẹ mo và phần tận cùng của măng như nhau thì măng D.brandisii đứng thứ 3, có
32,61% ăn được, chỉ xếp sau măng to D.hamiltonii (45,75%) và D.longispathus hơn
các loại măng của các loài khác như D.strictus (20,9%), măng các lồi thuộc chi tre.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Nghiên cứu vê kỹ thuật nhân giống tre
Theo Nguyễn Ngọc Bình, (2001) phương pháp nhân giống Luồng bằng hom
gốc, giống chét đơn giản, không phải qua khâu giâm ở vườn ươm, tỷ lệ sống cao, khả
năng sinh trưởng mạnh, giảm chi phí vận chuyển, nhanh cho măng từ những năm đầu
tiên. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là tốn nhiều công để đánh gốc, hệ số
tạo giống thấp nên chỉ áp dụng trong phạm vi hộ gia đình và trồng ở nơi đang cịn
tính chất đất rừng.
Nghiên cứu nhân giống hom thân có chồi ngủ đối với Luồng của Trần Nguyên
Giảng và cộng sự, (1981) cho thấy tiêu chuẩn chọn cây mẹ để tiến hành cắt hom từ 8
– 16 tháng t̉i, cây đã có đủ cành lá, thân màu xanh; cắt hom dài 30 - 40cm có 2 - 3
chồi ngủ (mắt cua) to khỏe, khơng bị thối. Ươm hom vào tháng 7, 8 có sử dụng thuốc
kích thích 2,45T với nồng độ 20- 60mg/1 lít nước nhưng chưa thấy có hiệu quả.
Lê Quang Liên, (2001) đã nghiên cứu nhân giống Luồng Thanh Hóa bằng
chiết cành đưa ra kết luận Luồng có thể nhân giống bằng cành, phương pháp chiết
cành bằng hỗn hợp bùn rơm có tỷ lệ ra rễ 97,5% là phương pháp dễ áp dụng có hiệu
quả. Bộ NN&PTNT, (2000) ban hành Quyết định số 05/2000/QĐ-BNN-KHCN về
quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác Luồng có nêu: Việc gây trồng có thể bằng
giống gốc, hom thân, hom chét hoặc cành chiết; trong đó phương pháp nhân giống
bằng cành chiết là


13

hiệu quả nhất, khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp nhân giống
khác, đảm bảo đủ số lượng giống trên quy mô lớn và dễ dàng trong việc quản lý chất
lượng giống trước khi đem trồng.

Lê Văn Thành, (2013) đã thí nghiệm giâm hom cành Bương mốc 1 năm tuổi
cũng cho tỉ lệ ra rễ cao hơn và chất lượng rễ tốt hơn giâm hom cành 2-3 năm tuổi.
Thuốc IBA nồng độ 2.000 ppm giâm hom cành Bương mốc cho tỉ lệ ra rễ cao nhất,
số lượng rễ nhiều nhất và chiều dài rễ lớn nhất. Nguyễn Thị Tảo, (2013) cho rằng:
thí nghiệm nhân giống bằng phương pháp chiết hay giâm hom sử dụng chất điều hoà
sinh trưởng NAA với nồng độ 1500ppm và 2000ppm là cho tỷ ra rễ cao nhất 100%.
Đặng Thị Thu Hà và cộng sự, (2016) Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây
Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) bằng phương pháp chiết cành.
Các công thức thí nghiệm chiết cành cây Bương lơng có sử dụng chất kích thích ra
rễ cho kết quả cao hơn so với công thức đối chứng không dùng thuốc. Trong đó
cơng thức IBA (Indole Butyric Acid) ở dạng thuốc bột nồng độ 1,5% cho tỷ lệ cây
ra rễ cao nhất sau 28 ngày đạt 90 ÷ 91,1 % và chất lượng rễ của cành chiết tốt nhất.
1.2.2. Nghiên cứu vê cây Tre ngọt
Tre ngọt ở Việt Nam đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như Camus,
(1913); Camus & Camus, (1923); Phạm Hoàng Hộ, (1999); Nguyễn Hoàng Nghĩa,
(2005); Nguyễn Văn Thọ, (2012). Camus, (1913) là người đầu tiên ghi nhận
D.brandisii có phân bố ở Việt Nam (Miền Bắc – Long-tchéou) và mơ tả lồi này là
loại tre lớn, cao đến 30m, đường kính 12-20 cm, lóng thân dài 30-36 cm, lá dài 22-30
cm, lá lớn có thể dài 25-50 cm, có 10-12 đơi gân thứ cấp. Camus & Camus (1923)
ghi nhận có phân bố ở địa điểm trên và thung lũng Mộc Hà (tỉnh Quảng Ninh), nêu
tên địa phương của loài này là Mây hột (laotien) cho rằng lồi này cao 15-30m,
đường kính
12-20 cm, chiều dài lóng từ 30-45 cm, lá dài 22-30cm, rộng 2,5-5 cm, có 10-12 đơi
gân thứ cấp. Phạm Hồng Hộ, (1999) ghi nhận lồi này có ở Hà Sơn Bình nhưng
khơng nói rõ địa điểm và ở rừng tự nhiên hay trồng và mô tả Tre ngọt cao hơn 10m,
lá thuôn và dài đến 30cm, rộng 5-7 cm. Nguyễn Hoàng Nghĩa, (2005) ghi nhận loài
này được trồng một số bụi ở Cầu Hai, nguồn giống từ hạt được nhập từ Thái Lan, gọi
là Luồng Thái Lan và mơ tả lồi này như sau:là lồi tre mọc cụm, có kích thước lớn,
cao 15-20



14

m, đường kính 10-13 cm, lóng dài 17-18 cm, lá dài 13-14 cm, rộng 1,2-1,4 cm. Măng
ra vào mua mưa, từ tháng 6 đến tháng 9. Nguyễn Văn Thọ, (2012) xác định
D.brandisii có ở Cầu Hai (Phú Thọ) và Mộc Hà (Quảng Ninh) dựa trên các mẫu tiêu
bản trực tiếp thu và kiểm tra ở bảo tàng thực vật và cũng mơ tả lồi Luồng Thái
Lan, cây có chiều cao 14-16 m, đường kính 10-14 cm, lóng dài 24-34 cm, lá dài
20-25 cm, rộng
1,1-2,5 cm.
Thân Tre ngọt được sử dụng để đan lát và măng được sử dụng làm thực phẩm
(Camus & Camus, 1923). Thân của loài này được sử dụng để xây dựng (làm nhà), đồ
gia dụng, đồ thủ cơng và làm giấy. Cịn măng được sử dụng làm thực phẩm như một
loại rau Nguyễn Văn Thọ, (2012).
Nguyễn Viễn và cộng sự, (2018) Kiến thức bản địa về nhân giống, gây trồng,
khai thác, bảo quản và sơ chế măng tre ngọt. Tre ngọt được nhân giống tại một số
tỉnh miền núi phía bắc chủ yếu bằng phương pháp nhân giống gốc, phương pháp này
có hệ số nhân giống thấp, thời vụ ngắn, không thể đáp ứng cho trồng rừng quy mô
lớn. Thời vụ nhân giống và trồng rừng từ tháng 2 đến tháng 4 ở Phú Thọ và Lào Cai
và tháng 6 đến tháng 7 ở Lai Châu và Điện Biên. Các kỹ thuật gây trồng đã được áp
dụng với Tre ngọt như trồng đứng hoặc nghiêng, tưới nước giữ ẩm, phát chăm sóc,
xới vun gốc, bón phân và chặt tỉa cây già, tuy nhiên tại các tỉnh miền núi người dân
chủ yếu trồng quảng canh, chưa chú trong thâm canh và chăm sóc cây thúc đẩy sinh
trưởng ra măng sau khi trồng. Măng tre ngọt có giá trị kinh tế và hàm lượng dinh
dưỡng cao nên được dùng để ăn tươi trong gia đình hoặc để bán trực tiếp ra thị
trường. Ngồi ra người dân cịn bảo quản măng bằng các hình thức măng khơ, măng
chua, măng gio.
Nguyễn Văn Thọ và cộng sự, (2019) Một số đặc điếm sinh vật học của cây tre
ngọt tại một sổ tỉnh miền núi phía Bắc. Tre ngọt được trồng ở 23 xã thuộc 11
huyện/thị xã của 4 tỉnh (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Phú Thọ) có 393 bụi, chưa

phát hiện thấy Tre ngọt phân bố tự nhiên. Biên độ sinh thái của Tre ngọt khá rộng từ
độ cao 50 m đến 1.600 m. Tre ngọt là lồi tre có kích thước lớn, đường kính trung
bình (D5) từ
6,8 - 12,3 cm, lớn nhất đạt 19,2 cm; chiều cao trung bình (Hvn) từ 12,4 - 20,8 m, cao
nhất đạt 26 m. Mỗi bụi có từ 9,8 - 21,5 cây/bụi, cây 1 - 2 tuổi chiếm trên 50% số cây.


15

Hệ số sinh măng khá thấp từ 0,67 - 1,36, trung bình cây 2 t̉i chỉ sinh khoảng 1
măng.


16

Thời vụ sinh măng từ tháng 4 - 9 hằng năm, nhưng vụ chính từ tháng 6 đến đầu tháng
8 chiếm hơn 50% số măng. Mỗi bụi trung bình có thể sinh từ 14 - 19,8 măng/năm. Số
măng chế trong năm từ 3,4 - 4,6 măng/bụi, măng chết chủ yếu từ tháng 7 - 9. Cây 1
tuổi ra măng nhiều nhất, dao động từ 1,8 - 2,6 măng/cây mẹ; cây 2 t̉i ra măng ít
hơn chỉ từ 1,3 - 2,5 măng/cây mẹ; cịn cây 3 t̉i rất ít, chỉ 0,2 - 0,4 măng/cây mẹ, cây
từ 4 tuổi trở lên không có khả năng ra măng. Từ khi nhú lên khỏi mặt đất, khoảng 20
ngày sau đường kính măng đạt kích thước tối đa, khoảng 133 ngày thì măng đạt
chiều cao ổn định (chưa có cành và lá), 140 ngày măng mở mo nang, 168 ngày măng
ra cành, đến 245 ngày cành ra lá và định hình thân khí sinh. Cành chính rất ít trung
bình chỉ có
1 - 2 cành/cây và thường ra từ đốt 18 - 21 tính từ mặt đất.

Hình 1.1. Cây Tre ngọt
Nguyễn Văn Thọ và cộng sư, (2019) Phân tích đa dạng di truyền quần thể Tre
ngọt (Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) ở một số tỉnh miền núi phía bắc dựa

trên chỉ thị phân tử ISSR. Tính đa dạng di truyền của loài Tre ngọt ở một số tỉnh phía
Bắc thể hiện cao nhất ở quần thể Lai Châu (Na = 1,212; Ne = 1,204; I = 0,184; He =
0,122 và PPB = 36,45%) và thấp nhất ở quần thể Điện Biên (Na = 0,813; Ne =
1,086; I = 0,074; He = 0,050 và PPB = 13,79%). Sự khác biệt di truyền giữa các
quần thể Tre ngọt nghiên cứu tương đối cao (Gst = 0,7668). Biểu đồ hình cây thể
hiện mối


×