1. Hàng hóa sức lao động
1.1 Khái niệm về hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa . mãn nhu cầu nào đó của con
người, thơng qua trao đổi, mua bán.
1.2 Sức lao động là gì?
Theo C.Mác :"Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực
thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể trong một con người đang sống và
được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào
đó”
Tuy nhiên rất dễ nhầm lẫn giữa sức lao động và lao động. Sức lao động là khả
năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất
và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới
chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện
thực (Wikipedia).. VD ta có một người cơng nhân may có đủ sức khỏe và khả
năng làm cơng việc may tại cơ sở thì được hiểu là sức lao động của người này
còn lao động được hiểu như khi người công nhân này dùng khả năng, cơng
sức, sự tập trung của mình trong 8h làm việc để hồn thành năng suất đặt ra.
1.3 Hàng hóa sức lao động là gì?
Hàng hóa sức lao động là 1 dạng hàng hóa đặc biệt, nó có những tính chất và
giá trị khác hoàn toàn so với các loại hàng hóa bình thường. Hàng hóa sức lao
động là việc người lao động đem sức lao động của bản thân xem như 1 loại
hàng hóa để trao đổi nên chỉ được bán quyền sử dụng không được bán quyền
sở hữu, chỉ được bán tạm thời không được bán vĩnh viễn vì nếu bán quyền sở
hữu vĩnh viễn tương đương việc họ bán 1 con người cho người sử dụng lao
động đây là điều trái pháp luật.
Và không như những loại hàng hóa khác sẽ hao mịn theo thời gian, hàng hóa
sức lao động sẽ càng có giá trị theo thời gian sử dụng. Càng sử dụng thì người
lao động càng tích lũy được kinh nghiệm, nâng cao tay nghề, năng suất lao
động cũng sẽ càng cao hơn.
Trong quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động có khả năng tạo ra một lượng
giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Ví như 1 nghệ nhân chế tác mỹ nghệ tạo
ra 1 tuyệt tác từ 1 khúc gỗ, và nó được bán với giá $1,000, nếu khúc gỗ khơng
được nghệ nhân trên sử dụng để chế tác thì nó vẫn chỉ là 1 khúc gỗ không đáng
giá, ở đây người nghệ nhân đã dùng sức lao động của bản thân để tạo ra 1 giá
trị mới cho khúc gỗ kia
Cuối cùng, giá trị của hàng hóa sức lao động khác với loại hàng hóa thơng
thường ở chỗ nó bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Nó gồm 3 bộ phận
hợp thành: liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động; Chi phí đào tạo người
lao động; Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cho gia đình người lao
động.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Một, người lao động hồn tồn tự do về thân thể, có khả năng chi phối sức
lao động của mình.
Hai, người chủ sức lao động khơng có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để có thể
bán những hàng hố trong đó lao động của anh ta kết tinh.
2. Sản xuất giá trị thặng dư
2.1 Giá trị thặng dư là gì:
Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính
trị Karl Marx. Karl Marx đã nghiên cứu và đưa ra một số cơng thức tính
tốn xung quanh khái niệm này trong các tác phẩm viết về kinh tế chính trị
của ơng, tiêu biểu như tác phẩm “ Tư bản”. Giá trị thặng dư còn được biết
qua khi C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan
niệm là con đẻ của tồn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là
lợi nhuận”. Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra khi lấy mức thu của một đầu
vào nhân tố trừ đi phần giá cung của nó.
2.2 Sản xuất giá trị thặng dư
Nhắc đến sản xuất giá trị thặng dư thì sẽ phải nhắc đến chủ nghĩa tư bản, vì
nó quy định bản chất nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời
sống kinh tế của xã hội tư bản. Theo Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là
quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở đâu có sản
xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ở đâu có chủ
nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất giá trị thặng dư. Lênin gọi quy luật giá trị
thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
3. Thơng qua nghiên cứu về hàng hóa sức lao động và giá trị sản xuất thặng dư ta
hiểu rõ hơn về nguồn gốc của giá trị thặng dư
Mác đã nghiên cứu giá trị thặng dư dưới góc độ hao phí lao động, trong đó
cơng nhân sản xuất ra nhiều giá trị hơn chi phí trả cho họ – yếu tố bị quy
định bơi mức tiền lương tối thiểu chỉ đủ để đảm bảo cho họ tồn tại với tư
cách người lao động.
Để có được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đến một trình độ
nhất định. Trình độ đó phản ánh, người lao động chỉ phải hao phí một phần
thời gian lao động (trong thời gian lao động đã được thỏa thuận mua bán
theo nguyên tắc ngang giá) là có thể bù đắp đƣợc giá trị hàng hóa sức lao
động. C.Mác gọi bộ phận này là thời gian lao động tất yếu.
Ngoài thời gian tất yếu đó, vẫn trong nguyên tắc ngang giá đã thoả thuận,
người lao động phải làm việc trong sự quản lý của người mua hàng hóa sức
lao động, và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, thời gian đó là
thời gian lao động thặng dư.
VD: 1 người chủ công ty sản xuất giày thuê 1 người công nhân 1tháng
$200 làm 8h/ ngày, nguyên vật liệu và các chi phí khác người chủ bỏ ra
thêm $300, số nguyên vật liệu đủ để làm được 3 đôi giày mỗi đơi bán được
$200.Người cơng nhân hồn thành 3 đơi giày trong 6h, tính trung bình mỗi
2 tiếng người cơng nhân này làm đc 1 đơi. Tổng chi phí người chủ này bỏ
ra là 500$.Và sau 6h làm việc người chủ thu về $600 Giá trị thặng dư
trong trường hợp này là số tiền dôi ra $100 ($600 - $500) + thành phẩm
trong 2h làm viêc của người cơng nhân sẽ là giá trị thặng dư và tồn bộ quá
trình trong việc này được xem là giá trị sản xuất thặng dư
Sở dĩ được gọi là dôi ra vì người lao động chỉ cần một phần nhất định thời
gian hao phí sức lao động đã được thỏa thuận theo nguyên tắc ngang giá là
đã đủ để bù đắp giá trị hàng hóa sức lao động của mình. Thoả thuận này
được phản ánh ở một bản hợp đồng lao động giữa ngƣời mua và ngƣời bán
hàng hóa sức lao động. Tất nhiên, trên thực tế trong nền kinh tế thị trường,
thỏa thuận này rất khó đạt được mức ngang giá, nghĩa là tiền công của
người bán sức lao động rất khó phản ánh lượng giá trị đầy đủ như ba yếu tố
cấu thành nêu trên.
Lưu ý, trong ví dụ này, C.Mác đã giả định người mua sức lao động là nhà
tư bản với tư cách là chủ sở hữu thuần tuý để phân biệt với người lao động
làm thuê. Trong trường hợp việc quản lý doanh nghiệp cũng do người lao
động được thuê thì giá trị mới là do lao động làm th mà có.
Cịn trong trường hợp người mua hàng hóa sức lao động cũng phải hao phí
sức lao động dưới dạng quản lý thì giá trị mới đó cũng có sự đóng góp một
phần từ lao động quản lý với tư cách là lao động phức tạp. Trên thực tế, đa
số người mua sức lao động cũng phải tham gia quản lý và hao phí sức lao
động.
4. Lý luận về giá trị thặng dư của C.Mac đã chỉ ra sự bất công ẩn giấu sau sự tự
do bình đẳng trên thị trường
Theo quan điêm chủ quan của bản thân mình, tơi cảm thấy quan điểm của C.
Mac về sự bất công được rút ra từ giá trị thặng dư đã chỉ ra được sự bất công
giữa người sử dụng lao động và người lao động. Tại thời điểm lịch sử khi nền
tư bản chủ nghĩa cịn thơng trị, tự do con người còn bị ràng buộc bởi áp bức
bốc lột và sự thiếu thốn nghèo đói, người lao động dễ thỏa hiệp với sự bóc lột
của giai cấp tư bản thời bấy giờ nên cũng tạo điều kiện cho việc bốc lột sức lao
động của con người trở nên phổ biến.
Tuy nhiên với tình hình hội nhập của đất nước ta cũng như trên toàn thế giới,
người lao động dần chủ động hơn trong việc yêu cầu quyền lợi và khả năng
đánh giá được năng lực của bản thân. Hơn nữa việc bảo vệ quyền lợi cho người
lao động cũng được Nhà Nước đặc biết quan tâm qua các bộ luật bảo vệ người
lao động