Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

ĐẠI-HỌC-QUỐC-GIA-TP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.86 KB, 28 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
---------------o0o---------------

BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN
MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC
CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM
GVHD: Đào Thị Bích Hằng
Lớp: A01
STT

Họ và tên

Nhóm: 05
MSSV

1

Trần Diệp Gia Huy

1812520

2

Trần Vĩnh Khang

1812564


3

Vũ Hồng Nhĩ Khang

1812569

4

Võ Thị Kim Khánh

1810233

5

Nguyễn Hữu Minh Khôi

1700059

6

Trương Huỳnh Trung Kiên

1812712

1


BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 5


ST
T

Họ và tên

MSSV

Nhiệm vụ

Kết quả Chữ ký

181023
3

Phần kết luận + tổng
hợp và chỉnh sửa.

Hoàn
thành tốt

1.

Võ Thị Kim Khánh

2.

Trương Huỳnh Trung Kiên 181271
2

Sự ra đời của Đảng

cộng sản Việt Nam.

Hồn
thành tốt

3.

Nguyễn Hữu Minh Khơi

170005
9

Mở đầu.

Hoàn
thành tốt

4.

Vũ Hoàng Nhĩ Khang

181256
9

Phong trào yêu nước
theo hệ tư tưởng vơ
sản.

Hồn
thành tốt


5.

Trần Vĩnh Khang

181256
4

Bối cảnh Việt Nam
vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX.

Hoàn
thành tốt

6.

Trần Diệp Gia Huy

181252
0

Phong trào yêu nước Hoàn
theo hệ tư tưởng
thành tốt
phong kiến và tư sản.

NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên)

2



MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do nhóm 5 chọn đề tài ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – QUÁ TRÌNH
SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM là bởi vì đó là
một cột mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời
kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước.Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông
qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy
nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội, giải phóng con người.Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường
lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức
lãnh đạo cách mạng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương coi cách mạng Việt Nam là một bộ
phận của phong trào cách mạng thế giới đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách
mạng thế giới, đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại và đã làm nên
những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự
nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hồ bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã
hội.
Tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, biết ơn và tin yêu
Đảng, toàn thể đảng viên, cán bộ viên chức, sinh viên Trường Đại học Bách Khoa hôm
nay không ngừng ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, đẩy
mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng
Đảng bộ Nhà trường thành một tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo chính
quyền và các tổ chức đoàn thể xây dựng Nhà trường thành một cơ sở giáo dục đại học
3



phát triển, góp phần tích cực vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chung
tay xây dựng quê hương, Đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, như sinh thời Bác Hồ
hằng mong ước.

4


PHẦN NỘI DUNG

I.

Bối cảnh lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.1. Bối cảnh thế giới:
Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
(chủ nghĩa đế quốc). Các đế quốc đua nhau xâm lược các nước châu Á, châu Phi và Mỹ la
tinh. Sự xâm lược và bóc lột thực dân làm cho nhân dân các thuộc địa rất khổ cực. Mâu
thuẫn giữa các đế quốc với các dân tộc thuộc địa và mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau
rất gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sơi nổi ở các nước thuộc địa.
Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 1918); để lại cho nhân dân thế giới những hậu quả rất nặng nề (khoảng 10 triệu người
chết và 20 triệu người tàn phế do chiến tranh). Đồng thời cũng đã làm cho chủ nghĩa tư
bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc càng tăng thêm. Tình hình đó đã
tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh ở các nước nói chung và các đân tộc thuộc địa nói
riêng phát triển mạnh mẽ.
Ảnh hưởng của chử nghĩa Mác – Lênin: Vào giữa thế kỷ XIX phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đặt ra u cầu bức thiết phải có lí luận khoa
học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ

nghĩa tư bản. Trong bối cảnh đó chủ nghĩa Mác ra đời về sau được Lenin phát triển và trở
thành chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đầu thế kỷ XX, V.I. Lênin đã bảo vệ và phát triển học thuyết Mác, đưa ra lý luận về
đảng vô sản kiểu mới của giai cấp công nhân, về cách mạng vô sản trong điều kiện chủ
nghĩa đế quốc; về nhiệm vụ kinh tế và chính trị trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, ... Sự
phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát
triển.
Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực
hiện sứ mệnh của mình, giai cấp cơng nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời của đảng
cộng sản là tính tất yếu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của 14 giai cấp cơng nhân
chống áp bức bóc lột. Nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng của giai cấp cơng
5


nhân cần thực hiện là: tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để thực
hiện mục đích và giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới
Kể từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước
và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô sản.
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam, sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng cộng sản Việt Nam.
Tác động của cách mạng tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng Sản: Thắng lợi của
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 làm rung chuyển thế giới, thức tỉnh hàng triệu
người, mở ra thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc và giải phóng dân tộc”.
Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân
dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời của nhiều đảng cộng sản.
Đối với các dân tộc thuộc địa cách mạng tháng Mười Nga đã nêu lên tấm gương
sáng trong việc giải phóng dân tộc bị áp bức bóc lột
Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới
được thành lập, thúc đẩy sự ra đời các đảng cộng sản và dẫn đến cao trào cách mạng thế

giới (1919 - 1923). Tháng 7/1920. V.I Lênin gửi tới tới các Đảng Cộng sản Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Tại Pháp, Nguyễn Ái
Quốc được đọc và tìm thấy ở bàn Luận cương của Lênin con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc Việt Nam.
Cuộc cách mạng Tân Hợi (10/1911) ở Trung Quốc, công cuộc Canh tân đất nước
của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX; phong trào “bất bạo động” của Đảng Quốc Đại ở Ấn Độ
lãnh đạo những năm đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng đến tư tưởng, thu hút sự quan tâm của
nhiều người yêu nước Việt Nam.

1.2. Bối cảnh trong nước:
Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp: Đêm 31/8/1858, thực dân
Pháp xâm lược Việt Nam. Tháng 6/1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, từ
đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toàn Việt Nam.
6


Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương.
Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng
bố mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ: Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau. Thực dân Pháp duy trì triều đình
phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm cơng cụ tay sai để áp bức về chính trị và
bóc lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước trở thành nơ lệ, bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô
cùng khổ cực.
Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ
nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lấy Việt Nam là
trọng điểm.
Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê,
chè, ...) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sẳt, thiếc, vàng, ...) để thu lợi nhuận nhiều và
nhanh. Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển
các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương. Ngân hàng Đơng Dương của

Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành
rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi.
Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ
nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp.
Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nơ dịch văn hố; xố bỏ hệ thống
giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhà tù, trại
giam nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu
chè, hạn chế xuất bản sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc.
Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thơng tin tiến bộ từ bên
ngồi.
Đặt điểm của từng giai cấp xã hội Việt Nam: Dưới sự thống trị của thực dân Pháp,
tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi. Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến.

7


Giai cấp địa chủ, đa số là địa chủ nhỏ và vừa có tinh thần yêu nước, căm ghét, vừa
có tinh thần dân tộc chống Pháp, số đại địa chù, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp là đối
tượng của cách mạng.
Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột,
cuộc sống cực khổ nên rất tích cực chống đế quốc và phong kiến.
Tầng lớp tiểu tư sản gồm người buôn bán nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh
viên... phát triển khá nhanh. Họ nhạy cảm trước thời cuộc, đời sống rất bấp bênh nên hăng
hái đấu tranh và là lực lượng quan trọng của cách mạng.
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp. Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai của
chúng. Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngồi chèn ép nên có
tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng.
Giai cấp cơng nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của

thực dân Pháp (1897 - 1914) tập trung nhiều ở các thành phố và vùng mỏ như: Hà Nội,
Sài Gòn, Hải Phòng, Vinh, Quảng Ninh, Nam định và phát triển khá nhanh. Năm 1914
khoảng 10 vạn, đến năm 1929 tăng lên 22 vạn. Giai cấp công nhân Việt Nam tuy số lượng
ít, ra đời muộn so với cơng nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc điểm chung của giai
cấp cơng nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính kỷ luật và tính chất
quốc tế.
Đặt điểm nổi bật giai cấp cơng nhân Việt Nam là “ra đời trước giai cấp tư sản dân
tộc, vừa lớn lên đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin”, rất kiên quyết cách mạng và đã
nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập. Cơng nhân Việt Nam đa số xuất thân
từ nông dân, bị bần cùng hố nên có quan hệ gần gũi với nơng dân, rất thuận lợi cho liên
minh công nông. Trong các giai cấp ở Việt Nam lúc đó "Chỉ có giai cấp công nhân là
dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn ln gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân.
Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp
công nhân ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân
Việt Nam”'.

8


Tóm lại chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong đó đặt biệt là sự ra đời của hai
giai cấp mới: công nhân và tư sản Việt Nam. Các giai cấp tầng lớp trong xã hội Việt nam
lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau đều bị
thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Chính sách cai trị áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và
phong kiến tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam
Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn
thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt
Nam, đa số là nông dân với địa chủ phong kiến.
Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau địi hỏi đồng thời giải quyết. Độc lập
dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập

dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc
Việt Nam ở đầu thế kỷ XX.
Nhiệm vụ hàng đầu của của cách mạng Việt Nam: Từ xác định mâu thuẫn cơ bản
nhất của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân
Pháp và tay sai.
Nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc. Điều đó
thể hiện rõ nhất trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) xác định nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản” (tức là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
trước).
Để chống thực dân Pháp, giành độc lập tự do cho dân tộc đòi hỏi dân tộc Việt Nam:
Xuất phát từ thực tiễn xã hội cách mạng Việt Nam và sự thất bại của những phong trào
yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra đòi hỏi của cách mạng Việt Nam thời kỳ này, là phải có
con đường cứu nước mới, một ý thức hệ mới đủ sức tạo ra sức mạnh mới đem lại thắng
lợi trong sự ngiệp cứu nước, giải phóng dân tộc …

II.

Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam
2.1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến:
9


Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến tiêu biểu là:
Các phong trào chống Pháp tiêu biểu ở Nam Kỳ:
Khởi nghĩa Trương Định (1859 – 1864)
Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 – 1868)
Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân (1862 – 1875)
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) do vua Hàm Nghi và cụ Tôn Thất Thuyết lãnh

đạo, hoạt động tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. (Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu
Cần Vương. Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc kỳ, Trung
kỳ và Nam kỳ. Ngày 1/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phong trào vẫn tiếp tục
phát triển cho đến năm 1896 mới kết thúc.
Khởi nghĩa Ba Đình (1881-1887) do Phạm Bành và Đinh Cơng Tráng lãnh đạo, diễn
ra tại Thanh Hóa.
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, diễn ra ở các
tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình.
Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo,
diễn ra ở địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh.
Khởi nghĩa nơng dân Yên Thế (1885 – 1913) do Hoàng Hoa Thám và Lương Văn
Nắm lãnh đạo, diễn ra tại Bắc Giang. Khởi nghĩa đã đánh thắng Pháp nhiều trận và gây
cho chúng nhiều khó khăn thiệt hại nhưng đến năm 1913 thì bị dập tắt.
Đánh giá: Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến
không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân
tộc Việt Nam.
Nguyên nhân thất bại: Tư tưởng thiếu sự nhất quán, kiên định, chưa tìm được hướng
đi để giải quyết được vấn đề xã hội, đất nước. Nhà Nguyễn mất niềm tin của nhân dân dẫn
đến khơng được ủng hộ, có lệnh bãi binh của triều đình nhưng các cuộc khởi nghĩa vẫn
bùng nổ trên cả nước. Bên cạnh đó, sự lạc hậu của chế độ phong kiến cùng với đó là sự
bảo thủ của các Vua Nguyễn dẫn đến việc những yêu sách tiến bộ cải tổ đất nước đều bị
10


bác bỏ. Bên cạnh đó có quá nhiều thất bại nên dẫn đến việc các sĩ phu yêu nước chán nản
thậm chí bị mua chuộc làm cho nhân dân mất niềm tin.

2.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản:
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản: Đầu thế kỷ XX, phong trào
yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân

chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải
phóng dân tộc đầu thế kỷ XX có sự phân hóa thành 2 xu hướng:
Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu (1867-1941)-quê Nghệ An với
chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền độc lập
cho dân tộc - Phát động phong trào Đông Du đưa du học sinh Việt Nam sang Nhật học
tập. Chọn Nhật vì đây là quốc gia “đồng văn, đồng chủng”, nền kinh tế phát triển mạnh,
hùng mạnh về quân sự.
Đại diện cho khuynh hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận động
cải cách văn hóa, xã hội; động viên lịng u nước cho nhân dân; đả kích bọn vua quan
phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân
trí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang cầu viện nước ngoài,
cầu xin Pháp đến khai hóa cho Việt Nam.
Ngồi ra, trong thời kỳ này ở Việt nam còn nhiều phong trào đấu tranh khác như:
Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907); Phong trào “tẩy chay Khách trú” (1919); Phong
trào chống độc quyền xuất nhập ở cảng Sài Gòn (1923); đấu tranh trong các hội đồng
quản hạt, hội đồng thành phố… đòi cải cách tự do dân chủ…
Kết quả: Tất cả các phong trào trên đều thất bại, các tổ chức chính trị bị ép phải giải
tán, bị khủng bố, những người có tư tưởng tiến bộ đều bị bắt, ngăn chặn các mối quan hệ
chính trị giữa Việt Nam và các nước khác, tăng cường giám sát các hoạt động chính trị,...
Nguyên nhân thất bại: Giai cấp tư sản Việt Nam là một giai cấp hình thành khá
muộn, cịn nhỏ, yếu và khơng có tiềm lực về kinh tế, chính trị. Tư tưởng của phong trào tư
sản tuy mới nhưng lại không phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Tổ chức chính trị
lỏng lẻo chưa có được sự kết nối với nhân dân, chưa xác định đúng về lực lượng tham gia,
giá trị lợi ích mang lại cho giai cấp lớn nên nhân dân khó tiếp cận (lợi ích mang cho giai
11


cấp chiếm đa số ở Việt Nam khi đó là nơng dân khơng có mà chủ yếu mang lại cho giai
cấp tư sản). Nhân dân cũng khơng đồng tình với hệ tư tưởng tư sản vì khơng giúp họ thốt
khỏi áp bức bóc lột hồn tồn. Bên cạnh đó, họ cũng không hiểu rõ về bản chất của đế

quốc

2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản:
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm
hình thành tuyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp
xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước năm
1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều huynh
hướng khác nhau, ví dụ cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong
trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, các cuộc khởi
nghĩa do Phan Đình Phùng, Hồng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học... lãnh đạo. Các cuộc
khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vơ cùng anh dũng, nhưng đều bị thực dân Pháp đàn
áp tàn bạo và đều thất bại.
Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam:
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ Quốc đi sang phương Tây tìm đường cứu
nước. Qua cuộc sống thực tiễn, nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới, nhất là
cacg1 mạng Tư sản Pháp, Mỹ. Người khẳng định cách mạng Việt Nam không thể đi theo
con đường này. Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công, Nguyễn Tất Thành đã
tin tưởng, hướng ttheo con đường cách mạng tháng Mười. Năm 1919, Người đã gửi tới
hội nghị Vecxây bản ‘yêu sách” đòi quyền lợi cho dân tộc Việt Nam. Tháng 7/1920,
Người đọc Bản sơ thảo thứ nhất Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin.
Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam – con đường
cách mạng vô sản. Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham
gia bỏ phiếu tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp, gia nhập Quốc tế Cộng sản.
Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt hoạt động cách mạng của Người, bước ngoặt từ chủ
nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ người yêu nước thành người cộng sản. Từ
nước ngoài, Người đã viết và gửi các sách báo, tài liệ về Việt Nam như các báo Việt Nam
hồn, Người cùng khổ, đặc biệt tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp...để truyền bá chủ
12



nghĩa Mác – Lênin và chỉ rõ con đường cách mạng mà nhân dân ta cần đi theo. Năm
1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, tháng 6/1925 Người thành lập Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện ở Quảng Châu.
Sự phát tiển của phong trào yêu theo khuynh hướng vô sản: Trong những năm 1919
– 1925, phong trào công nhân diễn ra dưới các hình thức bãi cơng, biểu tình như các cuộc
bãi cơng của công nhân Ba Son do Tôn Đức Thắng tổ chức và các cuộc bãi công của công
nhân nhà máy sợi Nam Định. Nhìn chung phong trào cơng nhân từ 1919 – 1925 đã có
bước phát triển mạnh so với trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hình thức bãi công trở
nên phổ biến diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn. Trong những năm 1926 –
1929, phong trào cơng nhân đã có sự lãnh đạo của các tổ chức của các Hội Việt Nam cách
mạng Thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời từ 1929, từ 1928 – 1929 có
khoảng 40 cuộc đấu tranh của cơng nhân diễn ra trên tồn quốc. Các cuộc đấu tranh của
cơng nhân Việt Nam đã có sự tiến bộ thời gian từ 1926 – 1929 mang tính chất chính trị rõ
rệt, có sự liên kết giữa các nhà máy địa phương.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người
đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản
ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước sự
khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc. Chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng
xã hội cơ bản. Hạn chế về giai cấp, đường lối chính trị, hệ thống tổ chức cịn thiếu chặt
chẽ.
Tinh thần yêu nước đã trờ thành truyền thống đấu tranh bất khuất trong lịch sử dân
tộc có và trò hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong các phong
trào cách mạng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp
nổ súng xâm lược nước ta thì phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh để
bảo vệ nền độc lập dân tộc đã bắt đầu. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã nổ ra các
cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh với mục tiêu giành lại độc lập dân tộc. Đólà cuộc
chiến đấu của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, khởi
nghĩa theo tiếng gọi “Cần Vương” của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật… Những

cuộc đấu tranh vơ cùng oanh liệt đó của nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị đàn áp
13


tàn vào và thất bại. Mặc dù bị đàn áp dã man nhưng các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục
phát triển mạnh. Tuy nhiên, các phong trào đó cũng không đi đến thành công. Nguyên
nhân cơ bản là do các phong trào khơng tìm được đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc
và con đường phát triển đúng đắn, chưa phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt
Nam. Mà điều cốt lõi nhất là các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX chưa tìm được và
chưa có khả năng tập hợp các lực lượng đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Phong
trào yêu nước muốn phát triển đất nước theo xu hướng tư sản và tiểu tư sản không giải
quyết được mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân đang phát triển ngày càng mạnh với giai
cấp tư sản mà chủ yếu là tư sản Pháp, do đó, cũng khơng giải quyết triệt để mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, không tranh thủ được sức mạnh của phong trào
cách mạng thế giới đang dâng lên mạnh mẽ… Phong trào yêu nước như khơng có đường
ra.
Trong đêm trường tăm tối đó Đảng Công sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của Đảng là
kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước Việt Nam. Như vậy, khi đề cập đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, bên
cạnh hai yếu tố là chủ Mác-Lênin và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh cịn kể đến yếu
tố thử ba, đó là phong trào yêu nước. Đây là một quan điểm quan trong của Hồ CHí Minh
về sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh thấy rõ vai trị to lớn của
chủ nghĩa Mác-Lênin với quá trình hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. ĐỒng thời
NGười cũng đánh giá rất cao vai trị của giai cấp cơng nhân Việt Nam. Nhưng Người bổ
sung yếu tố phong trào yêu nước, coi nó là một trong ba yếu tố kết hợp dẫn đến việc hình
thành Đảng Cộng sản Việt Nam là vì:



Thứ nhất, phong trào u nước có vị trí và vai trị cực kỳ to lớn trong q trình phát




triển của dân tộc Việt Nam. Là giá trị văn hóa trường tồn trong văn hóa Việt Nam.
Thứ hai, phong trào công nhân kết hợp được với phong trào yêu nước bởi vì hai phong
trào có cùng chung mục tiêu chung: giải phóng dân tộc, làm cho Việt Nam hồn toàn
độc lập, xây dựng đất nước hùng cường. Hơn nữa, phong trào u nước có trước
phong trào cơng nhân, phong trào cơng nhân xét về nghĩa nào đó nó lại là phong trào
yêu nước.
14




Thứ ba, phong trào nông dân kết hợp với phong trào cơng nhân. Nói đến phong trào
u nước Việt Nam phải kể đến phong trào nơng dân. Do đó, giữa phong trào cơng



nhân và phịng trào u nước có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thứ tư, phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự
kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính vì vậy, sự xuất hiện của nhân tố phong trào yêu nước trong sự hình thành

Đảng Cộng sản Việt Nam như một điều hiển nhiên, tất yếu. Nó nhân lên sức mạnh của
Đảng, tạo chỗ dựa vững chắc cho Đảng, cho giai cấp công nhân Việt Nam.
Ngày nay, sự xuất hiện song hành của nhân tố phong trào yêu nước trong Đảng
chính là cơ sở để Đảng ta tự khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc
Việt Nam. Đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và

của dân tộc”1. Khẳng định sâu sắc về bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời nêu bật
vai trò quan trọng của yếu tố nhân dân lao dộng và dân tộc – hiện thân hữu hình của
phong trào u nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng khơng chỉ là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và
đại biểu cho lợi ích của giai cấp, của dân tộc mà cịn là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và
đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng phải vừa là
người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người khẳng định:
“Muốn cứu nước giải phóng dân tộc khơng có con đường nào khác - con đường cách
mạng vô sản”. Để thực hiện được mục tiêu đó, Người chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng
cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngồi thì liên lạc với các dân tộc
bị áp bức và vơ sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng
như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” (3). ĐCS Việt Nam đóng vai trị lãnh
đạo nhân dân cùng một lúc phải làm tư sản cách mạng, làm dân tộc cách mạng và làm giai
cấp cách mạng. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của cách mạng vô sản ở Việt Nam do ĐCS
lãnh đạo và cũng là một đặc điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với giai cấp, dân tộc
và xã hội Việt Nam. 90 năm qua, Đảng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch
sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám
1Văn kiện đai học X của Đảng – Đại hội X

15


năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà
nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc
Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm
lược Việt Nam, cả dân tộc ta đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh
tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc và đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế
quốc xâm lược; lập lại hồ bình ở miền Bắc Việt Nam. Trong hồn cảnh đất nước tạm thời
bị chia làm hai miền, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách
mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở

miền Nam. Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam (năm 1965), tiến hành
chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh
xâm lược ra miền Bắc (năm 1964), Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước đánh cho Mỹ cút
(năm 1973), đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
(ngày 30/4/1975), đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi vĩ đại của Cách
mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, dân tộc Việt
Nam trở thành một trong những dân tộc đầu tiên làm cách mạng giải phóng dân tộc thành
công ở một nước thuộc địa và lệ thuộc; một trong những dân tộc đầu tiên đánh bại chủ
nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới, mở đầu phong trào giải phóng dân tộc ở
châu Á, châu Phi, châu Mỹ - La tinh.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, đất nước
Việt Nam thống nhất, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh
tế, đời sống nhân dân còn thiếu thốn, Đảng đã chủ động khởi xướng và lãnh đạo thành
công công cuộc đổi mới đất nước. Những thành tựu to lớn sau hơn 30 năm đổi mới trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội, quốc phòng - an ninh, quan hệ quốc tế... đã
khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. Từ một đất
nước bị tàn phá nặng nề bởi nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, bị
các thế lực thù địch chống phá, bị bao vây, cấm vận kinh tế, lại phải chịu nhiều tổn thất do
thiên tai khắc nghiệt gây ra, Việt Nam đã nhanh chóng khơi phục và phát triển kinh tế - xã
hội; đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động không ngừng được cải thiện; chính trị
ổn định; lịng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng được củng cố; vị thế của Việt
16


Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Với những thành tựu to lớn của công cuộc đổi
mới đất nước, Việt Nam trở thành một trong những nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên tiến
hành đổi mới thành công theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân, dân tộc Việt Nam
có quyền tự hào về ĐCS Việt Nam - người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân

dân. Từ thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, có thể khẳng định rằng: đường lối lãnh
đạo của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng suốt và luôn được các tầng lớp
nhân dân ủng hộ, tin tưởng. Đảng có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt
Nam không chỉ giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến giành và giữ chính quyền, giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mà cả trong xây dựng và phát triển kinh tế, xây dựng
đất nước theo mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

III.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên
3.1.1.
Bối cảnh tổ chức Hội nghị thành lập Đảng:
Cuối năm 1929, phong trào công nhân và phong trào u nước phát triển mạnh trong

đógiai cấp cơng nhân thật sự trở thành một lực lượng tiên phong. Năm 1929 ở nước ta lần
lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản đã thúc đẩy phong trào cáchmạng phát triển, song cả
ba tổ chức đều hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, làm phong trào CM
trong nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời, hoạt động
riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, cơng kích lẫn nhau, làm phong trào cách mạng
trong nước có nguy cơ chia rẽ lớn.Trong tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đã trở về
Hương Cảng, Quảng Châu, Trung Quốc để triệu tập hội nghị thống nhất các tổ chức cộng
sản.
Diễn biến hội nghị:





Hội nghị bắt đầu họp từ ngày 6/1/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), dự hội

nghị có đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng. Tại hội
nghị, Nguyễn Ái Quốc đã phê phán những quan điểm sai lầm của các tổ chức cộng sản
hoạt động riêng rẽ. Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất
lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thơng qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo, đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng được thành lập, gồm 7 Ủy viên. Ngày
17




24/02/1930, Đơng Dương Cộng sản Liên đồn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Sau này Đại hội Đại biểu tồn quốc lần III2
3.1.2.
Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên:
Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh đã xác định rõ về đường lối, nhiệm vụ, lực lượng
và mối quan hệ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh sau khi thành lập Đảng. Cụ thể,
về đường lối chiến lược là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản. Cương lĩnh xác định ba nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam,
bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, song
nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Cụ thể: Về chính trị,
đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam được hoàn
toàn độc lập, dựng ra Chính phủ cơng-nơng-binh và tổ chức qn đội cơng nơng. Về kinh
tế, tịch thu tồn bộ sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ mới; tịch thu
ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, mở mang công
nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm tám giờ. Về
văn hóa, dân chính được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thơng giáo dục theo
hướng cơng nơng hóa.

Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng là tập hợp đại bộ phận giai cấp công
nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo; lãnh đạo nông dân làm cách mạng
ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nơng… đi vào phe vô sản giai cấp; đối với
phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải
lợi dụng, ít nhất cũng làm cho họ đứng trung lập, bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng
thì phải đánh đổ. Giai cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân, thông qua Đảng
Cộng sản. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
của giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Về mối quan hệ
quốc tế, Luận cương xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là
với

quần

chúng



sản

Pháp.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con
2 01/05/2021

18


đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng
yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh

thần dân tộc. Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để giành
chính quyền về tay nhân dân đi tới xã hội cộng sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh này.
Tuy rằng, nội dung Cương lĩnh vẫn còn một vài vấn đề về sau khơng hồn tồn phù
hợp với thực tế Việt Nam hoặc có một số từ ngữ có thể dẫn tới sự giải thích khác nhau,
song với sự bổ sung của Luận cương Chính trị được thơng qua tại Hội nghị lần thứ nhất
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Cương lĩnh chính trị của Đảng đã được hồn thiện
hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân
quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực
hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng
thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nơng dân. Vì vậy, Đảng đã đồn kết được những lực
lượng cách mạng to lớn xung quanh giai cấp mình, cịn các đảng phái của các giai cấp
khác thì hoặc bị phá sản hoặc bị cơ lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của
giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tăng cường”3
Các đại biểu đã nhất trí hợp nhất hai tổ chức cộng sản thành Ðảng Cộng sản Việt
Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là tất yếu của lịch sử, là kết quả tất
yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam. Đó là kết quả của q trình chuẩn bị cơng phu, khoa học của lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức. Nó chứng tỏ rằng giai cấp
vơ sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn
bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến
trình lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Hội nghị cũng đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Ðiều lệ vắn
tắt của Ðảng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn
tắt của Đảng thể hiện cô đọng các luận điểm cách mạng cơ bản, đánh giá chính xác tính
chất xã hội Việt Nam thuộc địa và chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu là giữa toàn thể dân
3 01/05/2021

19



tộc Việt Nam với đế quốc thực dân xâm lược; xác định đường lối phát triển, chiến lược,
sách lược của cách mạng Việt Nam được thực hiện bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Ðảng đã
nêu những vấn đề cơ bản về đường lối của cách mạng Việt Nam, là lời tuyên bố về sự lựa
chọn con đường phát triển cách mạng Việt Nam của Ðảng ta khi mới ra đời. Cương lĩnh
xác định chiến lược cách mạng của Ðảng là tiến hành cuộc “tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Cương lĩnh đã xác định rõ sự lựa chọn
con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Ðây là cuộc cách mạng vô sản do giai cấp
công nhân lãnh đạo và là cuộc cách mạng khơng ngừng. Luận điểm cách mạng của Hồ
Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập
dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam
dưới ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chánh cương phân tích, đánh giá khái quát những đặc điểm quan trọng nhất của
kinh tế công nghiệp, nông nghiệp của nước Việt Nam thuộc địa; tính chất độc quyền khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp với những hậu quả tiêu cực cản trở sự phát triển độc lập
về kinh tế của Việt Nam. Chánh cương xác định rõ phương hướng phát triển của cách
mạng Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Về
phương pháp cách mạng, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn và sáng tạo nên từ khi ra đời Đảng đã trở thành
lực lượng lãnh đạo, tập hợp xung quanh mình tồn thể dân tộc theo con đường cách mạng
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn. Vì vậy, Người đã khẳng định: “Cương lĩnh ấy rất phù
hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nơng dân. Vì vậy, Đảng đã
đồn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Cịn các
đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cơ lập. Do đó, quyền lãnh đạo
của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không ngừng củng cố và tăng cường”. Dưới
ánh sáng soi đường của Cương lĩnh Đảng đã dẫn dắt tồn dân tộc vượt qua mọi khó khăn,
thác nghềnh. Cho đến nay, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng vẫn giữ nguyên giá trị,
vẫn là ngọn cờ dẫn lối cho cách mạng Việt Nam tiến bước trên con đường mà Đảng, Chủ

tịch Hồ Chí Minh và dân tộc đã lựa chọn.4
4 01/05/2021

20


3.2. Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh
chính trị đầu tiên
3.2.1. Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc:
Sự ra đời và lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là kết quả của
q trình lựa chọn của chính lịch sử Việt Nam và dân tộc Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam, là sản
phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt
Nam. Chấm dứt sự khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam,
khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam từ đây đã nắm quyền tuyệt đối lãnh đạo cách
mạng với đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt
Nam đã có một đường lối lãnh đạo đúng đắn được nêu ra trong Chính cương vắn tắt và
Sách lược vắn tắt của Đảng.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn cách mạng Việt Nam trở thành một
bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự chuẩn bị đầu tiên có tính tất yếu, quyết định
cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng và lịch sử dân tộc Việt Nam.
Giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt
của Đảng thể hiện cô đọng các luận điểm cách mạng cơ bản, đánh giá chính xác tính chất
xã hội Việt Nam thuộc địa và chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu là giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với đế quốc thực dân xâm lược; xác định đường lối phát triển, chiến lược, sách
lược của cách mạng Việt Nam được thực hiện bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản
nhất của cách mạng Việt Nam. Sự đúng đắn của Cương lĩnhđược khẳng định qua thực tiễn
đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước trong suốt 85 năm qua:
Một là, Cương lĩnh xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của cách mạng tư sản dân
quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc, chống
21


phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng. Xuất phát từ chế độ thuộc
địa nửa phong kiến, Cương lĩnh đã phân tích mối quan hệ gắn bó giữa hai nhiệm vụ cơ
bản là chống đế quốc và chống phong kiến gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng trước hết phải
đánh đổ đế quốc, “làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đây là cơ sở để giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Chỉ có độc lập tự do của đất nước
mới đủ điều kiện để thực hiện quyền con người, quyền cơng dân.
Hai là, chiến lược đại đồn kết toàn dân tộc được xây dựng từ Cương lĩnh chính trị
đầu tiên là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cách mạng Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân đến xây dựng đất nước theo định hướng XHCN hiện nay. Tư tưởng này thể
hiện rõ trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng về các lực lượng cách
mạng. Những lực lượng như tiểu tư sản, trí thức, trung, tiểu địa chủ đều được Đảng chủ
trương tập hợp, đoàn kết lại trong lực lượng cách mạng do cơng nơng làm nịng cốt.
Chủ nghĩa u nước là nền tảng cơ sở cho sự thống nhất trong khác biệt nhằm tập
hợp lực lượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của một đất nước tiềm lực kinh tế, quân sự
không lớn, người không đông, lại phải đối mặt với các thế lực đế quốc đầu sỏ. Hiện nay,
khi tình hình Biển Đơng khơng bình n, chủ quyền biển, đảo đang bị đe dọa, hơn bao giờ
hết việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tranh thủ sức mạnh quốc tế là yếu tố quyết định
để bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Ba là, xác định rõ sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng, Hội nghị thông qua Điều lệ vắn tắtvà Lời kêu
gọinhân dịp thành lập Đảng. Các văn kiện này chỉ rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng
của giai cấp vơ sản; Đảng được tổ chức ra để dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo quần chúng

lao khổ đấu tranh giải phóng tồn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột “để tiêu trừ tư bản đế
quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.5
Chánh cương phân tích, đánh giá khái quát những đặc điểm quan trọng nhất của
kinh tế công nghiệp, nông nghiệp của nước Việt Nam thuộc địa; tính chất độc quyền khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp với những hậu quả tiêu cực cản trở sự phát triển độc lập
về kinh tế của Việt Nam. Chánh cương xác định rõ phương hướng phát triển của cách
5 01/05/2021

22


mạng Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Về
phương pháp cách mạng, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

3.2.2. Giá trị và đối với sự phát triển của đất nước hiện nay:
Sự ra đời và lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam: Thắng lợi của cách
mạng Việt Nam đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất đủ sức
lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc và chính quyền về tay nhân dân,
đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vị trí, vai trị lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam được khẳng định không chỉ qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, mà
cịn được khẳng định ở tính đúng đắn trong việc tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển
lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử
của dân tộc. Đảng sống trong lòng dân tộc, là niềm tin, lẽ sống của nhân dân Việt Nam,
đại diện trung thành lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc
Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu
trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Về phương diện xã hội, Chánh cương khái

quát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là
được tự do, nam nữ bình quyền, phổ thơng giáo dục...
Chánh cương xác định rõ phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là tiến
lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
Với cương lĩnh chính trị đúng đắn, ngay từ khi ra đời Đảng đã trở thành lực lượng
lãnh đạo, tập hợp xung quanh mình tồn thể dân tộc làm cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số
nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đồn kết được những lực lượng cách mạng to
lớn chung quanh giai cấp mình. Cịn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá
sản, hoặc bị cơ lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tăng cường”. Dưới ánh sáng soi đường của Cương lĩnh Đảng ta
23


đã dẫn dắt tồn dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi mục tiêu
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và đang trên đường xây dựng nước Việt Nam giàu,
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trải qua các chặng đường lịch sử đấu tranh, với các giai đoạn cách mạng thực hiện
nhiệm vụ cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh, Đảng có lúc cũng phạm sai
lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách
quan; do nhận thức của Đảng trên một số lĩnh vực cịn hạn chế; khơng ít vấn đề lý luận và
thực tiễn còn chưa đủ sáng tỏ, nhưng điều quan trọng là Đảng ta đã nhận ra, thẳng thắn tự
phê bình và nghiêm túc sửa chữa, khắc phục có kết quả. Và qua mỗi vấp váp, sai lầm
Đảng thêm trưởng thành.
Trong q trình lãnh đạo, tiến hành cơng cuộc đổi mới, hội nhập, trước bối cảnh tình
hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng cụ thể hóa Cương lĩnh chính trị trong
thời kỳ cách mạng mới, cho thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và được bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh của
Đảng (2011) khẳng định: “Cương lĩnh của Đảng là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng
cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của hệ thống chính trị và nhân dân ta trong

những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một
nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”6

6 01/05/2021

24


PHẦN KẾT LUẬN
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, hồn cảnh trong và ngồi nước có nhiều
thay đổi lớn. Ở Việt Nam, dưới các chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp nền kinh tế của nước ta vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, bị kìm hãm
và cịn phụ thuộc vào Pháp. Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam có sự phân hóa về giai cấp,
xuất hiện giai cấp cơng nhân và tư sản, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội đều bị thực dân
Pháp bóc lột ở những mức độ khác nhau. Từ đó đề ra nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng
dân tộc khỏi áp bức của thực dân Pháp và xóa bỏ hồn tồn chế độ phong kiến.
Cuối thế kỷ XX đầu năm 1930, dưới sự áp bức của thực dân Pháp ở nước ta xuất
hiện nhiều phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản nhưng đều thất
bại. Sự thất bại của hàng loạt các phong trào yêu nước đã chứng mình hệ tư tưởng phong
kiến và hệ tư tưởng tư sản không phù hợp để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết
nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Nước ta cần lựa chọn một con đường đúng đắn
hơn để có thể giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị.
Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam nổ ra từ cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX đã làm cho cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân
tộc. Nguyễn Ái Quốc bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc,
giải phóng đất nước. Người đã khơng ngừng nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn ở
các nước trên thế giới. Người cuối cùng đã tìm được con đường giải phóng dân tộc, đó là
con đường cách mạng mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị kĩ càng các điều kiện
về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Người đã vận dụng và phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng các lí luận giải phóng dân tộc dựa vào tình hình và

đều kiện hiện tại của nước ta. Trong giai đoạn này, các tổ chức cộng sản được thành lập
đã khẳng định lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc là phù hợp, làm cho phong trào
công nhân phát triển mạnh, tuy nhiên lực lượng và sức mạnh vẫn còn phân tán đặt ra vấn
đề thống nhất thành một Đảng. Dưới tình hình cấp thiết cần tập hợp lực lượng, Nguyễn Ái
Quốc đã chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu
tiên cũng được ra đời.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của phong trào đấu tranh
dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, là thành quả kết hợp tư tưởng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×