Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

Tiểu-luận-Mác-Lênin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (194.29 KB, 38 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

ĐỀ TÀI

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM

NHÓM: 33, LỚP DT-05, HK183

GVHD: THS. VŨ QUỐC PHONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN
ST
T

MSSV

HỌ

1
2
3
4
5

1811386
1811434
1811743


1812712
1814261

NGUYỄN TRƯỜNG
NGUYỄN QUỐC
TRẦN KHÁNH
TRƯƠNG HUỲNH TRUNG
TRẦN NGUYỄN QUANG

TÊN
AN
ANH
DUY
KIÊN
TRÍ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

ĐIỂM
BTL

% ĐIỂM
BTL
20%
20%
20%
20%
20%



ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

ĐỀ TÀI

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM

NHÓM: 33, LỚP DT-05, HK183

GVHD: THS. VŨ QUỐC PHONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN
ST
T

MSSV

HỌ

1
2
3
4
5

1811386
1811434

1811743
1812712
1814261

NGUYỄN TRƯỜNG
NGUYỄN QUỐC
TRẦN KHÁNH
TRƯƠNG HUỲNH TRUNG
TRẦN NGUYỄN QUANG

TÊN
AN
ANH
DUY
KIÊN
TRÍ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

ĐIỂM
BTL

% ĐIỂM
BTL
20%
20%
20%
20%
20%




Mục lục
Lời mở đầu.................................................................................................................. iii
Chương I. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.......................................................................................................................1
1. Cơ sở lý luận của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.................................................................................2
1.1. Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ..............................................2
1.2. Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ............................................................3
1.3. Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa............................................................................................4
2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa..............................................................................................6
2.1. Xét trên phương diện lịch sử..............................................................................6
2.1.1. Thế giới.........................................................................................................6
2.1.2. Việt Nam.......................................................................................................7
2.2. Phương diện chính trị........................................................................................9
2.4. Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng trong điều
kiện mới...................................................................................................................11
Chương II. Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam............................................................................................................................. 15
1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..........................15
1.1. Trên lĩnh vực kinh tế........................................................................................15
1.2. Trên lĩnh vực chính trị.....................................................................................16
2. Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.........................17
Chương III. Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.........19
1. Trên lĩnh vực kinh tế..............................................................................................19
2. Trên lĩnh vực chính trị...........................................................................................19
3. Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa............................................................................20

Chương IV: Cái nhìn thực tế về "Công cuộc 30 năm đổi mới" trên lĩnh vực kinh
tế và tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay...........................................21
1.Những kết quả đạt được sau hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta......21
1.1. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế...........................................................................21
1.2.Về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư............................................................21
1.3. Về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu......................................................22
1


1.4. Về các vấn đề an sinh xã hội............................................................................22
2. Hạn chế và khó khăn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.............24
3. Giải pháp................................................................................................................25
Chương V. Kết luận...................................................................................................26
Danh mục tài liệu tham khảo....................................................................................27

2


Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo xã hội tư
bản thành xã hội chủ nghĩa bằng cách mạng. Thời kỳ này là tất yếu vì quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa khơng ra đời trong lòng chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản chỉ chuẩn
bị những tiền đề vật chất để quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa chỉ được thực hiện sau khi đã gạt giai cấp tư sản ra khỏi chính quyền và
thiết lập được nền chun chính vơ sản.

3



Tuy nhiên, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vơ sản cũng khơng thể có ngay
chủ nghĩa xã hội mà “Cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới
thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và vì phải
trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài quyết liệt mới có thể thắng được sức mạnh to lớn
của thói quen quản lý theo kiểu tư sản và tiểu tư sản.” 1
Hiện nay, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới nói chung
vẫn đang tiếp diễn và con đường “phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa” tại các nước chủ nghĩa xã hội nói riêng cũng có cơ sở lịch sử, thực
tiễn sâu xa, vững chắc, mang tính quy luật khách quan, tất yếu và hoàn toàn khả thi.
Việt Nam trong xu thế chung của thế giới cũng đang tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Đây là quá trình lâu dài và cũng có nhiều khó khăn. Nhiều tài liệu khác đã nghiên
cứu về vấn đề này nhưng mỗi tài liệu thì mới đề cập đến một khía cạnh của con đường
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ta có cái nhìn rõ ràng
hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

2. Mục tiêu
Làm rõ:
- Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

3. Phương pháp
Sử dụng linh hoạt các phương pháp: trừu tượng hố khoa học, logic và lịch sử, phân
tích và tổng hợp, phân tích thống kê, đưa ra những quan niệm và số liệu cụ thể. Cụ thể:
- Thứ nhất sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để đưa ra những quan niệm
về thời kì quá độ lển xã hội chủ nghĩa.
1.V.I.

Lênin Toàn tập, tập 38, NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr.446.

4


- Thứ hai sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp để làm rõ
tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa.
- Thứ ba dùng phương pháp trừu tượng hố, phân tích thống kê để nói lên đặc điểm
và thực chất của thời kì quá độ.
- Thứ tư dùng phương pháp phân tích và tổng hợp, phân tích thống kê, liệt kê số liệu
để nêu lên nội dung và tình hình cũng như giải pháp hiện nay của Việt Nam trong thời
kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa.

4. Kết cấu
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết
2. Mục tiêu
3. Phương pháp
4. Kết cấu

Chương I. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
1. Cơ sở lý luận của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam
1.1. Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ
1.2. Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ
1.3. Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
2.1. Xét trên phương diện lịch sử
5



2.1.1. Thế giới
2.1.2. Việt Nam
2.2. Phương diện chính trị
2.3. Chúng ta kế thừa những yếu tố hợp lí của chủ nghĩa tư bản, khơng có nghĩa là
đi lên tư bản chủ nghĩa
2.4. Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng trong điều
kiện mới
Chương II. Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1. Trên lĩnh vực kinh tế
1.2. Trên lĩnh vực chính trị
1.3. Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa
2. Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chương III. Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1. Trên lĩnh vực kinh tế
2. Trên lĩnh vực chính trị
3. Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa
Chương IV: Cái nhìn thực tế về "Cơng cuộc 30 năm đổi mới" trên lĩnh vực kinh
tế và tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
1.Những kết quả đạt được sau hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta
1.1. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế
1.2.Về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư
1.3. Về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
1.4. Về các vấn đề an sinh xã hội

6



2. Hạn chế và khó khăn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
3. Giải pháp
Chương V. Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

7


Chương I. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
Lịch sử phát triển của xã hội lồi người là q trình biến đổicủa nhừng hình thái
kinh tế - xã hội kế tiếp nhau, thay thế nhau, từ thấp đến cao: cộng sản nguyên thủy,
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển tất yếu của lịch sử đó là do tác động của quy luật quan hệ sản xuất
phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy
luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người.
Từ xã hội cộng sản nguyên thủy, lực lượng sản xuất thấp kém, sản phẩm xã hội cịn
ít, người ngun thủy bắt buộc phải dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và
phân phối kiểu bình quân mới tồn tại được. Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một
mức nhất định, người lao động có khả năng sản xuất đủ mức sống tối thiểu và dư thừa
đôi chút thù xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ. Quan hệ sản xuất phong kiến ra đời lại
làm cho lực lượng sản xuất phát triển lên một mức mới. Nhưng khi lực lượng sản xuất
phát triển hơn nữa, khiến cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lạc hậu, lỗi thời. Do
đó cần phải có một quan hệ sản xuất khác phù hợp hơn là quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển, tính chát xã hội hóa lao
động ngày càng cao, nhưng quan hệ sản xuất vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
khiến cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên không phù hợp với lực lượng sản
xuất do chính nó tạo ra. Tình hình đó dẫn đến mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và

quan hệ sản xuất ngày càng gay gắt. Và đến một mức độ nào đó, quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa tất yếu bị phá vỡ, thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp hơn,
đó là quan hê sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển của nó, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho sự ra đời của một xã hõi mới, cao hơn
nó - xã hội chủ nghĩa. Phân tích khoa học về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa
tư bản, những mâu thuẫn nọi tại và xu hướng vận động của nó, C.Mác cho rằng
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể tồn tại vĩnh viễn mà nó là sự quá độ
của lịch sử.
1


1. Cơ sở lý luận của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam
1.1. Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ
Trong quan điểm cách mạng của Mác, tiến hành cách mạng vô sản là con đường
dẫn tới sự thắng lợi của giai cấp công nhân đưa họ lên nắm chính quyền và thiết lập
nền chuyên chính vơ sản đánh dấu sự mở đầu một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn đi
vào xây dựng một xã hội mới, giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội.
Năm 1875, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gơta, Mác đã trình bày hệ thống
những quan điểm của mình về tính chất thời kì q độ, về vai trị và sự tiến hóa của
nhà nước chun chính vơ sản và sự phân chia giai đoạn trong sự phát triển của xã hội
cộng sản. Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa có một thời
kì cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kì đó là một
thời kỳ q độ chính trị, trong đó nhà nước khơng thể có cái gì khác hơn là chun
chính cách mạng của giai cấp vơ sản”2. Ở đây Mác đã nêu rõ luận điểm về sự quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản.
Khái niệm “thời kỳ quá độ” của Mác gắn liền với học thuyết hình thái kinh tế - xã hội,
Mác nói thời kỳ quá độ giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời kỳ

quá độ là thời kỳ “cải biến cách mạng từ xã hội nọ, sang xã hội kia”. Hai xã hội đó có
hai hình thái kinh tế - xã hội khác nhau nhưng nối tiếp nhau, song về tính chất lại hồn
tồn đối lập nhau, giữa chúng phải có một thời kỳ quá độ “cải biến từ xã hội nọ, sang
xã hội kia”
Theo Mác chủ nghĩa cộng sản không thể tạo dựng trong một lúc mà chỉ có thể là kết
quả của những cải tạo cách mạng xã hội sâu sắc, trong một thời gian khá dài. Bản thân
xã hội cộng sản sẽ phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội, và
giai đoạn cao gọi là chủ nghĩa cộng sản. Mác đã phân biệt sự khác nhau giữa những
2. Nguyễn Linh Khiếu & Phạm Tất Thắng. (13/2/2015). Quá độ lên chủ nghĩa xã hội,

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn . Truy
cập từ />
2


cải tạo của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên chủ nghĩa xã hội với những cải tạo của
thời kì sau.
Tóm lại, từ những diễn giải trên ta có thể rút ra những kết luận sau:
- Sự cần thiết phải có thời kỳ quá độ để chuyển từ xã hội cũ - xã hội tư bản sang xã
hội mới - xã hội chủ nghĩa, bởi vì các quan hệ xã hội chủ nghĩa khơng thể hình thành
được trong lòng xã hội tư bản.
- Nhà nước trong thời kỳ q độ khơng phải cái gì khác hơn là sự chun chính
cách mạng của giai cấp vơ sản trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa cộng sản.
- Thời kỳ quá độ vừa mang tính chất cách mạng của một sự chuyển biến sâu sắc vừa
mang tính chất quá độ. Mác đã nhấn mạnh đến sự chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ
sang xã hội mới trong thời kỳ quá độ. Vì vậy, mọi hình thức đấu tranh giai cấp, mọi
biện pháp, thủ đoạn hoạt động của giai cấp vô sản trong thời kỳ này nhằm tạo dựng
được sự chuyển biến về chất của xã hội. Đồng thời chính Mác đã nhấn mạnh đến tính
chất q độ của thời kỳ này, trong đó cái gọi của xã hội cộng sản chưa phát triển trên

cơ sở riêng của mình. Đây là sự chuyển từ xã hội cũ dựa trên chế độ cơng hữu, nó
khơng thể diễn ra nhanh chóng, mà phải rất lâu. Nhưng cụ thể là bao lâu? Thì Mác
chưa nêu ra được.
Như vậy, Mác đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn rất
lớn, muốn tiến lên chủ nghĩa cộng sản cần phải phân ra nhiều giai đoạn, tùy thuộc trình
độ phát triển của trình độ sản xuất chứ không thể phát triển chủ nghĩa cộng sản dưới
dạng hồn chỉnh lý tưởng là xóa ngay lập tức mọi tư hữu, giai cấp và bóc lột.

1.2. Quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ
Những tư tưởng của Mác - Ănghen về thời kỳ quá độ đã được Lênin tiếp tục phát
triển sáng tạo trong thời kỳ mới. Lênin là người đầu tiên kế tục sự nghiệp của Mác và
Ănghen trong điều kiện lịch sử mới, khi cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản
và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã trở thành sự nghiệp thực tiễn, Lênin đã cụ thể hóa và

3


làm phong phú thêm quan điểm Macxit về thời kỳ quá độ. Lênin đã bổ sung luận điểm
của Mác - Ănghen về thời kỳ quá độ thể hiện ở hai nội dung sau:
- Lênin cho rằng cách mạng nổ ra và thắng lợi ở nước Nga (1917), sau đó nước Nga
đã đánh thắng cuộc bao vây của 14 nước đế quốc và các thế lực phản động trong nước
(1919-1922). Sau đó Lênin đã đưa nước Nga vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội. Ông viết nhiều tác phẩm về thời kỳ quá độ ở nước Nga, trong đó ơng viết “Thời
kỳ q độ ở nước Nga là thời kỳ quá độ trực tiếp, và phải trải qua hai giai đoạn và rất
lâu dài”3 (thời kỳ quá độ của quá độ). Lênin nói “bắt những cây cầu nhỏ đi lên chủ
nghĩa xã hội”.
- Lênin cho rằng các nước kém phát triển nông nghiệp, lạc hậu, tiểu nông cũng có
thể tiến lên chủ nghĩa xã hội khơng qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa với điều kiện là
những nước đó phải do Đảng cộng sản lãnh đạo và có một nước xã hội chủ nghĩa tiên
tiến giúp đỡ. Thời kỳ quá độ đó gọi là thời kỳ quá độ gián tiếp và rất lâu dài. Lênin gọi

đó là thời kỳ quá độ đặc biệt của đặc biệt.

1.3. Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa
Cách mạng nước ta khơng nằm ngồi quy luật ấy, với chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta hồn tồn giải phóng. Đảng ta
đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng cùng một lúc, đó là
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam, trên thực tế đây là nét độc đáo của cách mạng chưa từng có từ trước tới
nay, nhưng đồng thời cũng nói lên sự phức tạp của cách mạng Việt Nam. Chưa từng có
tiền lệ trong lịch sử mà chúng ta vẫn làm khơng có nghĩa là chúng ta sai, chúng ta mạo
hiểm. Thực tiến lịch sử đã chứng minh điều đó hồn tồn đúng đắn trong hồn cảnh
3. Phạm Văn Chúc. (14/8/2018). Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn trên thế giới một thế kỷ qua. Truy cập từ
/>
4


lịch sử trong nước và quốc tế lúc bấy giờ. Sau năm 1975 cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta đã mắc phải một số sai lầm trong
nhận thức và chỉ đạo ví như: chúng ta đề ra chủ trương tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc lên chủ nghĩa xã hội trong khi đất nước còn thiếu những tiền đề cần thiết,
thực hiện tập thể hóa nơng nghiệp một cách gượng ép, không tự nguyện đối với nông
dân,…kết quả là đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng.
Trong hồn cảnh đó u cầu đặt ra là phải có nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ bỏ
qua chế độ. Vì thế đại hội IX của Đảng đã nhận định về thời kì quá độ ở Việt Nam như
sau:
- Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa.

- Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của kiến trúc
thượng tầng tư bản chủ nghĩa.
- Bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng phải tiếp thu, kế thừa thành tựu mà
nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Nhân loại đã sáng tại ra cả một nền văn hóa, văn minh nhân loại, nhưng qua mỗi
thời kỳ, mỗi quá trình, giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển lại đặt dấu ấn
của mình, đã “chạm khắc” vào những thành tựu chung ấy. Giai cấp tư sản cũng khơng
nằm ngồi quy luật chung đó. Xét về một phương diện nào đó, giai cấp tư sản cũng có
cơng nhất định trong lịch sử tiến hóa của nhân loại. Song, tất cả những thành tựu có
trong chủ nghĩa tư bản, đương nhiên khơng phải riêng của giai cấp tư sản mà là của cả
nhân loại, trong đó có giai cấp tư sản. Bởi vậy, đã là di sản văn hóa của nhân loại,
chúng ta tuyệt đối khơng được quay lưng lại, thậm chí những gì cho dù là của riêng
văn minh tư sản, thì cũng khơng được phép quay lưng lại mà phải biết tiếp thu, kế
thừa. Không bao giờ chúng ta được quên lời dặn của C.Mác và Ănghen: “Đừng vì
căm ghét chủ nghĩa tư bản mà khi hắt chậu nước dơ, lại hắt luôn cả đứa trẻ vừa được
tắm gội sạch sẽ”4. Những kinh nghiệm quản lý vốn, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là khoa
4. (09/09/2013). Đồ án Vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam. Truy cập từ />

học-công nghệ mà nhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản nhất thiết phải được
tiếp thu và kế thừa để tăng thêm sức mạnh nội lực cho đổi mới và phát triển.

2.Cơ sở thực tiễn để Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa
2.1. Xét trên phương diện lịch sử
2.1.1. Thế giới
Sự phát triển tuần tự theo từng nấc thang một là tính trên phạm vi tồn thế giới,
nhưng đối với từng quốc gia không nhất thiết phải như vậy. Trong quá trình phát triển

của lịch sử xã hội cũng đã có những quốc gia quá độ bỏ qua một hay một vài hình thái
kinh tế xã hội mà khơng đi tuần tự, ví như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam - Bắc
(1861-1865), nước Mỹ đã bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ phong kiến mà tiến thẳng
lên chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ với tư cách là
một chế độ đặc trưng, mà Việt Nam chỉ tồn tại chế độ nô tỳ. Như vậy, sự phát triển bỏ
qua một giai đoạn đã có tiền lệ trong lịch sử.
Thế giới sau cách mạng tháng Mười cũng đã có nhiều nước đi theo chế độ tư bản
chủ nghĩa, nhưng những nước thành công không phải là nhiều ở những nước đó vẫn
nghèo nàn và lạc hậu, bất bình đẳng. Điều đó chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản khơng
phải là một chế độ có thể giải phóng triệt để con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất
công mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai thì một loạt các nước giành được độc lập dân tộc đã
đi lên chủ nghĩa xã hội hay định hướng phát triển theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là
một sự khích lệ rất lớn các nước đang đấu tranh để giành độc lập dân tộc.

2.1.2. Việt Nam
Ngay sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta đã
đứng lên chống Pháp. Những cuộc đấu tranh khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam, những
chu-nghia-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-35596/

6


ông vua đã đứng lên chống Pháp, rồi các phong trào theo xu hướng tư sản đầu thế kỷ
XX do ảnh hưởng cách mạng dân chủ tư sản phương Tây và cách mạng Tân Hợi
(Trung Quốc) nhưng cuối cùng đều thất bại.
Cụ Phan Bội Châu về cuối đời đã nhận thức được con đường cách mạng Việt Nam,
Cụ viết: “May thay, đang giữa lúc khói bụi, mây mù, thình lình có một trận gió xn
thổi tới. Chính giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra.
Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy là chủ nghĩa xã hội vậy. Chủ nghĩa xã hội là xe

tăng của nhà triết học để xông vào thành lũy của chủ nghĩa đế quốc, mà cũng là tốn
qn vơ địch của nhà nhân từ để phá tan đồ đảng của chủ nghĩa tư bản”5.
Trong hoản cảnh đất nước bị quân xâm lược giày xéo, nước mất nhà tan, nhân dân
khổ cực lầm than. Bác Hồ của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đi qua
nhiều nước đế quốc, thuộc địa cũng như nửa thuộc địa. Q trình trình khảo sát cách
mạng đầy gian khổ đó người đã rút ra nhận định rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc khơng có con đường nào khác ngồi con đường cách mạng vơ sản.”6, bởi vì
“Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người có cuộc sống
tự do, bình đẳng, bác ái thực sự”7.
Nhân dân Việt Nam đã từng sống dưới chế độ phong kiến, chế độ thực dân Pháp đã
hiểu được bản chất của chế độ phong kiến, của chế độ tư bản chủ nghĩa, do vậy, đã
chấp nhận hy sinh, mất mát để giành cho được độc lập dân tộc và tiếp đó tiến hành
cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ để bảo bảo vệ chính quyền
nhân dân. Ngày nay, chúng ta phải giữ cho được chính quyền của giai cấp cơng nhân
và nhân dân lao động. Muốn thực hiện được điều đó chỉ có con đường duy nhất là đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn cách mạng các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã tạo ra sự phát triển về
kinh tế, chăm lo tới nhu cầu kinh tế, giáo dục, nâng cao mức sống cho nhân dân lao
động và thực tiễn phũ phàng do sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở những nước
này trong những năm qua đã đưa lại một hậu quả nặng nề cho nhân dân lao động như:
chiến tranh, nghèo đói, thất nghiệp, mất an ninh,…càng củng cố quyết tâm đi lên chủ
5. (1990). Phan Bội Châu: Tồn tập - tập 4. Huế: NXB Thuận Hóa.
6. (2011). Hồ Chí Minh: Tồn tập - tập 9. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc
7. (2011). Hồ Chí Minh: Tồn tập - tập 1. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc

7

gia - Sự thật.
gia - Sự thật.



nghĩa xã hội của Việt Nam, chúng ta cần hiểu thực chất của quá độ “bỏ qua” chế độ tư
bản chủ nghĩa, khơng phải là sự nhảy cóc, đốt cháy giai đoạn, phủ nhận sạch trơn
những yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa mà bỏ qua hậu
quả mà chế độ này tạo ra. Giai đoạn là một nấc thang của sự phát triển, chúng ta khơng
thể nhảy cóc bỏ qua các nấc thang đó. C.Mác đã khẳng định: “Một xã hội, ngay cả khi
phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó…cũng khơng thể nào bỏ qua
các giai đoạn tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó”8.
Trong thưc tiễn cách mạng Việt Nam, khơng thể tiến thẳng từ xã hội vốn là thuộc
địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất còn thấp kém lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua
những khâu trung gian, những hình thức quá độ cần thiết để phát triển các yếu tố hợp
thành xã hội tương ứng với trình độ mà giai đoạn tư bản chủ nghĩa của sự phát triển đã
đạt được. Do đó, bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cũng phải diễn
ra theo cái logic tất yếu đó, phải thực hiện được những chuyển biến cơ bản. Điều đó
địi hỏi chúng ta phải sử dụng và phát triển mọi phương diện của đời sống xã hội như:
sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư bản tư
nhân, kinh tế tư bản nhà nước, sự áp dụng các hình thức quản lý theo cơ chế thị
trường, có sự cạnh tranh như đấu thầu cổ phần, sử dụng một số hình thức pháp quyền
tư bản chủ nghĩa,...

2.2. Phương diện chính trị
Ngay từ năm 1921, chủ tịch Hồ Chính Minh đã nhận định, ở nước ta “Sự tàn bạo
của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi, chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc
là gieo cái hạt của công cuộc giải phóng mà thơi”9. Từ năm 1930 đến nay phong trào
cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ khác nhau đã trở thành một trào lưu hiện
thực quyết xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ
8. Thế

Nghĩa Nguyễn. (2004). Tuyển tập tạp chí Khoa học xã hội. Tp.Hồ Chí Minh:
NXB Khoa học Xã hội.

9. (2011). Hồ Chí Minh: Tồn tập - tập 1. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia - Sự thật.
8


nghĩa xã hội, không chấp nhận chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là sự lựa chọn chính trị tự
nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân và các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng, phù hợp với xu thế của thời đại.
Với những thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã nêu lên một nguyên
lý mới của thời đại. Đó là: chủ nghĩa tư bản có thể đánh bại tại vùng ngoại vi, trước
khi nó bị đánh bại tại chính q hương nó. Sau những cuộc chiến tranh chống xâm
lược, nhân dân Việt Nam hơn ai hết, hiểu rõ thực chất của chủ nghĩa tư bản, nên không
thể khơng tìm kiếm con đường phát triển đất nước bỏ qua chế độ đó. Bao nhiêu thành
quả cách mạng giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam không
thể lại đi theo con đường chủ nghĩa tư bản để rồi tự mình quay trở lại thân phận bị áp
bức, bóc lột, nơ lệ.
Yếu tố chính trị có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển hóa nhân tố thời
đại thành nguồn lực bên trong để xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay cả trong điều kiện
khơng có chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xơ (cũ) và Đơng Âu. Nói cách khác, trong
điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay cái tất yếu chính trị giữ vị trí hàng đầu, nhưng xét
đến cùng, trên quy mơ thời đại thì nhân tố chính trị này cũng bắt nguồn từ nguyên
nhân kinh tế. Cái tất yếu chính trị ấy sẽ thúc đảy sự ra đời những cơ sở kinh tế của chế
độ mới ở nước ta.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
quan hệ bóc lột vấn cịn, nhưng nó khơng phải là tuyệt nhiên, không phải là quan hệ
sản xuất thống trị. Điều này hoàn toàn đúng, cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn.
Rằng với nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cả thành phần kinh tế tư bản tư
nhân và tư bản nhà nước thì đương nhiên, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ
bóc lột tư bản chủ nghĩa vẫn còn. Song, do thành phần kinh tế nhà nước cùng với kinh

tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, nên quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa không thể trở thành quan hệ sản xuất thống trị được, mà trái lại, quan hệ sản
xuất này càng được củng cố và ngày càng xác lập vị trí thống trị của mình.

9


Trong hệ thống chính trị hiện nay ở đất nước ta nhân tố có vị trí hàng đầu là Đảng.
Đảng hồn thành vai trị của mình thơng qua xác định mục tiêu tiêu chính trị, định
hướng sự phát triển đất nước bằng cương lĩnh, bằng đường lối chiến lược, bằng những
nguyên tắc, chủ trương, đường lối đối ngoại.
Bên cạnh vai trị của Đảng trong tiến trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, Nhà
nước có vai trị quan trọng. Để rút ngắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân hoạt động trong khuân khổ pháp luật
nhằm đem lại quyền lợi cho nhân dân.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay đang diễn ta trong thời kỳ
đầy biến động, thời cơ lớn để phát triển đi liền với thách thức khó khăn. Đó là trong
bối cảnh tồn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng, sự hợp tác giao lưu kinh tế giữa các
nước trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ. Vì vậy, tính tất yếu của con
đường q độn lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa khơng có nghĩa là
bỏ qua những thành tựu tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được.
Thế giới ngày nay đang vận động theo xu thế hịa bình và phát triển. Mọi quốc gia
đều tập trung chú ý đến phát triển kinh tế. Điều này cho phép các dân tộc trong đó có
Việt Nam tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng trên thế giới để phát triển đất
nước.
Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một khu vực đang phát
triển năng động trong những thập niên vừa qua và trong tương lai. Với lợi thế về
nguồn nhân lực có chất lượng cùng tiềm lực vật chất - tài chính, cơng nghệ Châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực năng động trong những thập niên tới.
2.3. Chúng ta kế thừa những yếu tố hợp lí của chủ nghĩa tư bản, khơng có nghĩa

là đi lên tư bản chủ nghĩa
Bởi vì:
- Các yếu tố tư bản được sử dụng và phát triển nhằm phục vụ cho mục tiêu xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.

10


- Chúng ta không nhất thiết và không thể áp dụng tất cả những hình thức lịch sử,
những biện pháp, trình tự, bước đi với tất cả những đặc điểm lịch sử “đầy máu và nước
mắt” của giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
- Điều quan trọng nhất là chúng ta khơng để cho các yếu tố, các thuộc tính tư bản
chủ nghĩa chiếm vị trí chủ đạo, chi phối đời sống xã hội, mà phải làm cho các yếu tố
xã hội chủ nghĩa ngày càng vươn lên giữ vai trò đó.
Như vậy, thực chất vấn để “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” để đi lên chủ nghĩa xã
hội là bỏ qua chế độ chính trị thống trị áp bức, là bỏ qua về mặt lịch sử, bằng phương
thức “rút gọn” lịch sử, với những khâu trung gian, những hình thức q độ, những biện
pháp và bước đi thích hợp theo những định hướng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Đó
cũng là sự rút gắn giảm bớt những cơn đau đẻ về mặt lịch sử bằng hai nội dung: vừa
rút ngắn q trình cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, vừa bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, tiến lên chế độ chủ nghĩa xã hội.

2.4. Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng trong
điều kiện mới
Đại hội lần thứ VI (12 - 1986) - Đại hội đổi mới của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất
nước đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc. Chính tại đại hội này, Đảng ta đã thông
qua đường lối đổi mới nhằm khắc phục hậu quả của những sai lầm trong thời gian
trước và tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên. Đại hội khẳng
định, đổi mới khơng có nghĩa là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội đã được lựa chọn mà
là tiếp tục tìm ra phương thức, con đường hợp lý, có hiệu quả hơn để đi tới mục tiêu.

Phân tích tình hình thực tế, ngay từ Hội nghị Trung Ương 7 (khóa VI), Đảng ta đã
tiếp tục khẳng định tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội, khẳng định tính khách
quan và phương hướng xã hội của quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới. Đại hội lần thứ
VII của Đảng cũng đã khẳng định “Nhân dân quyết không chấp nhận con đường nào
khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa.”10.Quả vậy, tiếp tục phấn đấu vì mục tiêu chủ
nghĩa xã hội là sự lựa chọn cần thiết và đúng đắn. Điều đó thể hiện ở những lý do sau:
10. Phú

Hiệp Dương, Văn Hà Vũ & Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản (Việt Nam).
(2001). Tồn cầu hóa kinh tế. Tp.Hồ Chí Minh: NXB Khoa học Xã hội.
11


- Cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa là cuộc khủng hoảng mơ hình phát
triển. Chúng ta biết rằng, khi nghiên cứu về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Mác đã
có những dự đốn về xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa trên những nét đặc
trưng nhất. Trong mơ hình xác định đặc trưng chủ nghĩa xã hội là sở hữu công cộng
dưới hai hình thức quốc doanh và tập thể, việc quản lý kinh tế bằng một kế hoạch nhà
nước, một hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh, một cơ chế quan liêu bao cấp trong tổ chức
sản xuất cũng như phân phối. Những yêu cầu này rất phù hợp với yêu cầu thời chiến
trong việc huy động sức người, sức của, trong việc tổ chức quản lý lao động thời
chiến.
- Sự khủng hoảng của mơ hình cũ nói lên rằng cần phải có một mơ hình chủ nghĩa
xã hội có thể phát huy mọi nguồn lực của xã hội cho sự phát triển vì lợi ích của tồn
thể cộng đồng nhằm hiện thực hóa mục tiêu. Ở Việt Nam, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta
đã có sự phát triển mới trong định hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sự phát triển này
được thể hiện trong cương lĩnh được đại hội VII thông qua.
Trên cơ sở nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, Đảng và nhân dân ta đã đẩy mạnh
công cuộc đổi mới đưa Việt Nam thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, tiếp bước đi lên theo
định hướng, mục tiêu đã xác định, đó là chủ nghĩa xã hội. Như vậy là việc tiếp tục lựa

chọn chủ nghĩa xã hội khơng có nghĩa là tiếp tục con đường cũ, mơ hình cũ đã bị sụp
đổ, mà là sự đổi mới, tìm phương cách mới để đi đến mục tiêu. Cụ thể là chúng ta đã
chuyển sang mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Những hậu quả kinh tế - xã hội của Liên Xơ và Đơng Âu cho thấy tính cần thiết và
đúng đắn của việc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Liên xô thực hiện công cuộc
cải tổ nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là khơng nhất qn,
kiên trì mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn. Quá trình cải cách đã đi chệch
hướng, Đảng cộng sản đã mất quyền lãnh đạo cách mạng, các lực lượng cơ hội ngóc
đầu dậy giành quyền lực, đưa cuộc cải tổ theo xu hướng tư bản chủ nghĩa.
- Việc một loạt các nước xã hội chủ nghĩa cũ rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa
chuyển sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa khơng có nghĩa rằng thời đại ngày nay chủ
nghĩa xã hội khơng cịn là xu hướng phát triển của các dân tộc. Trên thực tế, do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, chủ nghĩa xã hội ở một
12


loạt nước sụp đổ “Khiến chủ nghĩa xã hộitạm thời lâm vào thối trào, nhưng điều đó
khơng làm thay đổi tính chất của thời đại; lồi ngươi vẫn trong thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.”11
- Chúng ta biết rằng, lịch sử của xã hội loài người là lịch sử vươn tới tự do. chủ
nghĩa xã hội chính là xã hội vươn tới đảm bảo cho con người sự phát triển toàn diện,
làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân, dựa trên chế độ tư hữu trong
thực tế không thể có được. Với việc khát khao tự do thì việc vận động đi lên, vượt qua
chủ nghĩa tư bản là sự đương nhiên.
- Từ khi ra đời chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn với tư cách là sự phủ nhận chủ
nghĩa tư bản, luôn bị giai cấp tư sản tìm cách chống phá, sự sụp đổ của một số nước xã
hội chủ nghĩa ngoài nguyên nhân bên trong, còn xuất phát từ sự chống đối, sự thù
địch. Song, sự sụp đổ này khơng nói lên rằng, chủ nghĩa tư bản là tiên tiến ưu việt hơn
chủ nghĩa xã hội. Đó chỉ là bước rích rắc trong con đường vận động, đi lên chủ nghĩa
xã hội, một xu hướng tất yếu của xã hội loài người.

- Cùng với những điểm trên thì xu hướng hịa hỗn quốc tế đã và đang tạo ra môi
trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Nhìn chung, các quốc gia hiện nay đều tập
trung vào phát triển kinh tế, coi đó là mục tiêu chiến lược. Điều này càng thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình hợp tác, liên kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ. Và qua đó các
quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển có thể hịa nhập nhanh vào tiến trình
phát triển chung.
- Một trong những đặc điểm của tiến trình lịch sử Việt Nam là: Đảng Cộng sản Người đại biểu lợi ích cho giai cấp vơ sản và dân tộc là người duy nhất có khả năng và
thực tiễn đã lãnh đạo phong trào cách mạng. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, lịch
sử đã đặt lên vai những người cộng sản nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ.
Trải qua quá trình đầy gian khổ, hy sinh Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được nhiều
thắng lợi, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận người nô lệ lên làm chủ nước nhà.
Ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa
cách mạng để tiến lên xã hội cộng sản. Trải qua hơn 80 năm qua khuynh hướng chính
11. (2003).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Hà Nội: NXB Lao động.
13


trị đó đã ăn sâu bám rễ trong xã hội Việt Nam, nó trở thành sức mạnh vật chất thúc đảy
xã hội tiến lên. Khơng có lý do gì, cho dù ngay cả sự sụp đổ của một số nước xã hội
chủ nghĩa lại có thể thay đổi được xu hướng bắt nguồn từ trái tim, từ sức mạnh nội tại
của cả dân tộc vốn có truyền thống yêu chuộng tự do. Chính vì vậy, việc tiếp tục lựa
chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sự phù hợp với mục tiêu của tồn Đảng, tồn dân
và tồn qn ta.
Có ý kiến cho rằng, xác định mục tiêu chủ nghĩa xã hội trong điều kiên một số nước
xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ là không thể thực hiện được do khơng cịn mẫu hình để noi
theo và sẽ rơi vào ảo tưởng. Thực chất của loại ý kiến này là muốn dân tộc ta từ bỏ
mục tiêu chủ nghĩa xã hội - mục tiêu sẽ đưa lại sự giàu có, hạnh phúc cho mọi người

dân, mục tiêu mà bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh, cống hiến cả cuộc đời. Thực
ra, sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở một số nước lại cho thấy là những mơ hình đó là
khơng phù hợp và đương nhiên chúng ta không thể noi theo, mà phải đổi mới, cải
cách, tìm ra hướng đi, mơ hình phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Từ thực tiễn thành công và thất bại của phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới,
cũng như chính từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta hồn tồn
có thể tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. chủ nghĩa xã hội với Việt Nam là một
xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, bình đẳng, văn minh. Đó chính là mục
tiêu cần đạt đến. Và lịch sử ngày nay đặt lên vai những người cộng sản và dân tộc Việt
Nam, bằng chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình tạo ra tấm gương và
cổ vũ các dân tộc khác vươn tới tự do, vươn lên chủ nghĩa xã hội.

14


Chương II. Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là sự tồn tại những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh
những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội, chúng tồn tại trong mối quan hệ vừa thống
nhất vừa mâu thuẫn với nhau trọng mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Theo nhận định của Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nước ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này
chi phối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và
làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong số tất cả những mâu thuẫn đó, Hồ Chí
Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa
nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế – xã
hội quá thấp của nước ta.
1.1. Trên lĩnh vực kinh tế

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển mà không kinh
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nên phải từng bước xây dựng lực lượng sản
xuất hiện đại, đồng thời phải xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Cho nên, mặc dù
chúng ta có lợi thế của nước đi sau, có thể đi tắt, đón đầu về khoa học và công nghệ,
song thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta chắc chắn rất lâu dài, gian khổ và
phức tạp.
Từ việc nghiên cứu, kế thừa và rút kinh nghiệm từ các nước đi trước trong việc thực
hiện thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta đã thực hiện nhiều đổi mới, sáng tạo
to lớn. Đó chính là việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, chấp nhận kinh tế thị
trường hay nói cách khác là “phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Trong nền kinh tế nhiều thành phần này, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
và các thành phần kinh tế khác cùng đan xen, bổ sung, hỗ trợ và đấu tranh với nhau.
Chính nền kinh tế nhiều thành phần này làm nảy sinh cơ cấu xã hội - giai cấp đa dạng,
phức tạp thậm chí đối lập, ln mâu thuẫn với nhau.

15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×