BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC CHIM
(Ban hành kèm theo Công văn số 2149/TCMT-BTĐDSH, ngày 14 tháng 9 năm
2016 của Tổng cục Môi trường)
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................. 3
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 4
I. Phạm vi điều chỉnh .......................................................................................... 6
II. Đối tượng áp dụng .......................................................................................... 6
III. Nguyên tắc điều tra đa dạng sinh học......................................................... 6
IV. Mục đích, ý nghĩa của điều tra ĐDSH chim .............................................. 6
PHẦN 2. QUY TRÌNH, KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC
CHIM .................................................................................................................... 8
I. Công tác chuẩn bị ............................................................................................ 8
1. Lập kế hoạch .................................................................................................. 8
2. Dụng cụ và hoá chất cần thiết ........................................................................ 9
2.1. Dụng cụ thu mẫu và các dụng cụ, thiết bị khác ....................................... 9
2.2. Dụng cụ chứa mẫu và hóa chất bảo quản .............................................. 10
2.3. Nhãn ....................................................................................................... 10
3. Kiểm tra trang thiết bị, dụng cụ ................................................................... 10
4. Thiết kế các tuyến/điểm điều tra .................................................................. 10
II. Phương pháp điều tra, quan sát và thu mẫu chim ................................... 11
1. Phương pháp điều tra ngoài thiên nhiên ...................................................... 11
1.1. Nhận biết loài ......................................................................................... 12
1.2. Phương pháp và kỹ thuật đếm số lượng cá thể ...................................... 13
1.3. Phương pháp ước lượng số lượng cá thể ............................................... 15
2. Điều tra qua người dân địa phương ............................................................. 15
3. Phương pháp bắt thả bằng lưới mờ (mist nets) ............................................ 15
III. Bảo quản và vận chuyển mẫu .................................................................... 16
1. Xử lý và bảo quản mẫu vật tại hiện trường.................................................. 16
2. Đăng ký mẫu vật .......................................................................................... 18
3. Vận chuyển mẫu........................................................................................... 18
IV. Phân tích mẫu vật trong phịng thí nghiệm.............................................. 19
1. Phân tích định loại (định tính) .................................................................... 19
2. Phương pháp tính số lượng .......................................................................... 24
1
V. Xử lý số liệu và viết báo cáo ........................................................................ 26
1. Tổng hợp và phân tích số liệu ...................................................................... 26
2. Viết báo cáo khoa học .................................................................................. 27
VI. Các vấn đề cần lưu ý khi khảo sát thực địa.............................................. 28
1. Các nguyên tắc cắm trại ............................................................................... 28
2. Bảo quản các trang thiết bị........................................................................... 28
3. Sức khỏe và y tế ........................................................................................... 29
PHỤ LỤC 1. GIỚI THIỆU MỘT SỐ KHÓA ĐỊNH LOẠI CHIM ............. 32
PHỤ LỤC 2. PHIẾU SƯU TẦM VÀ GIẢI PHẪU CHIM ............................ 44
PHỤ LỤC 3. PHIẾU LƯU TRỮ MẪU (ETE-KÉT)...................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 46
2
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Các lồi chim di cư q, hiếm được ưu tiên bảo tồn ............................... 5
Hình 2. Một số dụng cụ thiết bị điều tra, quan trắc chim ................................... 10
Hình 3. Thời gian hoạt động trong ngày của một số lồi chim........................... 12
Hình 4. Lưới mờ .................................................................................................. 16
Hình 5. Cách đo các phần cơ thể chim................................................................ 20
Hình 6. Các loại chân chim ................................................................................. 23
Hình 7. Các loại đi chim.................................................................................. 23
Hình 8. Các loại mỏ chim.................................................................................... 24
3
MỞ ĐẦU
Chim (Aves) là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng, đi
đứng bằng hai chân và đẻ trứng. Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 lồi cịn tồn
tại. Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới
châu Nam Cực. Các bằng chứng hóa thạch cho thấy, chim được tiến hóa từ các
lồi khủng long chân thú (Theropoda) trong suốt kỷ Jura, vào khoảng 150-200
triệu năm về trước, với đại diện đầu tiên được biết đến, xuất hiện từ cuối kỷ Jura
là Archaeopteryx (vào khoảng 155–150 triệu năm trước). Hầu hết các nhà cổ
sinh vật học đều coi chim là nhánh duy nhất của khủng long cịn sống sót qua sự
kiện tuyệt chủng Cretaceous -Tertiary vào xấp xỉ 65,5 triệu năm trước.
Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lơng vũ, có
mỏ và khơng răng, đẻ trứng có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn
ngăn, cùng với một bộ xương nhẹ nhưng chắc. Tất cả các lồi chim đều có chi
trước đã biển đổi thành cánh và hầu hết có thể bay, trừ những ngoại lệ như các
loài thuộc bộ Chim cánh cụt, bộ Đà điểu...
Nhiều loài chim vào một thời kỳ hàng năm thường di cư đến những nơi
rất xa để kiếm ăn hoặc trú đông, trong khi nhiều loài khác chỉ di cư ngắn. Chim
là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng
hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn
mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù.
Khi khái quát về chim có thể nói đó là những động vật có xương sống đi
bằng hai chân, thân phủ lơng vũ, chi trước biến đổi thành cánh. Chim hiện đại
tiến hóa theo 3 hướng: chim chạy (đại diện là các loài Đà điểu), chim bơi (bộ
Cánh cụt), chim bay. Bộ Sẻ (Passeriformes) là bộ trẻ nhất trong tiến hóa và đa
dạng nhất hiện nay.
Về đa dạng chim trên thế giới, theo tài liệu của Gill, F & D Donsker
(Eds). 2016. IOC World Bird List (v 6.2) đã xác định có 10.637 loài chim, 154
loài đã tuyệt chủng. Nếu kể cả loài phụ thì lên tới 20.490 lồi và lồi phụ thuộc
2.289 giống, 239 họ, 40 bộ.
Về chim ở Việt Nam, theo Danh lục chim Việt Nam (2011) có 887 lồi
chim. Nếu cập nhật danh lục chim Việt Nam sẽ xuất bản trong năm nay trong
cuốn Chim Việt Nam (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) thì sẽ lên tới 906 lồi. Hiện
nay, ở Việt Nam nhiều tác giả đã sử dụng các hệ thống danh lục chim Việt Nam
như trên để xây dựng danh lục chim trong các điều tra, quan trắc chim ở các khu
vực khác nhau. Chim Việt Nam khơng chỉ đa dạng về thành phần lồi mà cịn có
nhiều lồi mới được phát hiện cho khoa học trong những năm gần đây, nhiều loài
đặc hữu phân bố hẹp. Theo Birdlife International và IUCN Redlist có khoảng
1.227 lồi chim trên thế giới đang bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau.
Chim có tầm quan trọng đối với con người, đa phần được sử dụng làm thức ăn
thông qua việc săn bắn hay chăn ni. Một vài lồi chim trong phân bộ Sẻ hay bộ
4
Vẹt được nuôi làm cảnh. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1.200 lồi chim đang
trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng bởi các hoạt động từ con người trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, mặc dù chúng ta vẫn đang có những nỗ lực bảo vệ chúng.
Đứng trước nguy cơ suy giảm của các loài chim trong tự nhiên đặc biệt
các loài chim thuộc danh mục động vật quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và các
loài di cư, việc thu thập, đánh giá, khảo sát về đa dạng sinh học chim là một hoạt
động cần phải được thực hiện. Việc điều tra đa dạng sinh học chim sẽ cung cấp
các thông tin quan trọng để có thể quản lý hiệu quả đa dạng sinh học theo các
mục tiêu chung của khu vực cũng như ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Tổng cục
Mơi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các cơ quan và tổ
chức xây dựng tài liệu hướng dẫn điều tra đa dạng sinh học chim được giới thiệu
trong tài liệu này.
Hướng dẫn được xây dựng trên nguyên tắc tham khảo kinh nghiệm, tài
liệu của quốc tế và của Việt Nam và đặc biệt thực tiễn đã được áp dụng tại Việt
Nam thời gian qua. Trên cơ sở này, Hướng dẫn được kế thừa, phát triển và hệ
thống hóa đảm bảo cập nhật, hiện đại phù hợp với đặc thù đa dạng sinh học Việt
Nam nhằm điều tra, xây dựng và thiết lập dữ liệu đa dạng sinh học đồng bộ phục
vụ công tác quản lý nhà nước về đa dạng sinh học. Việc tham khảo các tài liệu
đều được trích dẫn theo quy định hiện hành.
Cị thìa (Nguồn: VQG Xuân Thủy, 2013)
Sếu đầu đỏ về VQG Tràm Chim
(Ảnh Kim Sơn-Báo ảnh Việt Nam)
Rẽ mỏ thìa (Nguồn: VQG Xuân Thủy,
2013)
Cị trắng trung quốc
(Nguồn: VQG Xn Thủy, 2013)
Hình 1. Một số loài chim di cư quý, hiếm được ưu tiên bảo tồn
5
PHẦN 1. QUY ĐỊNH CHUNG
I. Phạm vi điều chỉnh
Tài liệu này hướng dẫn điều tra đa dạng sinh học ở Việt Nam. Trong quá
trình thực hiện, Bộ Tài nguyên và Mơi trường có thể điều chỉnh, cập nhật hướng
dẫn phù hợp với diễn biến về hiện trạng đa dạng sinh học, mục tiêu và chiến
lược bảo tồn đa dạng sinh học trong thực tế.
II. Đối tượng áp dụng
Hướng dẫn này được quy định áp dụng rộng rãi cho các tổ chức, cá nhân
liên quan bao gồm:
2.1. Các các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm và quyền hạn nghiên cứu,
quản lý bảo tồn đa dạng sinh học.
2.2. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện, kiểm tra và giám sát
đa dạng sinh học.
III. Nguyên tắc điều tra đa dạng sinh học
1) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất dữ liệu ĐDSH từ Trung ương đến
địa phương.
2) Đảm khơng gây tác động có hại tới đa dạng sinh học và môi trường
vùng điều tra.
3) Kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phịng, an ninh với u cầu thơng tin, dữ
liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về ĐDSH.
4) Việc điều tra ĐDSH bảo đảm việc cập nhật, bổ sung thông tin, dữ liệu
về ĐDSH cung cấp cho các nhu cầu sử dụng và được công bố trong hệ thống chỉ
tiêu thống kê ngành tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật.
5) Trang thiết bị sử dụng trong điều tra ĐDSH bảo đảm chủng loại, tính
năng kỹ thuật ở mức trung bình tiên tiến trên thế giới và khu vực, phù hợp với
điều kiện của Việt Nam.
IV. Mục đích, ý nghĩa của điều tra ĐDSH chim
Điều tra đa dạng sinh học chim nhằm xác định thành phần lồi, các mức
độ đa dạng, tình hình phân bố và biến động số lượng; qua đó đánh giá mối quan
hệ với yếu tố môi trường, cụ thể như sau:
- Đánh giá được hiện trạng ĐDSH chim ở vùng điều tra với các dẫn liệu
về số lượng loài, số lượng cá thể, đặc biệt các loài nguy cấp, quý hiếm, được ưu
tiên bảo vệ;
- Đánh giá tác động, diễn biến phân bố chim theo không gian (sinh cảnh,
vùng phân bố...) và thời gian (theo mùa khí hậu);
6
- Góp phần cảnh báo sớm các hiện tượng suy thoái hệ sinh thái, nơi cư trú
và kiếm mồi của chim và ĐDSH nói chung;
- Góp phần xây dựng các báo cáo hiện trạng ĐDSH;
- Đáp ứng theo các yêu cầu khác của các cơ quan quản lý.
7
PHẦN 2. QUY TRÌNH, KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC
CHIM
I. Công tác chuẩn bị
1. Lập kế hoạch
Trước khi tiến hành điều tra đa dạng sinh học, cần thực hiện các bước
chuẩn bị như sau:
a) Chuẩn bị tài liệu: bao gồm các bản đồ, sơ đồ, thông tin chung về khu
vực dự định điều tra;
b) Theo dõi dự báo thời tiết, tìm hiểu điều kiện khí hậu, thuỷ văn, hải văn
để đề phòng thời tiết xấu ảnh hưởng đến kết quả điều tra đa dạng sinh học tại
hiện trường, đồng thời xác định thời gian thực hiện điều tra phù hợp theo lịch
thủy triều tại địa phương (với địa điểm điều tra ở vùng ven biển, ven đảo);
c) Lên danh sách nhân sự và danh mục các dụng cụ, thiết bị điều tra, thu
mẫu. Đồng thời cần thiết kiểm tra, vệ sinh và hiệu chuẩn các thiết bị và dụng cụ
quan sát, đo đạc, thử trước khi ra hiện trường;
d) Chuẩn bị hoá chất, vật tư, dụng cụ phục vụ lấy mẫu và bảo quản mẫu:
- Các hóa chất bảo quản mẫu;
- Các dụng cụ chứa mẫu theo tiêu chuẩn;
- Hộp, thùng bảo quản mẫu phù hợp với điều tra đa dạng sinh học;
- Dụng cụ, thiết bị hỗ trợ khác: máy định vị vệ tinh (GPS), máy ảnh, máy
quay phim...;
- Văn phịng phẩm: giấy, bút, băng dính, sổ ghi chép,....
đ) Chuẩn bị nhãn mẫu;
e) Chuẩn bị các biểu mẫu, phiếu điều tra, phỏng vấn, nhật ký điều tra và
phân tích;
g) Chuẩn bị các tài liệu có liên quan khác:
- Bản đồ hành chính của địa phương tiến hành điều tra và sơ đồ các tuyến,
điểm điều tra tại địa phương;
- Giấy đi đường và cơng văn cử đồn đi điều tra đa dạng sinh học (nếu
cần);
- Các tài liệu, biểu mẫu khác.
h) Chuẩn bị các phương tiện phục vụ hoạt động lấy mẫu và vận chuyển
mẫu: xe ô tô, xe máy, canô, xuồng máy, tàu thuyền...;
i) Chuẩn bị các thiết bị bảo hộ, an toàn lao động: quần áo bảo hộ lao động,
mũ, áo mưa, áo phao, ủng cao su, găng tay, túi cứu thương, dược phẩm…;
8
k) Chuẩn bị kinh phí;
l) Phân cơng cán bộ đi điều tra: căn cứ vào kế hoạch điều tra đa dạng sinh
học đã được xây dựng, thủ trưởng đơn vị thực hiện hoặc cán bộ chủ trì có trách
nhiệm thơng báo, giao nhiệm vụ cụ thể, giới thiệu và thống nhất phương pháp
điều tra chim đến từng cán bộ tham gia trước khi thực hiện điều tra;
m) Chuẩn bị cơ sở lưu trú cho cán bộ công tác dài ngày (nếu cần);
n) Liên hệ với các cơ quan hữu quan tại địa bàn điều tra để việc thực hiện
đợt điều tra được thuận lợi.
2. Dụng cụ và hoá chất cần thiết
2.1. Dụng cụ thu mẫu và các dụng cụ, thiết bị khác
- Dụng cụ thu mẫu chim phổ biến và hiệu quả đối với các lồi chim bay
kích thước nhỏ và trung bình là lưới mờ. Các lồi chim hoạt động trên mặt đất
có thể dùng bẫy. Đối với nhiều lồi chim hót, có thể dùng chim mồi để bẫy.
Cũng có thể dùng loa phát để dẫn dụ chim tới và dùng lưới mờ quây bắt.
- Các trang thiết bị cần thiết: thiết bị quan trọng đối với điều tra chim là ống
nhịm từ 8 x 40 trở lên, ngồi ra với chim nước cần ống field scopes, máy đo khoảng
cách, máy định vị GPS, sách hướng dẫn định loài chim Việt Nam, máy ghi âm,
loa phát, máy ảnh có ống kính zoom quang học lớn (24 – 42 lần) hoặc máy ảnh
ống kính rời có ống tele từ 200 mm trở lên, chân máy ảnh (monopod hoặc
tripod) có trọng lượng phù hợp với người dùng. Máy ảnh có gắn ống téle hoặc gắn
vào ống field scopes qua ống nối cũng được để chụp ảnh chim.
- Các tài liệu hướng dẫn nhận dạng nhanh chim ở ngồi thiên nhiên có
ảnh màu minh họa của Việt Nam và Đông Nam Á (South-East Asian) cần có để
định loại.
- Về nhận dạng tiếng chim: trên cơ sở thu âm (cần có thiết bị thu âm định
hướng parabola direction) yều cầu có đĩa, file tiếng chim để so sánh.
- Đồng hồ bấm đếm.
- Bản đồ, la bàn, máy định vị vệ tinh (GPS).
- Thước dây (dài 5-10m)
- Sổ ghi chép, bút chì...
9
Hình 2. Một số dụng cụ thiết bị điều tra, quan trắc chim
2.2. Dụng cụ chứa mẫu và hóa chất bảo quản
Dùng các loại lọ, túi, vải màn, thùng đựng vật mẫu; Một số hóa chất xử lý
bảo quản: cồn công nghiệp 70o, formalin, phèn...
2.3. Nhãn
Nhãn phải là loại giấy bóng mờ, khơng bị hỏng khi ngâm trong nước,
trong cồn hoặc formol; Thẻ nhãn đeo.
3. Kiểm tra trang thiết bị, dụng cụ
Di chuyển nhân lực, thiết bị tới khu vực điều tra. Trước khi đi thực địa
điều tra, thu mẫu phải chuẩn bị và kiểm tra đầy đủ các dụng cụ, hóa chất, các
biểu ghi.
4. Thiết kế các tuyến/điểm điều tra
Phương pháp lập tuyến điều về cơ bản tương tự điều tra các sinh vật khác
là tuyến điều tra được thiết kế đi qua tất cả các sinh cảnh đại diện cho khu vực
nghiên cứu. Ở khu vực bìa rừng hoặc các lối mịn có khoảng trống, chim thường
10
tập trung số lượng lớn và số loài phong phú. Ngược lại, nhiều loài chim bụi và
đặc trưng cho rừng thường xanh lại chỉ gặp với số lượng ít trong sinh cảnh rừng
nguyên sinh. Khi điều tra trên tuyến, cần chia thành nhóm nhỏ 2-3 người để hỗ
trợ quan sát và thảo luận khi cần thiết.
Đối với chim biển, để có kết điều tra phù hợp cần phải xác định rõ khu
vực kiếm ăn, làm tổ, cư trú để tiến hành thành lập các trạm, địa điểm và khu vực
khảo sát. Phương pháp nghiên cứu thực địa đối với chim di cư, định cư, ven bờ
và ngoài khơi, hải đảo có bản giống nhau. Riêng đối với các lồi chim di cư cần
có thơng tin cụ thể thời gian di cư đến và thời gian rời khỏi nước ta.
Dựa vào sự phân bố, khu vực kiếm ăn và khu vực làm tổ ở các hệ sinh
thái khác nhau có thể chia chim biển ở nước ta thành hai nhóm:
- Nhóm chuyên sống kiếm ăn ở các cửa sông, ven biển, vùng nước lợ,
thậm chí một số lồi chun kiếm ăn ở cả các hồ nước ngọt lớn trong đất liền,
các đảo nhỏ gần bờ, đây là các loài chim biển vừa bay kiếm mồi vừa đậu rình
mồi. Tuy nhiên có ít loài kiếm ăn và bắt mồi trong lúc bay lượn.
- Nhóm chuyên sống thành bầy đàn với số lượng cá thể đông, kiếm ăn bay
lượn ở các khu vưc cửa sông, các vùng vịnh gần bờ, các bài triều ven biển trong
đó chủ yếu ở các vùng vịnh, hải đảo. Các loài chim di cư hay bơi lội khi kiếm ăn
và nghỉ ngơi thuộc bộ ngỗng (Anseriformes); các loài chim kiếm ăn ở ven bờ,
bãi triều khi nước rút thuộc bộ Rẽ (Charadriiformes); các loài chim định cư làm
tổ ở các đảo xa đất liền và một số vùng cửa sông lớn, các đảo xa bờ trong các
vịnh, ven biển thuộc các loài bộ Hải âu (Procellaiiformes), các loài họ Chim
nhiệt đới (Phaethontidae) và hầu hết các loài họ Chim điên (Sulidae) của bộ Bồ
nơng (Pelecaniformes) và họ Mịng bể (Laridae). Hầu hết thời gian đối với các
loài thuộc nhóm chim này đều bay lượn kiếm mồi trừ thời gian nghỉ và ngủ đêm,
một số cá biệt đậu rình mồi.
II. Phương pháp điều tra, quan sát và thu mẫu chim
1. Phương pháp điều tra ngoài thiên nhiên
Phương pháp này được áp dụng với các đối tượng chim trên lục địa, chim
biển bao gồm các nhóm chim định cư, di cư, các quần thể chim kiếm ăn ven bờ,
ngoài khơi và hải đảo.
Yêu cầu khi điều tra theo tuyến: kỹ năng quan sát liên tục và kiên nhẫn
bằng ống nhòm và lắng nghe tiếng hót của chim. Khi gặp chim thì tiếp cận
nhanh, nhẹ, khơng gây ồn ào, tuyệt đối khơng nói chuyện hoặc gọi nhau. Nếu
góc chụp ảnh tốt thì phải thao tác máy nhanh chụp được ảnh đối tượng để đối
chiếu, so sánh với ảnh trong sách hướng dẫn. Ln mang theo sổ ghi chép và bút
chì để ghi nhận thơng tin, chú thích hoặc vẽ lại đối tượng nghiên cứu. Nếu
nghiên cứu một số nhóm lồi riêng, cần sưu tầm tiếng hót và dùng loa phát để
dẫn dụ chim tới.
11
1.1. Nhận biết loài
Để nhận biết được loài chim trong tự nhiên, điều tra viên cần có kiến thức
kinh nghiệm và kỹ năng quan sát sau đây:
Nhận biết loài qua hình thái cơ thể: cơ thể chim có thân hình thoi, mỏ,
đầu, cổ và chân ngắn hoặc dài, cánh nhọn hoặc tròn, bằng v.v. Cần căn cứ vào
màu sắc các phần trên cơ thể và chiều dài mỏ, cổ, chân, cánh và đi để phân
biệt các họ chim. Chim có trọng lượng trên 1 kg được gọi là chim cỡ lớn
(thường là nhóm chim ăn thịt: đại bàng, diều hâu v.v.), các lồi thuộc họ trĩ (gà
lơi trắng, cơng, trĩ sao v.v.), các loài hồng hoàng, cao cát. Các loài sống ở môi
trường nước cỡ lớn như sếu, bồ nông v.v. Phần lớn chim cỡ trung bình và cỡ
nhỏ (ví dụ: các lồi chim kích thước nhỏ phần lớn thuộc bộ chim sẻ
Passeriformes và chúng chiếm tới ½ tổng số lồi chim của Việt Nam).
Nhận biết lồi qua tập tính: Cách bay lượn của một số đại diện có đặc
trưng riêng. Các loài chim ăn thịt ban ngày thường bay lượn trên cao một cách
từ từ do cánh tròn, rộng để săn mồi; các loài chim họ yến bay nhanh do cánh
nhọn; các loài họ hồng hoàng hoặc chim cỡ lớn bay trong rừng thường phát ra
tiếng động lớn như cánh quạt. Một số lồi có tập tính cắt mình lao xuống bắt
mồi đặc trưng hoặc tập tính đi theo đàn, đi lẻ, theo đôi. Những đặc điểm này cần
được kết hợp ghi nhận để xác định loài ngoài thiên nhiên.
Nhận biết qua thời gian hoạt động: Các loài chim cú thường săn mồi và
hoạt động ban đêm, các loài chim họ gà (thuộc họ chim Trĩ) hoạt động sáng sớm
và chiều tối, nghỉ buổi trưa. Đa số chim hoạt động mạnh lúc sáng sớm và chiều
tối, vào buổi trưa chim hoạt động kém hơn. Cần lưu ý trong các lồi chim ăn
thịt, có nhóm lồi săn mồi ban ngày và có nhóm lồi săn mồi ban đêm. Có hai
thời điểm trong ngày là vào buổi sáng sớm và chiều muộn trong khi đó thời
điểm vào giữa ban ngày, chim rất ít hoạt động. Tập tính này là điều kiện để lựa
chọn thời điểm điều tra, quan sát chim thuận lợi nhất trong ngày.
Hình 3. Thời gian hoạt động trong ngày của một số loài chim
(Nguồn: Colin Bibby, Martin Jones and Stuart Marsden, Bản dịch Nguyễn Đức Tú, 2003)
12
Nhận biết lồi qua tiếng hót: Nhiều lồi thuộc bộ chim giống nhau về
hình thái và chỉ phân biệt được chúng qua tiếng hót (các họ khướu, chích chịe,
chào mào, chim chích v.v.). Kỹ năng nhận biết này được hình thành và tích lũy
thơng qua việc ghi âm lại tiếng hót để so sánh. Nếu ghi âm được và có loa phát,
có thể bật loa dẫn dụ chim tới gần để quan sát chi tiết hơn.
Nhận biết giới tính: Đối với những lồi chim có sự sai khác giới tính thì
màu sắc bộ lơng và hình dạng cấu tạo cơ thể của hai giới là khác nhau. Ví dụ,
con đực của nhiều lồi như cơng, trĩ có màu sắc sặc sỡ và bộ lông phát triển đặc
biệt là lông đuôi; phương chèo đực thường màu đỏ, phường chèo cái màu vàng
v.v.
Nhận biết độ tuổi phát triển: Các mức độ phát triển được mô tả là: chim
non ở tổ, chim non rời tổ, chim non, chim non trưởng thành và chim trưởng
thành. Bộ lông của chim non thường sai khác với chim trưởng thành (thường
nhạt màu hơn, đa số có đốm trắng nhạt, gốc mép mỏ có nếp da trần rộng, màu
trắng nhạt).
1.2. Phương pháp và kỹ thuật đếm số lượng cá thể
Để đếm số lượng cá thể của một bầy chim ven biển, người đếm có thể viết
số đếm vào sổ tay, ghi vào băng cát-xét, có một người khác ghi hoặc sử dụng
đồng hồ bấm đếm. Kỹ thuật đếm cụ thể như sau:
- Quan sát kỹ từng cá thể chim bằng ống nhịm hoặc kính viễn vọng và
đếm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7... v.v...
- Đếm từng nhóm nhỏ trong một đàn rải rác rồi ghi tất cả các con số lại
với nhau, tổng số sẽ là số đếm ghi vào phiếu điều tra. Ví dụ có tất cả 3 nhóm
trong đó nhóm 1 là 3, nhóm 2 là 12, nhóm 3 là 5. Như vậy tổng số cá thể sẽ là
3+12+5 = 20 cá thể.
- Đếm từng đơi, ba cá thể một. Ví dụ, 2, 4, 6, 8, 10... hoặc 5, 10, 15, 20....
Kiểu đếm này cho phép đếm nhanh hơn.
Việc đếm có thể do một người hoặc một đội hai người tiến hành. Một
người sẽ gặp nhiều khó khăn khi đếm các đàn lớn nếu khơng có máy ghi âm
hoặc đồng hồ đếm. Tuy nhiên, có thể khắc phục bằng cách sử dụng các dấu hiệu
trên mặt đất như cọc hoặc gò đất... để chia ra thành từng nhóm, đếm các nhóm
rồi dừng lại ghi vào sổ tay và tính tổng số.
Nếu có hai người, ta có thể phân cơng một người đếm bằng ống nhịm
hoặc kính viễn vọng, rồi đọc cho người cịn lại ghi kết quả vào sổ hoặc phiếu
điều tra đã chuẩn bị. Một nhóm hai người sẽ cho phép thảo luận về số lượng ước
tính hay về định loại của lồi.
Việc đếm có thể thực hiện theo hai cách:
13
- Đếm từng lồi, có nghĩa là đếm tồn bộ cá thể của một loài rồi đến loài
khác v.v... bắt đầu với loài xuất hiện nhiều nhất trên bãi và kết thúc ở lồi ít cá
thể nhất. Ví dụ, đếm được 613 con Choi choi khoang cổ, đàn Choắt lớn có kích
thước khoảng một nửa đàn Choi choi khoang cổ, ta có thể ghi "khoảng 300
Choắt lớn".
- Đếm tồn bộ các loài, nghĩa là quan sát cả đàn và đếm. Ví dụ: Choắt
nhỏ, 2; Choi choi mỏ cong, 1; Choi choi xám, 3; Choắt nhỏ, 4;... đến khi đếm
hết toàn bộ chim trên bãi.
Đếm chim đang bay:
- Đối với những đàn đang bay với số lượng lớn, bay dày đặc và thường
xun đổi hướng có thể rất khó đếm chính xác, thì cần định loại được những lồi
ưu thế và ước lượng được số lượng của loài.
- Đối với một số đàn ít cá thể, bay thành một đường dọc hoặc thành các
nhóm nhỏ ta có thể định loại và đếm một cách rất dễ dàng.
- Khi đếm đàn đang bay có thể đếm từ đầu đến cuối, điều này sẽ tạo cảm
giác bầy chim bay qua thị trường của ống nhòm, hoặc đếm từ cuối đàn lên đầu,
điều này cho phép điều hòa tốc độ chim chạy qua thị trường của ống nhòm.
Đếm chim đang kiếm ăn:
- Đếm chim ở các bãi triều, đầm lầy, ruộng lúa v.v... khi mà khoảng cách
từ người đếm đến bầy chim phù hợp và địa hình tương đối bằng phẳng.
- Đếm chim đang kiếm ăn sẽ dễ dàng hơn nếu ở vùng có các vật làm mốc
để chia ra các khu vực nhỏ.
- Các vật mốc tốt nhất là cọc lưới, rạch nhỏ hay mô đất, đếm chim lần lượt
ở các khoảng giữa hai vật mốc và tính tổng.
Đếm ở điểm chim trú chân khi thủy triều cao (đối với chim ven biển):
Vùng dừng chân của chim khi mực thủy triều cao thường là vị trí tương
đối gần vùng lộ triều. Chim ở những vùng khơng bị ảnh hưởng của thủy triều
thường tìm chỗ trú chân vào buổi chiều tối. Đếm chim ở vùng trú chân là biện
pháp rất hữu hiệu để xác định thành phần loài, độ phong phú và sự biến đổi quần
thể. Trong nhiều trường hợp, một bãi trú chân là nơi tập trung số lượng chim
ven biển ở nhiều vùng bãi triều gần đó. Một vùng trú chân an toàn sẽ được chim
ghi nhớ và sử dụng trong rất nhiều năm.
Đếm chim ở bãi trú chân bằng các phương pháp sau: Lướt khắp vùng
bằng ống nhịm để tìm chỗ chim tập trung; Đếm hay ước lượng số lượng của cả
bầy lớn bằng ống nhịm, Ví dụ, 2.000 chim; Dựng kính viễn vọng và bắt đầu
đếm theo một hướng, Ví dụ trái sang phải, để định loại và rồi ghi vào sổ tay;
Đánh giá lồi ưu thế trong bầy, ví dụ Choắt lớn 40%, Choi choi khoang cổ 10%.
14
Khi có thể, bắt đầu đếm từng cá thể bằng cách lia kính viễn vọng từ từ và ghi
nhận từng cá thể một.
Hoàn tất các bước trên cho phép đảm bảo thu thập đủ số liệu kể cả trong
trường hợp đàn chim bị đánh động và rời khỏi nơi trú chân.
1.3. Phương pháp ước lượng số lượng cá thể
Phương pháp dễ và chính xác để ước lượng số lượng chim là đếm theo
khối. Phương pháp này có thể sử dụng với các đàn lớn, các đàn dày đặc, các đàn
ở khoảng cách xa khi chúng bay hoặc đậu. Phương pháp này đòi hỏi đếm hay
ước lượng số lượng chim của một "khối" trong một bầy. Tùy vào kích cỡ của
bầy, một "khối" có thể là 10, 100, hay thậm chí 1.000 cá thể. Khối này sẽ là
chuẩn để xác định phần còn lại của đàn.
2. Điều tra qua người dân địa phương
- Điều tra qua những người thường tiếp xúc và hiểu biết nhiều về chim
(người già có kinh nghiệm lâu năm, người dân địa phương…).
- Dùng bộ ảnh màu chuẩn các loài chim để nhận biết nhanh các đối tượng
chim cần phỏng vấn. Người dân địa phương cung cấp các dẫn liệu về lồi, số
lượng lồi phổ biến có mặt ở các địa điểm trong các khu vực; thời gian xuất
hiện, sự thay đổi về số lượng các loài di cư đến trú đông qua các tháng, mùa,
năm khác nhau.
- Sưu tầm tên gọi địa phương, tên dân tộc ngồi tên phổ thơng đối với các
lồi chim nghiên cứu, khảo sát.
- Thu thập các thông tin về hiện trạng săn bắt chim ở địa phương.
3. Phương pháp bắt thả bằng lưới mờ (mist nets)
Lưới mờ hay còn gọi là lưới nhện thường có chiều cao ít thay đổi (4m)
nhưng chiều dài có thể 4m, 6m, 12m...Đánh lưới mờ là một phương pháp hữu
hiệu để điều tra được các loài chim cỡ nhỏ, sống và kiếm ăn trong các bụi rậm,
di chuyển nhanh và lẩn tránh dưới tán rừng, khó quan sát và khó có thể ghi nhận
bằng kỹ thuật khác. Nhưng ngược lại, lưới mờ lại không hiệu quả với các lồi
chim cỡ lớn (gả rừng, gà lơi, cơng, trĩ sao...) vì khi bị mắc lưới, chúng sẽ làm
hỏng lưới. Kỹ thuật đánh lưới có thể so sánh các lồi thuộc nhóm chim giữa các
địa điểm điều tra khác nhau. Tuy nhiên, cần cân nhắc trước khi sử dụng đánh
lưới, người đánh lưới phải được huấn luyện, đào tạo để tránh đe dọa tới cá thể
chim bị bắt.
Lưới có thể được giăng trong các ô ngẫu nhiên hoặc trên một đường
thẳng với thời gian ít nhất là 2 ngày. Lưới được giăng khoảng 3 – 4 giờ từ lúc
rạng sáng và khoảng 2 tiếng trước lúc trời tối, thông thường số lượng chim buổi
chiều tối muộn ít hơn nhiều so với buổi sáng sớm. Kết quả điều tra có thể ghi
nhận số cá thể bị bắt trên 1m lưới (số cá thể/m lưới). Đối với cá thể chim mắc
15
bẫy, được xác định lồi, giới tính, tình trạng sinh sản (mức độ nhăn nheo của da
bụng đối với con cái). Đánh dấu các cá thể bị bắt bằng vòng kim loại hoặc vịng
có màu sắc để khơng ghi nhận các cá thể này vào tổng số cá thể đã bắt được.
Cần kiểm tra lưới ít nhất mỗi nửa giờ, đặc biệt khi trời quá nóng. Lưới cần đóng
lại khi có mưa. Mỗi lần kiểm tra lưới, cần vệ sinh lưới như nhặt lá khơ hoặc cơn
trùng, dơi bị dính lưới. Sử dụng kẹp thận trọng nhặt ra đề phòng làm hỏng lưới.
Biểu mẫu ghi số liệu đặt lưới mờ
Ngày:
; Giờ giăng lưới:
; Giờ cất lưới:
Người quan sát 1:
; Tờ số...của...tờ:
; Người quan sát 2:
Giờ lưới (số giờ giăng lưới x số lưới):
;Tên khu vực:
;Điểm giăng lưới:
Thời tiết trước và lúc bắt đầu giăng lưới:
Thời
gian
Lưới
số
Lồi
Đánh
dấu
Tuổi
Đực/cái
Sinh
sản
Thay
lơng
Ghi
chú
B: Cách cuốn lưới mờ
A: Cách giăng lưới mờ
Hình 4. Lưới mờ
(Nguồn: Dự án Vie/91/G31 trong SPAM, 2003)
III. Bảo quản và vận chuyển mẫu
1. Xử lý và bảo quản mẫu vật tại hiện trường
Đối với chim, chỉ quan sát là chính. Việc thu mẫu chỉ thực hiện đối với
các loài chưa xác định được tên khoa học hay cịn nghi ngờ, cơng cụ để bắt các
lồi chim này thông thường được được sử dụng lưới mờ với kích thước (2,5 x 12
m) cỡ mắt (19x19mm) và (30x30mm). Chim bắt được sẽ được định loại và xác
định tên khoa học đồng thời thả ngay về tự nhiên. Vì vậy, số lượng lồi cần thu
16
làm mẫu khơng xác định, phụ thuộc vào số lồi được phát hiện mới bổ sung vào
kết quả sau các đợt nghiên cứu.
Mẫu của các loài chim bị chết trong lưới mờ hoặc tịch thu được từ thợ săn
bắt chim trái phép hoặc từ những vụ buôn bán chim trái phép được sử dụng để
định tên và làm tiêu bản cho khu bảo tồn thiên nhiên hoặc bảo tàng phải được xử
lý và bảo quản.
Đối với các loài chim nhỏ (nặng vài trăm gram), để lưu giữ được cần mổ
lấy hết nội quan và ngâm vào cồn công nghiệp 70o, nếu ngâm lâu, cần bổ sung
thêm cồn mới (vì nồng độ cồn giảm sau khi ngâm mẫu chim một thời gian
ngắn). Có thể dùng formalin nồng độ 9%. Tuy nhiên, mẫu ngâm formalin
thường bị biến dạng và khơng có khả năng xử lý tiếp.
Các lồi có kích thước lớn hơn (như gà rừng, gà lơi, cơng, diều hâu, cắt..),
thì chỉ lột da, lấy bộ lơng (có xăng đầu/hộp sọ sau khi lấy hết não ra), giị,
xương gốc cánh và đi. Lấy hết mỡ bám trên da nếu có, sau đó dùng phèn chua
(1 phần), muối ăn (2 phần), giã nhỏ, trộn đều và xát kỹ lên mặt trong của da
chim (chú ý không được làm bẩn bộ lông), để nguyên bộ da lơng trong bóng râm
vài ngày (tùy thuộc vào độ lớn của da), sau đó, cuốn và gói bộ da lại chờ xử lý
tiếp, phục vụ định tên hay làm mẫu vật lưu giữ, trưng bày.
Cả hai trường hợp trên, trước khi vứt bỏ nội tạng, cần xác định đực, cái
(nếu khơng thể hiện bằng bộ lơng) thì dựa trên buồng trứng hoặc tinh hoàn. Cần
thiết ghi nhận các thơng tin về màu sắc lơng, mắt, giị, da trần ở vùng đầu...
Mẫu nhồi trưng bày
Các mẫu dự định nhồi, trưng bày trong các bộ sưu tập hoặc bảo tàng, tuần
tự thực hiện các bước sau: Thuộc da chim để nhồi mẫu vật: bất kể da chim đã
được ướp muối hoặc phèn hay chưa, trước khi nhồi mẫu phải bôi dung dịch axít
asenic (thạch tín – chất độc bảng A) pha lỗng với nước, nồng độ 5-7%, bơi lên
mặt trong da sau khi đã tẩy sạch thịt và mỡ (cũng có thể sử dụng muối natri của
axit này).
Mẫu phục vụ nghiên cứu sinh học phân tử
Mẫu phục vụ nghiên cứu sinh học phân tử thường là mẫu dùng cho giám
định ADN (DNA). Các mẫu này chủ yếu là dạng mẫu cơ, mẫu gan, mẫu máu,
xương, hoặc mẫu nước bọt. Trước khi lấy mẫu ADN thì các dụng cụ lấy mẫu
(panh, kéo, dao mổ) phải được rửa sạch bằng cồn và hơ qua lửa. Động tác này
nhằm tránh lẫn lộn giữa các mẫu vật khác nhau. Tuyệt đối cách ly formalin đối
với mẫu và dụng cụ lấy mẫu. Dụng cụ lấy mẫu ADN cũng cần được xếp riêng.
Mẫu ADN sau khi lấy từ mẫu vật sẽ được cho vào ống tuýp nhỏ (0,5-2 ml) có
chứa cồn tuyệt đối (95-99%) hoặc đã pha lỗng 70%. Mẫu nước bọt có thể thấm
vào bơng rồi lưu giữ trong tuýp nhựa kín, tuy nhiên, mẫu dạng này khó có thể
lưu giữ trong thời gian dài. Mẫu ADN cũng được ghi đúng theo ký hiệu của mẫu
17
vật hoặc đánh số tương ứng với số mẫu vật. Các thơng tin về mẫu ADN (tên
lồi, địa điểm thu thập, thời gian thu thập, người thu thập, số hiệu mẫu vật tương
ứng) cũng cần được lưu giữ đầy đủ trong sổ sách hoặc máy tính.
Trên thực địa, mẫu ADN có thể giữ ở nhiệt độ thường trong một thời gian
ngắn nhưng chú ý để chỗ râm mát. Các tuýp mẫu ADN thường được sắp xếp
trong các hộp nhựa theo từng địa điểm và thời gian thu thập. Khi tiến hành phân
tích ADN hiếm khi được hực hiện ngay sau khi thu thập mẫu. Do vậy việc lưu
giữ mẫu ADN trong nhiều năm là cần thiết để phục vụ công tác nghiên cứu lâu
dài. Trong phịng thí nghiệm, mẫu ADN phải được giữ ở nhiệt độ khoảng -15oC
đến -50oC, nếu khơng có tủ lạnh chun dụng thì có thể giữ trong ngăn đá tủ
lạnh.
2. Đăng ký mẫu vật
Tất cả các mẫu vật đã thu thập được sau khi xử lý đều phải ghi vào sổ
đăng ký mẫu vật như trong biểu đăng ký vật mẫu chim. Mỗi mẫu được đeo một
nhãn thực địa ghi ký hiệu mẫu. Tương ứng với ký hiệu mẫu là phiếu ghi các
thông tin về mẫu gồm các nội dung sau:
- Ký hiệu mẫu, tên định loại tạm thời
- Thời gian thu mẫu
- Địa điểm thu mẫu (kèm tọa độ và độ cao, nếu có)
- Đặc điểm sinh cảnh nơi thu mẫu
- Những điều kiện khí hậu và thời tiết nơi thu mẫu
- Số lượng hay mật độ cá thể bắt gặp
- Đặc điểm hình thái và tình trạng mẫu khi thu: hình dạng, kích thước,
màu sắc, hoạt động của con vật lúc bị bắt
- Người thu mẫu, người định loại
Tất cả mẫu vật được lưu trữ trong bảo tàng hay phòng lưu trữ mẫu. Mẫu
vật phải được bảo quản theo quy định, có đầy đủ thông tin và thuận tiện cho
người sử dụng và theo dõi quản lý.
3. Vận chuyển mẫu
Mẫu sau khi xử lý và bảo quản được bọc, gói, đưa vào các thùng đựng
mẫu chun dụng và vận chuyển về phịng thí nghiệm phân tích. Q trình vận
chuyển mẫu vật cũng cần chú ý tránh hư hỏng hoặc làm biến dạng. Mẫu di
chuyển xa nên được bọc trong vải màn thấm cồn, để trong các lớp túi nilon
hàn/buộc kín và đặt trong hộp cứng, chèn bằng vật liệu xốp và mềm, có nắp kín
tránh dung dịch ngâm mẫu bốc hơi. Trong và ngồi bao bì vận chuyển cần có
các ghi chú kèm theo về bảo quản mẫu. Ngay khi mẫu vật đến nơi phải chuyển
sang ngâm cồn.
18
IV. Phân tích mẫu vật trong phịng thí nghiệm
1. Phân tích định loại (định tính)
Để định loại các mẫu vật cần phân tích các đặc điểm hình thái của mẫu
vật thu được rồi so sánh với mô tả của các lồi theo các tài liệu đã cơng bố. Định
loại mẫu vật hoặc kiểm tra việc định loại qua hình ảnh thu thập được có thể cần
sự trợ giúp của các chuyên gia nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên,
cán bộ kiểm lâm hoặc cán bộ kỹ thuật của một số vườn quốc gia hoặc khu bảo
tồn thiên nhiên cũng có thể định loại một số lồi chim quen thuộc thông qua
tham khảo tài liệu, đặc biệt là các bài báo hoặc sách chuyên khảo. Các tài liệu
nhận dạng hiện nay có nhiều và in bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, một số tài
liệu nhận dạng nhanh như:
- Các loại sách nhận dạng bằng hình ảnh của các nhóm chim khác nhau.
- Các loại sách chuyên khảo khác: động vật chí, sách tham khảo.
- Các bài báo mơ tả lồi trên tạp chí chun ngành.
Một số sách nhận dạng nhanh các lồi chim có thể sử dụng hiện nay như:
- Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Philipps, 2000. Chim Việt Nam. Nxb
Lao Động – Xã Hội, Hà Nội;
- Davision P. (2009), A photographic guide to the Birds of Vietnam,
Camboida and Laos.
- Lê Mạnh Hùng, 2012. Giới thiệu một số loài chim Việt Nam. Nhà xuất
bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ.
- Lekagul B et al., 1991. Birds of Thailand.
- Võ Quý (1975, 1981). “Sách Định loại chim Việt Nam – Hình thái và
phân loại” tập I, II. Nha xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Ramussen P. C. & Anderton J. (2005) The Birds of South Asia. The
Ripley guide. Smithsonian Institution and Lynx Edition.
- Robson Craig (2000, 2005, 2009). A field guide to the Birds of Thailand
and South-East Asia. Bankok, Asia Books; New Holland; and New Holland.
Fully updated.
Các số đo ch ti u hình thái của chim:
Trong nghiên cứu hình thái phân loại chim thường sử dụng các kích thước
đo như sau:
- Chiều dài cánh (A.): đo từ góc cánh đến mút lơng cánh sơ cấp dài nhất.
Trong trường hợp chim nhỏ, muốn chính xác dùng thước kẹp hoặc compa để đo,
còn đối với chim lớn dùng thước dây.
19
- Chiều dài giò (xương bàn chân - T.): dùng compa đo từ mép sau chỗ
khớp với xương ống chân đến chỗ khớp với ngón chân giữa ở mặt trước.
- Chiều dài mỏ (C.): đo từ mút mỏ đến mép giáp với trán theo đường thẳng.
- Chiều dài đuôi (Q.): dùng thước dây hoặc compa đo từ gốc phao câu đến
mép đi dài nhất.
- Chiều dài ngón chân giữa (To.) (khơng kể móng): Dùng compa đo từ
gốc ngón chân nối với khớp bàn chân thẳng đến gốc móng nơi tiếp giáp của gốc
móng với cuối ngón chân khơng kể móng.
- Chiều dài móng chân (Cl.): Cũng dùng compa đo từ gốc móng (nơi tiếp
giáp của móng với đầu ngón chân) đến mút nhọn nhất của móng chân.
Hình 5. Cách đo các phần cơ thể chim
a. Đo cánh (A.); b. Đo đuôi (Q.); c và d. Đo sống mỏ (C.); e. Đo mép mỏ; g.
Đo giị (T.); h. Đo ngón chân giữa (khơng kể móng); i. Đo móng
Các số đo dùng trong định loại và phần mô tả là phải những số đo lấy ở
các con vật trưởng thành, với bộ lông đã mọc đầy đủ, không bị cụt chỗ nào.
Nghĩa là tránh thời gian thay lông, các cá thể chưa có bộ lơng mọc lại hồn
chỉnh. Ở một số lồi hàng năm trong thời kỳ thay lông, chim vẫn bay được. Ví
dụ một số lồi như vịt trời, mịng két, gà đồng các lông cánh và lông đuôi cùng
rụng một lúc, nên thời kỳ này chim không bay được. Nhưng thời kỳ thay lông,
lông của chúng ngắn, thời gian thay lông thường kéo dài từ 1 đến 3- 4 tháng, tùy
loài. Ở nước ta, hầu hét các loài chim thời kỳ thay lông thường khoảng tháng 6
đến tháng 10 và 11. Trước khi thay lông, các lông cũ thường bị xơ xác hay bị
mịn phần cuối và phiến lơng. Đây là đặc điểm để nhận biết sự thay lông của
chim. Vì vậy, khi đo các vật mẫu chim để định loại, cần xác định đó là chim non
20
hay chim trưởng thành, các lông cánh và đuôi đã mọc đầy đủ chưa hoặc bị rụng
lông nào, nhất là đối với các lông dài nhất. Các loại lông này chưa phát triển đày
đủ đều không đối chiếu trong bảng định loại được. Các lông cánh chim được
đánh số theo thứ tự từ ngồi vào trong, ví dụ lơng cánh sơ cấp thứ nhất là lơng
cánh sơ cấp ngồi cùng. Lông đuôi chỉ là những lông ống mọc ở mép sau của
phao câu, cịn các lơng mềm hơn mọc ở phía trên hay dưới phao câu, có khi rất
dài, trùm lên cả mặt trên hay mặt dưới đi, thậm chí có thể dài hơn lơng đi
gấp nhiều lần như lơng cơng (lơng trang hồng) là lơng bao dưới đi. Số lông
đuôi bao giờ cũng chẵn cho nên khi đếm thấy lẻ có nghĩa là đếm nhầm hoặc có
một lơng đi bị rụng.
Các đặc điểm hình thái của chim:
1.Đỉnh đầu
7. Họng
13. Vai
2. Trán
8. Diều
14. Lưng
3. Gáy
9. Sườn
15. Hông
20. Bao cánh
nhỡ
25. Bao mép cánh
(mép ngồi cánh
lớn)
4. Bao tai
10. Bụng
16. Bao trên
đi
21. Bao cánh
lớn
26. (Lông) Bao
cánh sơ cấp
17. Đuôi
22. Lông cánh
tam cấp
27. Lông cánh sơ
cấp
5. Hố trước 11. Đùi
mắt
12. Lưng
6. Cằm
trên
18. Bao dưới
đuôi
19. Bao cánh
nhỏ
24. Cánh non
23. Lông cánh
thứ cấp
21
37. Con ngươi/
đồng tử
43. Mép mỏ
38. Mống mắt
45. Vảy hàm dưới
39. Vòng quanh
mắt
46. Hàm dưới
40.Vùng/điểm
trước mắt
48. Họng
41. Hàm trên
44. Hàm dưới
47. Mấu gò má
50. Dải giữa đỉnh
đầu
54. Vạch ngang
mắt
51. Dải bên đỉnh
đầu
55. Vạch gốc mỏ
52. Lông mày
53. Vành mắt
56. Vạch dưới gốc
mỏ
57. Vằn/vạch gò
má
49. Gốc (mép) mỏ
42. Mỏ (trên)
1. Đỉnh đầu
10. Bụng
12. Lưng trên
2. Trán
11. Đùi
17. Đuôi
3. Gáy
28. x. ống chân
19. Bao cánh nhỏ
4. Bao tai
20. Bao cánh nhỡ
5. Hố trước mắt
29. Gối (khuỷu
đầu gối)
6. Cằm
30. Cổ chân (giị)
27. Lơng cánh sơ cấp
7. Họng
31. Cựa
34. Vảy gốc cánh trên
8. Diều
32. Ngón ngồi
35. Vảy gốc cánh dưới
9. Sườn
33. Ngón giữa
36. Vảy gốc cánh phụ
22. Lơng cánh tam cấp
74. Ngón trong
22
Hình 6. Các loại chân chim
1. Chân le hơi; 2. Chân sâm cầm; 3. Chân bồ nông; 4. Chân nhạn; 5. Chân
mòng biển; 6. Chân bồ câu; 7. Chân sả; 8. Chân gà; 9. Chân gõ kiến; 10.
Chân chim nuốc; 11. Chân yến cọ; 12. Chân sáo
Hình 7. Các loại đuôi chim
1. Đuôi vuông; 2. Đuôi nhiều cấp; 3. Đuôi trịn; 4. Đi có dải nhọn ở giữa; 5.
Đi chẻ đôi rất sâu; 6. Đuôi chẻ đôi sâu; 7. Đuôi nhọn; 8. Đuôi chẻ đôi nông
23
Hình 8. Các loại mỏ chim
1. Ngỗng; 2. Vịt mỏ nhọn; 3. Cú muỗi; 4. Cu xanh; 5. Đại bàng; 6. Vẹt; 7. Cú
lợn; 8. Đầu rìu; 9. Chim nuốc; 10. Diệc xám
(Nguồn hình 5,6,7,8: Bộ Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thơn, 2013. Chương trình khung đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức quản lý khu bảo tồn (Chuy n đề Đa dạng sinh học).
2. Phương pháp tính số lượng
Theo tài liệu Dự án công tác quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của Việt
Nam (SPAM), 2003, có hai phương pháp tính số lượng chim là phương pháp
tính số lượng tương đối và phương pháp tính số lượng tuyệt đối. Hai phương
pháp này được sử dụng rộng rãi và đã áp dụng nhiều ở nước ta.
Phương pháp tính số lượng tương đối: Để tính số lượng chim tương đối,
người ta dựa vào tỉ lệ bắt gặp số cá thể của loài đếm được trên một đơn vị thời
gian (giờ, phút) hoặc trên một đơn vị độ dài tuyến khảo sát (m, km). Sau đó, số
lượng được xếp hạng và đánh ký hiệu:
- Rất nhiều (++++: bốn dấu cộng);
- Nhiều (+++: ba dấu cộng);
- Ít (++: hai dấu cộng);
- Hiếm (+: một dấu cộng).
Cách tính này có tính chất chủ quan, thường kém chính xác, chỉ có tác
dụng định tính độ thường gặp/ phong phú của các loài đã được ghi nhận.
24