TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT
.………………..
BÀI TẬP HỌC KỲ
MƠN KỸ NĂNG CHUNG VỀ TƯ VẤN PHÁP
LUẬT
ĐỀ BÀI:
Phân tích những nguyên tắc
của hoạt động tư vấn pháp
luật.
HỌ VÀ TÊN :
MSSV
LỚP
:
:
NGÀNH
:
Hà Nội, 2021
MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống ngày nay, khi nền kinh
tế mở cửa và phát triển theo xu hướng hội
nhập, thì cơng việc tư vấn pháp luật ngày
càng có vai trò quan trọng. Tư vấn pháp luật
là một trong những hoạt động quan trọng
của luật sư trong lĩnh vực pháp luật, đây
chính là việc mà luật sư giải đáp pháp luật
cũng như hướng dẫn khách hàngthực hiện
đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý
khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho khách hàng. Để có thể hoạt động tư vấn
pháp luật cho khách hàng, ngoài việc cần
nghiệp vụ thì người thực hiện tư vấn pháp
luật cũng cần phải tuân theo những nguyên
tắc nhất định mà pháp luật quy định về vấn
đề này. Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc này,
tôi chọn đề 1 làm bài tập cuối kỳ của mình
1
với đề bài: “Phân tích những nguyên tắc
của hoạt động tư vấn pháp luật.”
NỘI DUNG
I.
KHÁI QUÁT CHUNG VẤN ĐỀ
1.
Khái niệm hoạt động tư vấn pháp
luật
Điều 28 Luật Luật Sư năm 2006 quy định
về tư vấn pháp luật, cụ thể quy định như
sau:
“Điều 28. Hoạt động tư vấn pháp luật
của luật sư
1. Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng
dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn
thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của họ.
Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất
cả các lĩnh vực pháp luật.
2. Khi thực hiện tư vấn pháp luật, luật sư
phải giúp khách hàng thực hiện đúng pháp
2
luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
họ.”
Theo quy định trên, ta có thể hiểu đơn giản
tư vấn pháp luật là những việc giải đáp pháp
luật, tư vấn ứng xử theo quy định pháp luật
trong những trường hợp cụ thể,…nhằm giúp
khách hàng, công dân, doanh nghiệp, cơ
quan nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ
hợp pháp của họ.
2.
Người thực hiện hoạt động tư vấn
pháp luật
Đối tượng thực hiện tư vấn luật được quy
định tại Điều 18 Nghị Định 77/2008/NĐ-CP
về tư vấn pháp luật, như sau:
“Điều 18. Người thực hiện tư vấn pháp
luật
Người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
1. Tư vấn viên pháp luật;
3
2. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung
tâm tư vấn pháp luật;
3. Cộng tác viên tư vấn pháp luật”
Theo quy định trên, ta có thể hiểu tư vấn
pháp luật là hoạt động chun mơn địi hỏi
người thực hiện tư vấn pháp luật phải có đủ
các tiêu chuẩn nhất định. Luật sư, tư vấn
viên pháp luật và cộng tác viên pháp luật
phải là những người có kiến thức pháp luật,
kỹ năng và kinh nghiệm tư vấn, đồng thời
phải tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử
nghề nghiệp, tận tâm, nhiệt tình và chịu
trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động tư
vấn pháp luật của mình.
3.
Người được tư vấn pháp luật
Người được tư vấn pháp luật thường rất đa
dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong
xã hội, bao gồm:
4
- Khách hàng của luật sư: từ cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp đến cơ quan nhà
nước đều có thể được luật sư cung cấp
dịch vụ tư vấn pháp luật và thông thường
phải trả thù lao cho luật sư;
- Thành viên, hội viên của các tổ chức
chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề
nghiệp (cơng đồn viên, người lao động,
nông dân, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến
binh…) chiếm phần đông dân cư trong xã
hội, chủ yếu là được tư vấn pháp luật
miễn phí;
- Người nghèo, đối tượng chính sách theo
quy định của pháp luật;
- Các doanh nghiệp, tổ chức và đối tượng
khác: ngồi đối tượng được hưởng chính
sách xã hội nói trên, các Trung tâm tư
vấn pháp luật của các tổ chức đồn thể
cịn thực hiện tư vấn pháp luật đối với
doanh nghiệp, cá nhân khác khi có yêu
5
cầu và thu phí thấp hơn so với các tổ
chức hành nghề luật sư;
4.
Đặc điểm của hoạt động tư vấn
pháp lý
Những đặc điểm của hoạt động tư vấn pháp
lý, gồm:
- Hoạt động tư vấn pháp luật là một loại
dịch vụ pháp lý;
- Có thể nói hoạt động tư vấn pháp luật là
một trong những ngành nghề lao động trí
óc địi hỏi người tư vấn pháp lý chịu trách
nhiệm cá nhân cao, có tính độc lập khách
quan, trung thực để thực hiện đúng theo
các quy định của pháp luật;
- Trong hoạt động tư vấn pháp luật, đa số
mọi người có kiến thức và am hiểu pháp
luật lấy pháp luật làm công cụ để giải
quyết các vấn đề pháp cho mọi người
dựa trên pháp luật, tuân thủ pháp luật,
6
quy chế và trách nhiệm nghề nghiệp để
tư vấn pháp luật;
- Khi hoạt động tư vấn pháp luật đòi hỏi
những người trợ giúp pháp lý tìm được
giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề;
- Người tư vấn pháp luật trong hoạt động
tư vấn pháp luật đối với xã hội, đối với
nghề nghiệp cần có sự cần mẫn, khả
năng phán đốn và giải quyết vấn đề địi
hỏi biết sử dụng các khả năng nghề
nghiệp một cách thành thạo, chuẩn xác
phải có sự chặt chẽ cẩn thận để trợ giúp
pháp lý cho mọi người trong xã hội;
- Không phải ai cũng có thể tư vấn pháp
luật mà phải là những người có kiến thức
pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội và đạt trình độ chun mơn
nghiệp vụ nhất định, có kinh nghiệm tư
vấn pháp luật và khả năng chuyên sâu.
5.
7
Hình thức của hoạt động tư vấn
pháp luật
Những hình thức của hoạt động tư vấn pháp
luật phổ biến, gồm:
- Tư vấn pháp luật trực tiếp bằng lời nói:
Người thực hiện tư vấn pháp luật tư vấn
trực tiếp bằng lời nói cho đối tượng cần
tư vấn pháp luật.
- Tư vấn pháp luật thông qua văn bản: Đối
tượng cần tư vấn pháp luật sẽ nhận được
một “thư tư vấn pháp lý” (có thể bằng
giấy hoặc email điện tử) giải đáp các
thắc mắc, tư vấn hướng xử lý theo quy
định pháp luật sau khi đối tượng gửi yêu
cầu tư vấn đến tổ chức/cá nhân có chức
năng tư pháp luật.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.
Nguyên tắc của hoạt động tư
vấn pháp luật
Nguyên tắc của hoạt động tư vấn pháp luật,
cụ thể:
8
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tuân thủ
quy tắc đạo đức nghề nghiệp;
- Nguyên tắc trung thực, tôn trọng sự thật
khách quan;
- Nguyên tắc tránh xung đột lợi ích;
- Nguyên tắc bảo mật thông tin của khách
hàng;
- Nguyên tắc bảo vệ tốt nhất lợi ích của
khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp
luật về nội dung tư vấn.
2.
Phân tích những nguyên tắc
của hoạt động tư vấn pháp luật
a.
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật,
tuân thủ quy tắc đạo đức nghề
nghiệp
Nghề luật sư là một nghề có truyền thống
cao quý, gắn liền với số phận pháp lý của
con người. Thông qua hoạt động của mình,
luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả:
Bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền tự do dân
9
chủ của cơng dân; bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng
Nhà nước pháp quyền, thực hiện mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, cơng
bằng, văn minh”.
Cũng như sơng có nguồn, cây có gốc, nhà có
nền, đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa là
nguồn, là gốc, là nền tảng cơ bản của nghề
luật sư. Khơng có đạo đức nghề nghiệp,
nghề luật sư khơng thể tồn tại, phát triển.
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tự
chịu trách nhiệm cá nhân về uy tín nghề
nghiệp của mình, với mục tiêu phụng sự
cơng lý, tơn trọng và dựa trên pháp luật thì
trước hết phải xuất phát từ một nền tảng
đạo đức. Nếu không xuất phát từ nền tảng
này thì luật sư khó có thể có ý thức tơn trọng
và tn thủ pháp luật khi hành nghề.
10
Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư có
giá trị là các chuẩn mực đạo đức của giới
luật sư, tạo cơ sở để luật sư tự giác rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức trong sinh hoạt và
hành nghề; là thước đó giúp luật sư giữ gìn
phẩm chất, uy tín của mỗi cá nhân; từ đó
khiêm tốn học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và
kỹ năng hành nghề, góp phần nâng cao uy
tín nghề nghiệp của giới luật sư trong xã hội.
Đây cũng chính là một văn bản mang tính
quy phạm nội bộ thể hiện rõ nét nhất cơ chế
quản lý theo phương thức “tự quản kết hợp
với quản lý nhà nước” của Liên đoàn luật sư
Việt Nam.
Việc tư vấn pháp luật phải được thực hiện
theo đúng quy trình, thủ tục mà pháp luật
quy định cho đúng đối tượng, phạm vi, lĩnh
vực. Hồ sơ vụ việc tư vấn pháp luật phải đầy
đủ các giấy tờ theo quy định, nội dung tư
vấn pháp luật phải phù hợp với pháp luật.
11
Khi tư vấn cho khách hàng, người thực hiện
tư vấn pháp luật tuyệt đối không được gợi ý
hay khuyên khách hàng vi phạm hay khơng
tơn trọng pháp luật.
Ví dụ: Trong lĩnh vực thuế, luật sư có thể
khuyên khách hàng áp dụng các biện pháp
hợp pháp để được hưởng các ưu đãi về thuế,
nhưng người thực hiện tư vấn pháp luật
không được phép giúp đỡ khách hàng tìm
cách trốn thuế. Tương tự như vậy, luật sư
không thể giúp khách hàng ngụy tạo tình
trạng “phá sản” nhằm tẩu tán một số tài
sản, tránh việc thực hiện một nghĩa vụ tài
chính nào đó.
b.
Ngun tắc trung thực, tôn trọng
sự thật khách quan
Nguyên tắc trung thực, khách quan: cả về
chuyên môn (chỉ nhận tư vấn khi có chun
mơn vững vàng về lĩnh vực đó, tránh nhận
12
“bừa” rồi phán “bừa”) và về tài chính (chi
phí, thù lao rõ ràng).
Nguyên tắc này đòi hỏi người thực hiện tư
vấn pháp luật phải trung thực khi tự đánh
giá về khả năng xử lý tình huống của khách
hàng. Có một số trường hợp người thực hiện
tư vấn pháp luật chuyên về hình sự nhưng
sẵn sàng làm tư vấn về pháp luật kinh tế cho
một cơng ty nước ngồi, ngược lại người
thực hiện tư vấn pháp luật chỉ biết về ngoại
thương nhưng lại nhận tư vấn cho khách
hàng trong một việc liên quan đến luật hình
sự. Trước khi nhận lời với khách hàng, người
thực hiện tư vấn pháp luật phải xem khách
hàng yêu cầu loại dịch vụ gì rồi quyết định
một cách nghiêm túc và chân thực xem việc
đó có nằm trong khả năng của người thực
hiện tư vấn pháp luật hay khơng. Năng lực
về pháp luật cịn bao gồm cả kinh nghiệm và
kỹ năng của người thực hiện tư vấn pháp
13
luật. Nếu người thực hiện tư vấn pháp luật
chỉ có kinh nghiệm về thương mại thì việc
chấp nhận một cơng việc liên quan đến soạn
thảo hợp đồng trong lĩnh vực tài chính là
khơng phù hợp.
Đừng bao giờ thiết lập kiểu quan hệ mua
bán với khách hàng, hãy xây dựng quan hệ
của người thực hiện tư vấn pháp luật với
khách hàng trên cơ sở trung thực, hợp tác,
bền vững và hai bên đều có lợi. Cần phải tạo
quan hệ để khách hàng thấy rằng người thực
hiện tư vấn pháp luật hay công ty luật là
người cung ứng dịch vụ nghiêm túc, đàng
hồng, khơng vì mục đích lợi nhuận mà lấy
việc tạo quan hệ lâu dài với khách hàng để
thiết lập quan hệ. Điều đó củng cố uy tín của
người thực hiện tư vấn pháp luật, tạo niềm
tin cho khách hàng và duy trì được mối
khách hàng thường xuyên cho người thực
hiện tư vấn pháp luật. Nguyên tắc này đòi
14
hỏi người thực hiện tư vấn pháp luật phải
trung thực trong cách tính phí với khách
hàng, trong việc duy trì mối quan hệ thường
xuyên với khách hàng.
c.
Nguyên tắc tránh xung đột lợi
ích:
Xung đột lợi ích trong hoạt động tư vấn
pháp luật là những xung đột lợi ích liên quan
đến những vấn đề do pháp luật điều chỉnh,
nói cách khác là các quan hệ nhân thân và
các quan hệ tài sản. Vì vậy, người thực hiện
tư vấn pháp luật khơng được tư vấn cho cả
hai bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng
một vụ việc. Việc luật sư độc lập trong hoạt
động tư vấn pháp luật phải được hiểu là độc
lập trong tổ chức hành nghề, không phải độc
lập trong từng luật sư. Việc mâu thuẫn về lợi
ích cũng có thể phát sinh sau khi bắt tay vào
công việc. Luật sư phải ngừng ngay công
việc tư vấn pháp luật cho khách hàng khi có
15
sự phát sinh đối kháng về quyền lợi giữa các
khách hàng này.
Người thực hiện tư vấn pháp luật trong bất
kỳ trường hợp nào cũng không được tư vấn
cho hai khách hàng mà lợi ích của họ trái
ngược nhau, nghĩa là hai bên khách hàng
đang tranh chấp nhau trong một vụ việc.
Việc mâu thuẫn về lợi ích cũng có thể phát
sinh ngay sau khi đã bắt tay vào công việc.
Người thực hiện tư vấn pháp luật phải ngừng
ngay công việc cho các khách hàng khi có sự
phát sinh đối kháng về lợi ích giữa các khách
hàng này. Vì vậy, trước khi lựa chọn khách
hàng người thực hiện tư vấn pháp luật phải
kiểm tra vấn đề mâu thuẫn về lợi ích.
Ví dụ: Một khách hàng thường xuyên của
luật sư gặp rắc rối trong việc kinh doanh,
khách hàng đã trình bày với luật sư về vấn
đề đó. Sau đó ít ngày đối tác của khách hàng
thường xuyên của luật sư lại đến gặp luật sư
16
yêu cầu được tư vấn. Trong trường hợp này
luật sư phải từ chối tư vấn cho khách hàng
đến sau để tránh xung đột.
d.
Nguyên tắc bảo mật thông tin
của khách hàng
Trên cơ sở đạo đức và ứng xử nghề nghiệp,
việc giữ bí mật thơng tin về khách hàng là
ngun tắc nghề nghiệp mang tính tự nhiên
của người thực hiện tư vấn pháp luật, người
thực hiện tư vấn pháp luật giữ bí mật thông
tin về khách hàng một cách tự nguyện với
lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của
mình. Giữ bí mật thông tin về khách hàng
trong hoạt động nghề nghiệp của người thực
hiện tư vấn pháp luật, là nghĩa vụ pháp lý và
quy tắc đạo đức nghề nghiệp của người thực
hiện tư vấn pháp luật, theo đó người thực
hiện tư vấn pháp luật phải giữ kín những
thơng tin người thực hiện tư vấn pháp luật
biết được về khách hàng, liên quan đến
17
khách hàng trong q trình giải quyết vụ
việc và khơng tiết lộ cho bất kỳ người nào
khác ngoài người thực hiện tư vấn pháp luật
và khách hàng. Nghĩa vụ giữ bí mật thơng
tin về khách hàng được áp dụng bất kể
thơng tin đó có từ đâu, nghĩa là những thơng
tin đó khơng nhất thiết phải do khách hàng
cung cấp. Nghĩa vụ giữ bí mật vụ việc của
khách hàng tồn tại cho đến khi khách hàng
cho phép tiết lộ hoặc khước từ bí mật đó.
Nếu giữa người thực hiện tư vấn pháp luật
và khách hàng có sự thỏa thuận, xác định
những thơng tin nào cần được bảo mật thì
giới hạn bảo mật của người thực hiện tư vấn
pháp luật được thực hiện theo thỏa thuận đó
và khơng ràng buộc nghĩa vụ bảo mật của
người thực hiện tư vấn pháp luật đối với
những thơng tin khác về khách hàng (ngồi
sự thỏa thuận). Trường hợp khơng có thỏa
thuận như vậy, hoặc khách hàng không
18
đồng ý thỏa thuận như vậy thì người thực
hiện tư vấn pháp luật có nghĩa vụ bảo mật
tất cả các thông tin về khách hàng, bất kể
thông tin ấy l người thực hiện tư vấn pháp
luật có được từ nguồn nào (khách hàng cung
cấp, luật sư thu thập, ...). Chỉ có như vậy mới
bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng
trong mối quan hệ giữa người thực hiện tư
vấn pháp luật và khách hàng, nâng cao tinh
thần trách nhiệm của người thực hiện tư vấn
pháp luật đối với thông tin về khách hàng.
Nguyên tắc bảo mật thông tin của khách
hàng trong hoạt động tư vấn pháp luật gồm
hai nội dung:
- Thứ nhất, đối với bản thân người thực
hiện tư vấn pháp luật, người thực hiện tư
vấn pháp luật phải bảo mật thông tin về
khách hàng, không tiết lộ các thông tin
về khách hàng.
19
- Thứ hai, đối với các chủ thể khác ngoài
người thực hiện tư vấn pháp luật và
khách hàng, người thực hiện tư vấn pháp
luật phải hạn chế các khả năng những
thơng tin về khách hàng bị tiết lộ, bị xâm
phạm.
e.
ích
Ngun tắc bảo vệ tốt nhất lợi
của
khách
hàng,
chịu
trách
nhiệm trước pháp luật về nội dung
tư vấn
Người thực hiện tư vấn pháp luật cần hành
động vì lợi ích tốt nhất của khách hàng
nhưng đồng thời cũng cần tuân thủ pháp
luật và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Người thực hiện tư vấn pháp luật bằng trình
độ chun mơn dùng quy định pháp luật để
bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng. Tuy
nhiên, người thực hiện tư vấn pháp luật
trong quá trình hành nghề của mình có thể
được khách hàng u cầu tư vấn về một việc
20
làm trái pháp luật (ví dụ: Bn lậu hay sản
xuất vũ khí) hay làm thế nào để khơng trái
pháp luật nhưng khách hàng vẫn đạt được
mục đích và có lợi nhất cho khách hàng.
Trong trường hợp này, người thực hiện tư vấn
pháp luật sẽ không tư vấn hoặc đại diện cho
khách hàng trong những vụ việc như vậy.
Bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng trên
cơ sở tận tâm với cơng việc và có kiến thức
chun mơn, kỹ năng nghề nghiệp. Nhằm
bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng, người
thực hiện tư vấn pháp luật phải tận tâm với
cơng việc đồng thời có kiến thức chun
mơn, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Tận
tâm là đòi hỏi người thực hiện tư vấn pháp
luật dành thời gian để bảo đảm chất lượng
dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng.
Khi bắt tay vào thực hiện một vụ việc tư vấn
pháp luật lợi ích khách hàng sẽ được đặt lên
hàng đầu tuy nhiên vẫn phải trong khuôn
21
khổ pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình tư
vấn kết quả cuối cùng đạt được của vụ việc
không được như thỏa thuận hoặc gây thiệt
hại lợi ích cho khách hàng thì người tư vấn
phải chịu trách nhiệm trước khách hàng và
có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những tư vấn cho khách hàng.
Người thực hiện tư vấn pháp luật có nghĩa vụ
bảo vệ tốt nhất lợi ích khách hàng trong
phạm vi pháp luật cho phép. Người thực hiện
tư vấn pháp luật không được thực hiện
những hành vi trái quy định pháp luật để
bảo vệ lợi ích của khách hàng, không được
phân biệt đối xử với khách hàng (cho dù phí
thấp hay khách hàng là đối tượng mà xã hội
lên án) cũng như khơng được làm xấu hơn
tình trạng của khách hàng. Và người thực
hiện tư vấn pháp luật phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về nội dung tư vấn pháp luật
cho khách hàng dưới mọi hình thức.
22
23
KẾT LUẬN
Nguyên tắc nghề nghiệp của người thực
hiện tư vấn pháp luật trong hoạt động tư vấn
pháp luật có vị trí, vai trị đặc biệt quan
trọng, khơng chỉ bổ sung cho các quy định
của pháp luật về hoạt động tư vấn pháp luật
mà còn là những nguyên tắc bảo đảm quan
trọng để nâng cao chất lượng vụ việc tư vấn
pháp luật. Hoạt động tư vấn pháp luật còn là
thước đo về hành vi để người thực hiện tư
vấn pháp luật lấy đó làm tiêu chuẩn tự tu
dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, tự giác tuân thủ
và thực hiện; đồng thời cũng là công cụ để
tổ chức thực hiện tư vấn pháp luật có cơ sở
đánh giá năng lực, phẩm chất, nhân cách
của người thực hiện tư vấn pháp luật. Chính
vì vậy, tổ chức thực hiện tư vấn pháp luật,
người thực hiện tư vấn pháp luật trách
nhiệm phải luôn tuân thủ nguyên tắc của
hoạt động tư vấn pháp luật, góp phần củng
24