TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MƠN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Tiểu luận cuối kỳ
***
CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN
MÃ SỐ LỚP HP:
GVHD:
THỰC HIỆN:
HỌC KỲ: 2 – NĂM HỌC:
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06, năm 2021
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN HỌC KỲ I
NĂM HỌC 2020 - 2021
Nhóm:
Tên đề tài: …………………………………….
STT
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN
MSSV
% HOÀN THÀNH
1
100%
2
100%
3
100%
4
100%
5
100%
6
100%
7
100%
8
100%
9
100%
10
100%
Ghi chú:
Tỷ lệ % = 100% Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia.
Trưởng nhóm: SĐT:
Điểm số: ………………………………………………………………………….
Nhận xét của giáo viên:
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
Tp. Thủ Đức, ngày 15, tháng 06, năm 2021
Ký xác nhận của giảng viên
MỤC LỤC
Contents
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ph.Ăngghen cho rằng C.Mác có hai phát hiện lớn: một là phát hiện ra quan niệm
duy vật lịch sử, hai là phát hiện về giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dư là hịn đá
tảng của lý luận kinh tế chính chính trị của Mác. Trong đó, lý luận về hàng hóa sức lao
động của Mác lại là cơ sở cho học thuyết giá trị thặng dư của ông. C.Mác thấy rằng trong
chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm ra trên
thị trường một loại hàng hóa mà bản thân giá trị sử dụng của nó có một thuộc tính đặc biệt
là nguồn gốc sinh ra giá trị. Loại hàng hóa đặc thù đó chính là sức lao động của con người
mà nhà tư bản tìm thấy trên thị trường. Ở Việt Nam khái niệm về hàng hóa sức lao động
cũng như thị trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động) mới được hình
thành sau khi đất nước bước vào đổi mới, khi mà nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường nên còn nhiều hạn chế.
Sức lao động được coi là một hàng hoá đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá
của sức lao động và được quyết định bởi sự thoả thuận giữa hai bên. Cả người lao động
và người sử dụng lao động đều có những quyền cơ bản đảm bảo cho việc tham gia thị
trường lao động. Vì vậy việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam.Để hiểu rõ hơn vấn đề nên em chọn
nghiên cứu đề tài: “Điền đề tài vô đây nhá ”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu làm rõ tính khách quan, khoa học của lý luận hàng hoá - sức lao động
của C.Mác và việc phát triển thị trường lao động ở nước ta.
-Làm rõ một số vấn đề lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác và tất yếu khách
quan của việc tồn tại hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích thực trạng hàng hóa sức lao động ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản trong việc nâng cao sức lao động ở
nước ta hiện nay.
3. Các phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở và định hướng tư tưởng. Tiểu luận
được trình bày trên những nguyên lý của khoa học kinh tế chính trị Mác – Lênin, có tham
khảo một số các lý thuyết của kinh tế học, kinh tế phát triển dựa trên những quan điểm và
đường lối đổi mới trong các văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam.
10
Tiểu luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhưng chủ
yếu là phương pháp trừu tượng hố khoa học, phương pháp lơgíc kết hợp với lịch sử,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê đối chiếu, so sánh để nghiên
cứu và trình bày bản chất của vấn đề.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kết cấu
đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Quan niệm về hàng hóa sức lao động của chủ nghĩa MacLenin và thị
trường lao động
Chương 2 : Những ảnh hưởng đối với thị trường sức lao động Việt Nam ngày nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường sức lao động ở Việt Nam
Do kiến thức và kinh nghiệm chưa nhiều, lại bị hạn chế về thời gian nên bản tiểu
không tránh khái những khiếm khuyết. Với tinh thần thực sự muốn hiểu biết thêm về đề
tài “Điền đề tài vô đây nhá” và muốn có nhiều kiến thức thực tế, em rất mong nhận được
sự quan tâm, trao đổi và góp ý của các thầy cơ giáo và các bạn để hồn hiện hơn nữa bài
tiểu luận cũng như kiến thức của mình.
11
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG CỦA CHỦ NGHĨA
MACLENIN VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.1.
Khái quát chung về kinh tế chính trị Mác - Lenin
Sự hình thành kinh tế chính trị Mác - Lenin
Lịch sử hình thành và phát triển mơn kinh tế học chính trị cho thấy những nhận
thức khác nhau về đối tượng nghiên cứu của bộ môn này. Đối tượng nghiên cứu của chủ
nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu thông mà chủ yếu là ngọai thương .Chủ nghĩa trọng
nông chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nhưng
chỉ giới hạn ở sản xuất nông nghiệp. Kinh tế học chính trị tư sản cổ điển xác định kinh tế
học chính trị và khoa học khảo sát về bản chất và nguyên nhân của sự giàu có, có những
phát hiện nhất định về những quy luật kinh tế chi phối nền sản xuất tư bản chủ nghĩa,
nhưng lại coi các quy luật của chủ nghĩa tư bản là tuyệt đối, là vĩnh cữu, đồng nhất sản
xuất tư bản chủ nghĩa với q trình lao động nói chung của lồi người, phủ định tính chất
lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế học hiện đại ở các nước tư bản chủ nghĩa lại tách
chính trị ra khỏi kinh tế, biến kinh tế học chính trị thành khoa học kinh tế thuần túy, che
đậy quan hệ sản xuất và mâu thuẫn giai cấp.
C.Mác coi sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội. Một mặt, bất kỳ nền sản
xuất nào cũng là sự tác động lần nhau giữa ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động, gộp lại là lực lượng sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa người
với tự nhiên. Mặt khác việc tao ra của cải vật chất trong mọi điều kiện bao giờ cũng là
một q trình xã hội, trong đó người với người khơng cơ lập mà có quan hệ với nhau dưới
những hình thức nhất định, gọi là quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại với nhau hợp thành phương thức sản xuất.
Phương thức thức sản xuất gắn bó với kiến trúc thượng tầng chính trị và tư tưởng, với mọi
hình thức sinh hoạt của con người đặc trưng cho mỗi giai đọan nhất định, hợp thành hình
thái kinh tế xã hội. Lịch sử loài người là lịch sử phát triển và thay thế các hình thái kinh
tế–xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên.
1.1.1.
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lenin
Đối tượng của kinh tế chính trị được hiểu theo hai nghĩa : rộng và hẹp. Theo nghĩa
hẹp kinh tế học chính trị nghiên cứu một phương thức sản xuất cụ thể và tìm ra quy luật
vận động kinh tế của riêng nó. Cịn theo nghĩa rộng, kinh tế học chính trị nghiên cứu các
phương thức sản xuất,tìm ra quy luật kinh tế chi phối sự vận động của các chế độ kinh tế
xã hội trong lịch sử. Về vấn đề này, Ph.Ăngghen đã viết:
1.1.2.
12
“Kinh tế học chính trị, theo nghĩa rộng nhất, là khoa học về những quy luật chi
phối sự sản xuất và sự trao đổi những tư liệu sinh vật chất trong xã hội lồi người…
Những điều kiện trong đó người ta sản xuất sản phẩm và trao đổi chúng tùy theo
từng nước, và trong mỗi nước, lại thay đổi tùy từng thế hệ. Bởi vậy khơng thể có cùng
một mơn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và tất cả mọi thời đại lịch sử…
môn kinh tế chính trị, thực chất là một mơn khoa học có tính chất lịch sử…, nó nghiên
cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản xuất và trao
đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xi rồi nó mới có thể xác định ra một vài
quy luật hồn tồn có tính chất chung, thích dụng, nói chung, cho sản xuất và trao đổi” 1
Đối tượng của kinh tế học chính trị là quan hệ sản xuất, nhưng nó phải nằm trong
một phương thức sản xuất nhất định, nghĩa là quan hệ sản xuất và trao đổi được nghiên
cứu gắn với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất nhất định, trong sự tác động qua
lại với lực luợng sản xuất. Kinh tế học chính trị nghiên cứu lực luợng sản xuất là nhằm
phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ sản xuất, để hiểu đúng hơn sự vận động của quan
hệ sản xuất, chứ không nghiên cứu nội dung vật chất của lực lượng sản xuất với tư cách
là quan hệ giữa người với tự nhiên. Đó là nhiệm vụ của các khoa học tự nhiên và khoa
học kỹ thuật, như vật lý học, hóa học, sinh học, nơng học .v.v..
Kinh tế học chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất, tức là nghiên cứu cơ sở hạ tầng
xã hội, nên cũng đề cập trong một chừng mực nhất định mối liên hệ giữa quan hệ sản
xuất với kiến trúc thượng tầng, nhất là những quan hệ chính trị, pháp lý có vai trị tác
động quan trọng trở lại đối với quan hệ sản xuất, đối với sự phát triển kinh tế, biểu hiện
rõ nhất ở chức nhăng kinh tế của nhà nước trong xã hội hiện đại.
Như vậy đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị là quan hệ sản xuất trong
mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Kinh tế học chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất nhưng không nghiên cứu những
biểu hiện bề ngoài của các hiện tượng kinh tế mà đi sâu vạch rõ bản chất của các hiện
tượng và quá trình kinh tế, để rút ra quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng, tức là rút ra các quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội. Các hiện tượng kinh
tế trong đời sống xã hội rất phức tạp, nhìn bề ngồi dường như là hỗn lọan, ngẫu nhiên.
Nhưng thực ra chúng đều bị chi phối bởi những lực lượng khách quan, đó là các quy luật
1 Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Leenin, NXB.CTQG, Hà Nội, 2002-2007
13
kinh tế. Quy luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ bản chất, phụ thuộc nhân quả, tất
yếu, vững chắc vốn có của các hiện tượng kinh tế và các q trình kinh tế.
Chức năng của kinh tế chính trị Mác - Lenin
Kinh tế học chính trị Mác-lênin là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa
MácLênin, có quan hệ mật thiết với hai bộ phận kia là triết học và chủ nghĩa xã hội khoa
học. Kinh tế học chính trị Mác-lênin là biểu hiện mẫu mực của sự vận đụng quan điểm
duy vật về lịch sử vào sự phân tích kinh tế. Kinh tế học chính trị mác-lênin thực hiện bốn
chức năng sau đây:
1.1.3.
a) Chức năng nhận thức
Nhận thức là chức năng chung của mọi khoa học, là lý xuất hiện của các khoa học
trong đó có kinh tế chính trị. Một mơn khao học nào đó cịn cần thiết là vì cịn có những
vấn đề cần phải nhận thức, khám phá. Chức năng nhận thức của kinh tế chính trị biểu
hiện ở chỗ nó cần phát hiện bản chất của hiện tượng, quá trình kinh tế của đời sống xã
hội, tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của chúng, giúp con người vận dụng các
quy luật kinh tế một cách có ý thức vào họat động kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã
hội cao.
b) Chức năng thực tiễn
Cũng giống nhiều môn khoa học khác, chức năng nhận thức kinh tế chính trị
khơng có mục đích tự thân, khơng phải nhận thức để nhận thức, mà nhận thức để phục
vụ cho họat động thực tiễn có hiệu quả. Đó là chức năng thực tiễn của kinh tế chính trị.
Chức năng thực tiễn và chức năng nhận thức của kinh tế chính trị có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Từ việc nghiên cứu các hiện tượng và các quá trình kinh tế của đời sống xã
hội, phát hiện ra bản chất của chúng, các quy luật chi phối chúng và cơ chế họat động
của các quy luật đó, kinh tế chính trị cung cấp những luận cứ khoa học để họach định
đường lối, chính sách và đường lối kinh tế. Đường lối, chính sách và các biện pháp kinh
tế dựa trên những luận cứ khoa học đúng đắn đã nhận thức được sẽ đi và cuộc sống làm
cho họat động kinh tế có hiệu quả cao hơn. Cuộc sống chính là nơi kiểm nghiệm tính
đúng đắn của các chính sách, biện pháp kinh tế và xa hơn nữa là kiệm nghiệm chính
những kết luận mà kinh tế học chính trị đã cung cấp trước đó. Thực tiễn vừa là nơi xuất
phát vừa là nơi kiệm nghiệm tính đúng đắn của lý luận kinh tế. Căn cứ để đánh giá tính
đúng đắn của lý luận kinh tế là ở sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tính hiệu quả của
họat động kinh tế.
14
c) Chức năng phương pháp luận
kinh tế chính trị là nền tảng lý luận cho một tổ hợp các khoa học kinh tế. Những kế
luận của kinh tế chính trị viểu hiện ở các phạm trù và quy luật kinh tế có tính chất chung
là cơ sở lý lụân của các môn kinh tế chuyên ngành (như kinh tế cộng nghiệp, nông
nghiệp, xây dụng,giao thông…) và các môn kinh tế chức năng (kinh tế lao động, kế
họach tài chính, tín dụng, thống kê…) Ngịai ra kinh tế chính trị cũng là cơ sở lý luận
cho một số môn khoa học khác (như đại lý kinh tế, dân số học, lịch sử học quốc dân, lý
thuyết về quản lý..)
d) Chức năng tư tưởng
Là một môn khoa học xã hội, kinh tế chính trị có chức năng tư tưởng .Trong các xã
hội co giai cấp, chức năng tư tưởng của kinh tế chính trị thể hiện ở chổ các quan điểm lý
luận của nó xuất phát từ lợi ích của những giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhật định . Các
lý luận kinh tế chính trị của giai cấp tư sản đều phục vụ cho việc củng cố sự thống trị của
giai cấp tư sản biện hộ cho sự bóc lột của giai cấp tư sản.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin là cơ sở khoa học cho sự hình thành thế giới quan,
nhân sinh quan và niềm tin sâu sắc vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động hằm xóa bỏ áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc, xây dụng thành công xã hội
mới xã hội chủ nghĩa.
1.2.
Thị trường hàng hóa sức lao động
1.2.1.
Khái niệm về sức lao động
Sức lao động
Sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít. Mác định
nghĩa sức lao động là tồn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong
một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi
khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con
người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo
chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự
tiêu dùng sức lao động trong hiện thực.
Hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đăc biệt và được liên kết chặt chẽ với sự tồn
tại, phát triển của nền kinh tế. Không những thế sức lao động trở thành hàng hóa có điều
15
kiện tiên quyết trong việc hình thành nên kinh tế của tư bản. Đánh dấu nền quan trọng để
tạo nên quyền tự do cá nhân và tạo sự phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế.
Thị trường hàng hóa sức lao động
Thị trường lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao
động (người công nhân làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao
động), thơng qua các hình thức thỏa thuận về giá cả ( tiền công, tiền lương) và các điều
kiện làm việc khác trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc
thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.
Điều kiện để sức lao động thành hàng hóa
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao
động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hố. Sức lao động
chỉ biến thành hàng hố khi có hai điều kiện sau:
Một là; người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức
lao động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hố, nếu
nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải
có quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hố địi hỏi phải
thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến.
Hai là; người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao
động sản xuất. Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động
của mình, vì khơng cịn cách nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói
trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó. Một mặt, cách mạng tư
sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong
kiến. Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của
tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư
liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức lao động được thực hiện
dưới hình thức thuê mướn.
Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến
và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng. Chỉ đến chủ nghĩa
tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất
xã hội. Sự cưỡng bức phi kinh tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở
hữu hàng hố, bình đẳng với nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán”. Điều đó đã tạo ra khả
năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình
1.2.2.
16
độ mới trong sự phát triển tự do cá nhân của các cơng dân và đánh dấu một trình độ mới
trong sự phát triển của văn minh nhân loại.Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện
chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản.
Các giá trị cơ bản của hàng háo sức lao động
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng.
- Giá trị hàng hoá sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các
hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất ra sức lao động. Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con
người. Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người cơng nhân phải tiêu dùng một số
lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng
số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở
trạng thái bình thường.
Khác với hàng hố thơng thường, giá trị hàng hố sức lao động bao hàm cả yếu tố
tinh thần và lịch sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu
về vật chất mà cịn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…). Nhu cầu đó,
cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải
lúc nào và ở đâu cũng giống nhau. Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng
thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngồi ra cịn phụ
thuộc vào tập qn, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp
cơng nhân.
Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định. Do đó,
có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh
hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người cơng nhân; hai là, phí tổn học
việc của cơng nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người cơng
nhân.
Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh
thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của
anh ta.
1.2.3.
17
Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần
nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau. Một mặt là sự tăng nhu
cầu trung bình xã hội về hàng hố và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm
tăng giá trị sức lao động. Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm
giá trị sức lao động. Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng
khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác, sự khác biệt của cơng nhân về trình độ lành
nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ
tăng lên. Tất cả những điều kiện đó khơng thể khơng ảnh hưởng đến các giá trị sức lao
động. Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế
bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động.
- Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
cũng giống như các hàng hố khác chỉ thể hiện ra trong q trình tiêu dùng sức lao động,
tức là q trình người cơng nhân tiến hành lao động sản xuất.
Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị
sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hố sức lao động, nó tạo ra
một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá
trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.
Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng
hoá khác. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức
lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động.
Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm
của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới
cung.
Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu hàng hoá sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng
thị trường lao động ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao động là hàng
hoá (khi có đủ các điều kiện trở thành hàng hố) cho nên việc xây dựng thị trường sức lao
động là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề
cốt lõi, trọng tâm của Đảng ta. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ các loại thị trường và Nghị quyết Đại hội IX cũng
1.3.
18
đã nhấn mạnh phải tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, thị trường lao động từ
chỗ khơng tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển.
Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được mua
bán thơng qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũng như mức
tiền công và tiền lương. Thị trường lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và
có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế. Quá trình hình thành
và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động có những đặc điểm hết sức
riêng biệt. Thị trường lao động cũng như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy
luật của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Điểm
khác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt của hàng hố sức lao động (như đã trình
bày ở trên).
Ngày nay, vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm đã thay đổi cơ bản. Thay
vì bao cấp trong giải quyết việc làm, Nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chính
sách thơng thống, tạo hành lang pháp luật, xố bỏ hàng rào về hành chính và tạo điều
kiện vật chất đảm bảo cho mọi người được tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc
làm, tự do hành nghề, hợp tác và thuê muớn lao động. Cơ hội việc làm được tăng lên và ít
bị ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ý chí chủ quan của Nhà nước. Từng bước
hình thành cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ
chế và chính sách xuất khẩu lao động….
Theo Luật Lao động, Nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lý hành chính về lao
động sang cơ chế thị trường. Việc triển khai bộ luật này đã góp phần quan trọng vào cơng
cuộc xây dựng đất nước và ổn định xã hội trong thời gian qua. Nhà nước cũng đã từng
bước hoàn thiện hệ thống pháp luật: Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật Doanh
nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước…, nên đã thúc đẩy các yếu tố của các thị
trường, trong đó thị trường sức lao động hình thành, mở ra tiềm năng mới giải phóng các
tiềm năng lao động và tạo mở việc làm. Đồng thời với các cải tiến trong quản lý hành
chính, hộ khẩu, hồn thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tệ hố tiền
lương, tách chính sách tiền lương, thu nhập khỏi chính sách xã hội đã góp phần làm tăng
tính cơ động của lao động.
19
CHƯƠNG 2 : NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
VIỆT NAM NGÀY NAY
Khái quát chung về thị trường lao động ở Việt Nam
Cung lao động là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem tham
dự vào quá trình tái sản xuất xã hội. Cung lao động được xem xét dưới hai góc độ là số
lượng và chất lượng lao động.
Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một
ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định. Nhu cầu này thể hiện
qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động.
2.1.
Cung lao động
Việt Nam là nước có quy mơ dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước
vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay. Tính
đến hết năm 2019, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ chiếm khoảng
48,94%. Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo gia tăng về lực lượng lao động.
Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động,
đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước
ngồi góp phần phát triển kinh tế – xã hội.2
2.1.1.
Lực lượng lao động
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2019 ước tính đạt 55,8 triệu người, tăng
417,1 nghìn người so với năm 2018.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2019 ước tính là 49,1 triệu người,
tăng 527,7 nghìn người so với năm trước (trong đó ở khu vực thành thị là 17,1 triệu
người, chiếm 34,8%); lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động đạt 22,4 triệu người,
chiếm 45,6%. Lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên năm 2019 ước tính là
12,7 triệu người, chiếm 22,8%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước.
Lao động có việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2019 ước tính là 54,7 triệu người, tăng
416,0 nghìn người so với năm 2018 (trong đó, ở khu vực thành thị đạt 18,1 triệu người,
chiếm 33,1%).
2 />20
Trong năm nay, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ
trọng lao động làm việc trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản và tăng tỷ trọng
trong khu vực Công nghiệp, Xây dựng và Dịch vụ.
Bảng 2. 1. Tỷ trọng lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế 2015-2019
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Tốc độ chuyển dịch lao động từ khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các
khu vực kinh tế khác đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua. Ước tính năm 2019, lao
động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực Nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản là gần
19,0 triệu người, chiếm 34,7% (giảm 3,0 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực
Công nghiệp và Xây dựng là 16,1 triệu người, chiếm 29,4% (tăng 2,7 điểm phần trăm so
với năm trước); khu vực Dịch vụ đạt gần 19,6 triệu người, chiếm tỷ trọng cao nhất 35,9%
(tăng 0,3 điểm phần trăm so với năm trước), cao hơn lao động trong khu vực Nông, lâm
nghiệp và thủy sản.3
3 />
21
Bảng 2. 2. Tỷ trọng lao động theo nghề, 2018-2019
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Cơ cấu nghề có sự chuyển dịch song song với chuyển dịch cơ cấu ngành. Tỷ lệ lao
động giản đơn và lao động có kỹ năng trong Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm so với
năm 2018 (tương ứng là 34,6%, giảm 1 điểm phần trăm và 7,5%, giảm 2 điểm phần
trăm); nhóm Lãnh đạo/nhà chun mơn kỹ thuật bậc cao và bậc trung, nhóm thợ thủ công
và thợ kỹ thuật tăng mạnh so với năm 2018 (tương ứng là 12,5%, tăng 0,8 điểm phần trăm
và 25,7%, tăng 12,4 điểm phần trăm).4
Thất nghiệp, thiếu việc làm và lao động phi chính thức
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 ước gần 1,1 triệu người,
giảm 5,5 nghìn người so với năm 2018. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm
2019 ước là 2,16%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với năm 2018.
Thất nghiệp của lao động thanh niên trong độ tuổi từ 15-24 trong năm 2019 ước
khoảng 428,5 nghìn người, chiếm 38,7% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong năm 2019 ước là 6,39%, giảm 0,53 điểm phần trăm so với năm 2018
(trong đó ở khu vực thành thị là 10,24%, giảm 0,22 điểm phần trăm) 5. Tỷ lệ thất nghiệp
4 />5 />
dat-ra-302133.html
22
của thanh niên từ 15- 24 tuổi cao hơn gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung do lực
lượng này khi tham gia vào thị trường lao động thường có xu hướng tìm kiếm việc làm
phù hợp với trình độ năng lực của mình hơn so với các nhóm dân số ở độ tuổi khác. Đây
là tình hình chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Tỷ lệ thanh niên khơng có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào
tạo (NEET) của cả nước năm 2019 ước là 11,2%, tương đương với gần 1,3 triệu thanh
niên. Tỷ lệ NEET ở khu vực thành thị thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với khu vực nông
thôn, ở nữ thanh niên cao hơn 4,2 điểm phần trăm so với nam thanh niên.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi trong năm 2019 ước tính là 1,26%
(ở khu vực nơng thôn cao hơn 0,9 điểm phần trăm so với khu vực thành thị, tương ứng là
1,57% và 0,67%).
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của cả nước trong năm 2019 là 54,6%,
giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2018. Riêng tại khu vực nông thôn, tỷ lệ lao động có
việc làm phi chính thức là 61,7%, cao hơn 15,4 điểm phần trăm so với tỷ lệ lao động có
việc làm phi chính thức của khu vực thành thị (46,3%).
Đa số lao động có việc làm phi chính thức đều chưa được đào tạo chun mơn kỹ
thuật. Trong số những lao động có việc làm phi chính thức, lao động có trình độ trung học
cơ sở chiếm tỷ trọng cao nhất (34,0%), tiếp đến là lao động có trình độ tiểu học (23,5%)
và trung học phổ thơng (17,4%). Lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp
trở lên chỉ chiếm 15,2% tổng số lao động có việc làm phi chính thức.6
Thu nhập của người lao động
Thu nhập bình qn tháng từ cơng việc của người lao động năm 2019 đạt 5,6 triệu
đồng, tăng 799 nghìn đồng so với năm trước. Thu nhập bình quân của lao động nam cao
hơn lao động nữ 1,4 lần (tương ứng 6,5 triệu đồng và 4,6 triệu đồng); thu nhập bình quân
của lao động thành thị cao hơn thu nhập của lao động nông thôn 1,6 lần (tương ứng là 7,5
triệu đồng và 4,7 triệu đồng).
Thu nhập bình qn tháng của lao động làm cơng hưởng lương trong năm 2019
ước đạt 6,7 triệu đồng, tăng hơn 866 nghìn đồng so với năm trước. Thu nhập bình quân
của lao động nam cao hơn lao động nữ 1,1 lần (tương ứng 7,1 triệu đồng và 6,3 triệu
đồng); thu nhập bình quân của lao động thành thị cao hơn lao động nông thôn 1,3 lần
(tương ứng là 7,8 triệu đồng và 5,9 triệu đồng).7
2.1.2.
Cầu lao động
6 />7 />
23
Bảng 2. 3. Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài trong 6 năm
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Theo số liệu thống kê, năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài là 147.387 lao động (trong đó có 49.324 lao động nữ) đạt 122,8% kế hoạch năm
2019, (kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm
2019 là 120.000 lao động), bằng 103,2% so với cả năm 2018 (năm 2018 tổng số lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi là 142.860 lao động) trong đó thị trường: Nhật Bản:
80.002 lao động (28.948 lao động nữ), Đài Loan: 54.480 lao động (18.287 lao động nữ),
Hàn Quốc: 7.215 lao động (514 lao động nữ), Rumania: 1.400 lao động (41 lao động nữ),
Ả rập - Xê út: 1.357 lao động (1.062 lao động nữ), Malaysia: 454 lao động (138 lao động
nữ), Macao: 367 lao động (224 lao động nữ), Algeria: 359 lao động nam và các thị trường
khác.8
Có thể thấy, thơng qua XKLĐ đã góp phần quan trọng thay đổi tư duy, nhận thức
và nâng cao kỹ năng làm việc cho người lao động. Người lao động được tiếp cận máy
móc, cơng nghệ tiên tiến, hiện đại, cải thiện vốn ngoại ngữ và hiểu biết về văn hóa. Nhiều
lao động sau khi đi XKLĐ trở về nước tiếp tục làm cơng việc đã được đào tạo, có thu
nhập ổn định. Mặt khác, XKLĐ còn là cơ hội để tiếp nhận chuyển giao cơng nghệ tiên
tiến từ nước ngồi về Việt Nam, giúp đội ngũ lao động Việt nâng cao tay nghề, rèn luyện
ý thức, tác phong công nghiệp, nâng tầm chất lượng lao động Việt, đáp ứng đòi hỏi của
cách mạng cơng nghiệp 4.0.
2.2.
Khó khăn và ngun nhân về hiện trạng sức lao động ở Việt Nam
8 />
24
Thị trường lao động nước ta có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu.
Cung lao động:
a) Về số lượng
Lao động nước ta đông, tăng nhanh gây sức ép cho vấn đề việc làm. Nếu so với
mức tăng việc làm trong cùng thời kỳ thì ở nước ta (khoảng từ 1,4% đến 2%) thì có thể
thấy rõ rằng hiện có một bộ phận người lao động trong độ tuổi khơng thể tìm kiếm được
việc làm.
b) Về chất lượng
Trình độ chun mơn kỹ thuật của người lao động cịn thấp, tình trạng thừa thầy,
thiếu thợ. Theo kết quả điều tra lao động việc làm của Bộ Lao đông-Thương binh-Xã hội
đến 2018, tính chung cả nước số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ
sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chiếm 21.6% tổng lực lượng lao động và trong đó
trình độ cao đẳng, đại học trở nên chỉ có 4,81%. Trình độ chun mơn kỹ thuật giữa thành
thị với nơng thơn cũng có sự khác biệt lớn. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ có trình độ chun
mơn kỹ thuật là 44,6%, ở nông thôn là 11,89%. Đặc biệt là ở miền núi, các nơng lâm
trường, trình độ văn hóa, tay nghề của cơng nhân cịn thấp hơn nhiều so với những nơi
khác.
Như vậy, số lao động có trình độ trung học chun nghiệp và cơng nhân kỹ thuật ở
nước ta cịn q thiếu so với yêu cầu. Hơn nữa số này chủ yếu tập trung ở các thành phố
lớn, trong khi nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước nhưng
chỉ chiếm 3,85% số người được đào tạo.
Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động cịn thấp, thiếu tác phong cơng
nghiệp. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm,
khơng có khả nặng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh
nghiệm làm việc.
Khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam thấp đã hạn chế khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam . Theo tiêu chí đánh giá của tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới
(WEF), năm 2018 Việt Nam xếp thứ 81 trên 117 nước xếp hạng về tính cạnh tranh của
nền kinh tế, tụt 4 bậc so với năm 2017 (xếp thứ 77); chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng
lao động Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang 10.9
2.2.1.
2.2.2.
Cầu lao động:
a) Về số lượng
9 />
25