Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

Lich sU 9 BINH DINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (503.94 KB, 38 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>Tìm hiểu về Bình Định Quê hương tôi giai đoạn 1945-1954 *Thành viên nhóm 5 lớp 9A2 trường Trung Học cơ sở Hoài Hải. 1. Ri (nhóm trưởng) 2. Xuân Quan 3. Vũ 4. Hồng Phương 5. Đoàn Nhật Nam. Ngô Văn Nguyễn Hồ Ngọc Nguyễn Nguyễn. Giáo viên:Đỗ Thị Việt Hường.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> *Sơ lược về quê hương Bình Định thân yêu Là một tỉnh duyên hải miền Trung Nam bộ, Bình Định phía bắc giáp Quảng Ngãi, tây giáp Gia Lai, nam giáp Phú Yên, đông là biển. Địa hình tỉnh Bình Định đa dạng, có núi, vùng giáp núi, đồng bằng và bãi bồi ven biển. Bình Định có hai con sông: sông An Lão (Lại Giang) và Hà Giao (sông Mạng). Hai con sông này tạo nên những thung lũng dài, hẹp và bồi đắp nên những vùng đất màu mỡ. Bờ biển Bình Định dài hơn 100km với nhiều đảo lớn, nhỏ ngoài khơi. Tỉnh có suối nước khoáng ở huyện Phú Cát. Bình Định có đường giao thông thuận tiện, quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với các tỉnh Tây Nguyên, Gia Lai và Kon Tum. Tàu Thống Nhất dừng ở ga Diêu Trì; sân bay Phú Cát cách Quy Nhơn 30km về phía bắc; cảng biển Quy Nhơn là một cảng biển lớn ở miền Trung Nam Bộ. Bình Định có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ách thống trị của phong kiến và giặc ngoại xâm. Chính đây là quê hương của người Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ-nhà quân sự lỗi lạc của dân tộc, đã từng đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược nước ta vào năm 1789. Cũng tại nơi này, từ năm 1885-1888 có phong trào đấu tranh chống Pháp xâm lược do Mai Xuân Thưởng đứng đầu. Năm 1907-1908, có “Phong trào Đồng bào” chống sưu cao thuế nặng của thực dân Pháp và Chính phủ Nam triều. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Bình Định nổi lên cướp chính quyền ở nhiều huyện và ngày 20-8 giành chính quyền về tay nhân dân ở thành phố Quy Nhơn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai (1945-1954), Bình Định là địa bàn bị quân Pháp nhiều lần tổ chức tiến công lấn chiếm, nhưng quân và dân tỉnh nhà đã chiến đấu anh dũng, mưu trí bảo vệ vững chắc mảnh đất quê hương. Tiếng bom đánh giặc của chiến sĩ quyết tử Ngô Mây mãi vang vọng núi sông. Suốt trong 9 năm kháng chiến, Bình Định là hậu phương trực tiếp của nhiều chiến trường, nhất là chiến trường Tây Nguyên. Bình Định là một trong những địa phương cung cấp sức người, sức của nhiều cho cuộc kháng chiến, đã giữ vững mạch máu giao thông, trong đó có đường xe lửa. Với thành tích này, Chính phủ đã tặng thưởng cho quân và dân Bình Định Huân chương Độc lập hạng ba. Đặc biệt, trong thi hành Hiệp định Giơ-nevơ, Bình Định, Quy Nhơn là khu tập kết 300 ngày nên nhân dân nơi đây còn ghi sâu bao kỷ niệm giữa kẻ ở, người đi trong những chuyến tàu bộ đội tập kết ra Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bình Định là tỉnh khéo sử dụng cả hai quả đấm: Đánh du kích và đánh tập trung. Chiến tranh du kích của quân và dân Bình Định phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, đã tiêu hao, tiêu diệt không nhỏ lực lượng địch. Đi đôi với tiến công quân sự, nhân dân Bình Định nổi tiếng trong dấu tranh chính trị. Nhân dân Quy Nhơn đã từng bằng đấu tranh chính trị chiếm đài phát thanh địch, làm chủ thành phố. Đặc biệt, phụ nữ Bình Định đã nhiều lần trực tiếp đấu tranh với bọn lính Mỹ, lính Pắc Chung Hy khi chúng hành quân càn quét; đã chặn đứng xe M.113, công khai vạch tội ác của quân xâm lược, buộc chúng phải đình chỉ càn quét, hãm hiếp, bắt phu, bắt lính, cướp đất, bồi thường những thiệt hại do chúng gây ra. Bình Định là nơi đã sáng tạo ra Chiến dịch tiến công tổng hợp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm phong phú kho tàng nghệ thuật quân sự chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, Bình Định đang phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Bình Định là vùng đất văn hóa nên nơi này còn lưu giữ nhiều di tích kiến trúc-văn.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> hóa người Chăm, đặc biệt là các thành cổ Trà Bàn, từng là kinh đô của vương triều Chăm Pa; các cụm tháp Chàm có kiến trúc độc đáo như tháp Dương Long, Bành Ít, Cảnh Tiên, Tháp Đôi. Bình Định lại có những đặc sản nổi tiếng gần xa như tơ lụa, yến sào, tôm, cá, gỗ quý, trầm hương, dầu thực vật, gạo, đá ốp lát, hàng thủ công mỹ nghệ; nhiều món đặc sản được giới sành ăn ưu thích như chim mía, gỏi chinh, nem chua, bánh tráng nước dừa, gié bò với rượu gạo…Do đó, phát triển du lịch được xác định là một trong những ngành mũi nhọn của tỉnh.. 1.Vài nét về tình hình Bình Định sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Cách mạng Tháng Tám thành công đã lật nhào ách thống trị của đế quốc, phong kiến, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á đã ra đời. Sau hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, lần đầu tiên nhân dân Bình Định được sống trong một đất nước độc lập, làm chủ quê hương đất nước mình. Giành được chính quyền là thành quả cao nhất của cuộc Cách mạng Tháng Tám. Từ đây, chúng ta có chính quyền để xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Chính vì vậy, việc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân ta lúc này. Cũng giống như cả nước, chính quyền mới ở Bình Định phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Hậu quả của nạn đói năm Ất Dậu (1945) do Pháp, Nhật gây ra đã ảnh hưởng đến Bình Định làm nhiều gia đình thiếu ăn, sản xuất bị đình trệ, hàng hóa trở nên khan hiếm. Cảng Quy Nhơn cũng vắng bóng tàu thuyền cập bến. Công nhân phần lớn thất nghiệp...Những di hại của một nền văn hóa "giáo dục ngu dân" do thực dân phong kiến để lại rất nặng nề: hơn 90% nhân dân bị mù chữ; các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, đĩ điếm, trộm cắp, mê tín dị đoan, ma chay cúng tế đã giảm nhiều sau Cách mạng Tháng Tám, song vẫn là những vấn đề cấp bách cần giải quyết. Đi liền với những khó khăn về kinh tế - xã hội thì nạn "Thù trong giặc ngoài" đe dọa nghiêm trọng đến chế độ mới, chính quyền mới trong lúc lực lượng quân sự, khả năng phòng thủ của ta còn yếu. Có thể nói Bình Định là một địa bàn chiến lược quan trọng, một tỉnh có tiềm lực lớn về nhân tài, vật lực. Ở đây có cảng Quy Nhơn, có đường sắt, đường quốc lộ nối liền Bắc Nam, có đường 19 lên Tây Nguyên và nối liền với Hạ Lào, Đông Bắc Cămpuchia. Do đó, sau khi gây hấn ở Nam Bộ, thực dân Pháp quyết chiếm Bình Định để có một thế đứng chiến lược ở Trung Đông Dương, chia cắt chiến trường toàn quốc, thu hẹp hậu phương liên khu V. Riêng ở Quy Nhơn, lực lượng quân Nhật còn lại 50 tên để giữ nhà băng và liên lạc với quân Nhật ở bên ngoài. Tàu bè của địch thường xuyên lui tới vùng biển Quy Nhơn để thăm dò tình hình và tìm cách bắt liên lạc với bọn phản động. Trên đất liền, bọn phản động ngấm ngầm hoạt động chống phá cách mạng. Chúng xuyên tạc chế độ dân chủ cộng hòa, nói xấu Cộng sản, Việt Minh và các chủ trương, chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời, đề cao sức mạnh của Đồng minh của thực dân Pháp và các thế lực tay sai của Bảo Đại. Một nhóm người Hoa thân Tưởng tự cho mình là người của phe Đồng minh chiến thắng, nên đã có thái độ quá khích. Họ tổ chức treo cờ, ảnh Tưởng Giới Thạch, cử đại biểu ra Đà Nẵng để chào mừng quân Tưởng. Những hành động quá khích đó đã dẫn đến sự va chạm của người Việt và người Hoa ở một số nơi như Đập Đá, An Thái, Phù Mỹ... làm cho tình hình thêm phức tạp..

<span class='text_page_counter'>(4)</span> Bình Định là tỉnh có số đông đồng bào theo đạo Thiên chúa. Ở đây, có toà giám mục và nhiều nhà thờ như Đại chủng viện Quy Nhơn, Tiểu chủng viện Lòng Sông (Tuy Phước), Nhà giòng Kim Châu (An Nhơn). Nói chung, giáo dân có tinh thần yêu nước, phấn khởi khi nước nhà đã giành được độc lập, hăng hái tham gia vào công cuộc cách mạng; nhưng một số bị bọn lợi dụng tôn giáo lôi kéo, xuyên tạc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc nên dẫn đến lưng chừng, do dự, thậm chí có người bi quan với sự nghiệp cách mạng. Đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể tuy hăng hái, nhiệt tình cách mạng, nhưng quản lý một chính quyền mới, một xã hội mới là công việc hết sức mới mẻ, chưa có kinh nghiệm, nên không thể tránh khỏi những vấp váp lúng túng, có khi dẫn đến những hành động quá tả hay quá hữu của buổi ban đầu. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang còn non yếu, phần lớn cán bộ chỉ huy chưa có hiểu biết về quân sự và kinh nghiệm chiến đấu, trang bị thiếu thốn, chỉ có giáo mác, đại đao, mã tấu, một ít súng trường lấy được của Nhật... Từ tình hình thực tế trên, các tổ chức Đảng, cán bộ Đảng viên và nhân dân Bình Định đứng trước những thử thách nghiêm trọng, tưởng chừng như không vượt qua nổi. Do đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Định càng thấm thía câu nói của Lênin: "Giành chính quyền đã khó, song việc giữ chính quyền cách mạng trong thời kỳ non trẻ còn khó hơn" Song, nhân dân Bình Định có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, có chính quyền mới, có tổ chức Đảng đã dày dạn trong đấu tranh cách mạng, lại được sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân được sống trong những ngày độc lập, tự do trên quê hương đất nước mình, đó là những thuận lợi cơ bản, những nhân tố quan trọng để nhân dân Bình Định vượt qua những khó khăn thử thách. Cũng như cả nước, Cách mạng Tháng Tám đã đem lại cho Bình Định thế và lực mới. Khi thế cách mạng của nhân dân lên cao chưa từng thấy. Chính trong điều kiện đó, Đảng bộ và nhân dân Bình Định càng ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình: ''Già, trẻ, trai, gái, triệu người như một chạy đua với thời gian, ra sức phát triển lực lượng, xây dựng và bảo vệ chế độ mới" Hơn lúc nào hết, thời gian đối với nhân dân Bình Định lúc này là lực lượng là điều kiện cần thiết để ứng phó với mọi tình thế. 2. Củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới a. Kiện toàn bộ máy chính quyền cách mạng, củng cố cơ sở Đảng, phát triển các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang. Để đưa đất nước ra khỏi nguy cơ "ngàn cân treo sợi tóc", sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 25.11.1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị: "Kháng chiến kiến quốc" nêu rõ những nhiệm vụ trước mắt là: "Phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân". Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, đầu tháng 9.1945, Tỉnh ủy lâm thời Bình Định và Ủy ban Việt Minh, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời đã họp để xem xét tình hình. Dựa vào 6 nhiệm vụ cấp bách của cả nước do Hồ Chủ tịch đề ra trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3.9.1945, và căn cứ vào thực tế ở địa phương, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Bình Định là: Nghiêm chỉnh chấp hành các nhiệm vụ của Trung ương đề ra, củng cố chính quyền các cấp, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát triển các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động quần chúng trấn áp bọn phản cách mạng, nhanh chóng ổn định tình hình, cải thiện đời sống nhân dân, chuẩn bị.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> cho cuộc kháng chiến lâu dài...1. Đây là những chủ trương quan trọng, vừa đáp ứng tình hình trước mắt, vừa chuẩn bị đối phó lâu dài với chiến tranh. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải củng cố nhà nước về mặt pháp lý và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.Ngày 22.11.1945, chính phủ ra sắc lệnh tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội, cơ quan lập pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp trong cả nước. Ngày 23.12.1945, Bình Định đã tiến hành bầu cử Quốc hội2. Số đại biểu Quốc hội của tỉnh Bình Định được bầu là 12 vị. Cuộc tổng tuyển cử được tiến hành theo chế độ phổ thông đấu phiếu, không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo, dân tộc, hễ là công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền đi bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Bình Định từ thành thị cho đến nông thôn, từ miền núi cho đến miền biển được cầm lá phiếu bầu cử những người đại diện của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Không khí cuộc bầu cử như một ngày hội lớn, thể hiện nhân dân thực sự là người làm chủ đất nước. Do vậy, gần 100% số cử tri đã tham gia bầu cử. Tất cả các ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử 100% với số phiếu rất cao. Để củng cố các đơn vị hành chính, đầu năm 1946, tỉnh Bình Định tiến hành giải tán cấp tổng, sáp nhập các thôn làng thành xã lớn (Hiệp xã lần thứ nhất) từ 679 thôn làng thành 212 xã3. Theo quyết định của Quốc hội, tháng 3.1946, Bình Định tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tháng 6.1946, bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã. Sau các cuộc bầu cử, chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố. Hội đồng nhân dân các cấp đã bầu ra các Ủy ban hành chính thay thế cho các Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời được hình thành khi giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Uỷ ban hành chính tỉnh Bình Định do đồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch. Theo chính sách đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, thành phần tham gia chính quyền các cấp ngoài những người trung kiên, những cán bộ cách mạng đầy nhiệt huyết, toàn tâm, toàn ý vì lợi ích của nhân dân, tỉnh đ chủ trương mời một số đại biểu các dân tộc ít người, các nhân sĩ, trí thức, những quan lại cũ yêu nước... vào chính quyền để phát huy sự đóng góp của họ cho chính quyền mới. Riêng ở các xã miền núi, chính quyền đều do những Ca rá, những người có uy tín trong nhân dân đảm nhiệm và do nhân dân bầu công khai. Cùng với việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước, Tỉnh ủy Bình Định, Ủy ban hành chính đã chú trọng mở những lớp huấn luyện nhằm bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chính quyền và các đoàn thể để họ nhận rõ tình hình nhiệm vụ, thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Những việc làm trên, chính quyền các cấp bước đầu được củng cố. Nó thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Đi đôi với việc kiện toàn hệ thống chính quyền các cấp, công tác xây dựng Đảng hạt nhân lãnh đạo của phong trào cách mạng cũng được chú trọng. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Bình Định đã có ban Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Trần Lương làm Bí thư. Tháng 3.1946, đồng chí Trần Quý Hai thay mặt Xứ ủy Trung Kỳ về Bình Định triệu tập hội nghị để truyền đạt chủ trương về công tác xây dựng Đảng của Xứ ủy. Tại đây, đồng chí đã chỉ đạo lập Tỉnh ủy lâm thời Bình Định lần thứ ba gồm 5 đồng chí do đồng.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> chí Trần Lê làm Bí thư. Từ đây công tác xây dựng Đảng ngày càng được đẩy mạnh. Tỉnh ủy lâm thời Bình Định thành lập ban vận động xây dựng Đảng ở các huyện, thành lập những chi bộ đầu tiên. Tháng 6- 1946, cả 7 huyện, thị đều có chi bộ Đảng với tổng số 32 đảng viên. Công tác phát triển Đảng đã xuống sâu tận xã thôn. Cuối năm 1946 đầu năm 1947 (tháng 1), toàn tỉnh đã có 1041 đảng viên với 104 chi bộ, trong đó có 3 chi bộ cơ quan cấp tỉnh, 13 chi bộ cơ quan cấp huyện, hai chi bộ xí nghiệp như chi bộ đồn điền An Trường1 (An Nhơn) và chi bộ xưởng dệt Phú Phong - Delignon. Lần lượt các Huyện ủy chính thức được thành lập. Như vậy, hệ thống tổ chức Đảng trong toàn tỉnh được hình thành. Đây là một nỗ lực lớn của Đảng bộ Bình Định, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng từ tỉnh đến cơ sở. Nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân làm chỗ dựa cho Đảng và chính quyền cách mạng, Đảng bộ Bình Định cũng hết sức chú trọng củng cố và phát triển tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Mặt trận Việt Minh tỉnh được chính thức thành lập vào cuối năm 1945 do đồng chí Trần Lê làm chủ nhiệm. Đây là tổ chức công khai thay mặt Đảng chỉ đạo mọi hoạt động sau ngày giành chính quyền. Chỉ sau một thời gian ngắn, Mặt trận Việt Minh đã phát triển sâu rộng đến các huyện, xã,thành phố. Ở thị xã Quy Nhơn, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia vào mặt trận. Mặt trận Việt Minh tỉnh đã ra tờ báo "Tranh đấu" để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng trong quần chúng. Tháng 6.1946, theo chỉ thị của cấp trên, Tỉnh ủy Bình Định thành lập "Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam" (gọi tắt là Hội Liên Việt) nhằm tập hợp đoàn kết rộng ri các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo dân tộc để kháng chiến, kiến quốc. Tỉnh ủy Bình Định còn chủ trương thành lập "Hội Hoa - Việt" nhằm động viên những người Hoa tham gia vào phong trào cách mạng và ủng hộ kháng chiến, "Hội Hoa-Việt" được phát triển vào những nơi có nhiều người Hoa sinh sống như ở An Thái, Đập Đá, Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan. Cùng với Mặt trận Việt Minh, các tổ chức đoàn thể quần chúng như: "Công nhân cứu quốc", "Nông dân cứu quốc", "Thanh niên cứu quốc", "Phụ nữ cứu quốc", "Phụ lão cứu quốc", "Nhi đồng cứu quốc"... cũng nhanh chóng được xây dựng và phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, các đoàn thể quần chúng nói trên đã lần lượt tổ chức đại hội để bầu ra Ban chấp hành các cấp như Phụ nữ 10.1945, Thanh niên 11.1945, Công nhân 1.1946, Nông dân 2.1946, Liên Việt 6.1946... Nhờ đó, các đoàn thể quần chúng ngày càng lớn mạnh. Hội phụ nữ cứu quốc Bình Định, từ cuối năm 1945 đầu năm1946 đã được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh từ tỉnh đến cơ sở xã, thôn. Hội đã thành lập "Đội tuyên truyền xung phong" do chị Đinh Thị Ngọc Tảo làm đội trưởng nhằm động viên chị em tham gia vào công cuộc củng cố chính quyền, xây dựng cuộc sống mới. Công nhân cứu quốc Bình Định đến tháng 8.1946, đổi thành Công đoàn. Liên hiệp Công đoàn Bình Định lúc bấy giờ do đồng chí Trần Tín, một trong những đại biểu Quốc hội khóa I làm Thư ký... Để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền, sẵn sàng đối phó với kẻ địch, Tỉnh ủy Bình Định hết sức coi trọng việc xây dựng các lực lượng vũ trang. Các đội tự vệ được hình thành trong Cách mạng Tháng Tám, nay được củng cố và phát triển. Với truyền thống thượng võ, nhân dân Bình Định tích cực tham gia vào các đội tự vệ vũ trang. Họ tự sắm sửa vũ khí, hăng hái luyện tập ngày đêm. Lực lượng tự vệ đã được xây dựng khắp các huyện, thành phố và thôn xã. Mỗi huyện có một đại đội tự vệ, mỗi thôn xã có một trung.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> đội. Ở Quy Nhơn thành lập được trung đội thủy quân mang tên là Ngô Quyền với 100 chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ ven biển. Ở các xã ven biển của Phù Cát đã thành lập đội vũ trang ven biển để chống sự xâm nhập của địch từ biển vào. Các xã này đã lập hai đài quan sát ở phía nam và phía bắc núi Bà để làm nhiệm vụ cảnh giới, thông báo kịp thời cho nhân dân biết khi có tàu địch đến1. Cùng với việc xây dựng lực lượng tự vệ, Tỉnh ủy Bình Định cũng hết sức quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang tập trung. Đầu 9.1945, tại thành phố Quy Nhơn, chi đội giải phóng quân mang tên Phan Đình Phùng được thành lập. Chi đội do Nguyễn Giáo làm chi đội trưởng gồm 3 phân đội: Nguyễn Huệ, Tăng Bạt Hổ, Mai Xuân Thưởng và một trung đội nữ. Đây là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Bình Định được tuyển chọn từ những chiến sĩ của đội tự vệ sắt và tự vệ cứu quốc trước đây. Tháng 5.1946, chi đội Phan Đình Phùng chuyển thành Trung đoàn 95 vệ quốc đoàn của Liên khu 5. Tháng 12.1946, Ban quân sự tỉnh được thành lập. Bên cạnh chi đội giải phóng quân, một "Đại đội phòng thủ" được thành lập gồm hai trung đội nam, và một trung đội nữ để bảo vệ bờ biển, còn gọi là đơn vị "Thủy đội Bạch Đằng". Vấn đề trang bị và vũ khí của các lực lượng vũ trang chủ yếu là giáo mác, một ít súng trường, tiểu liên lấy được của Nhật. Để khắc phục tình trạng thiếu vũ khí, Tỉnh ủy chủ trương thành lập các xưởng quân giới. Tháng 9.1945, xưởng quân giới Hoàng Hoa Thám ra đời (An Khê), tiếp đến tháng 10.1946 là xưởng Quang Trung (Bình Hòa, Hoài Ân). Máy móc dụng cụ, công nhân, cán bộ kỹ thuật của các xưởng này đã được tập hợp từ các cơ sở của Pháp như các cơ xưởng ở Quy Nhơn, xưởng Delignon ở Phú Phong... Nhiệm vụ của các xưởng quân giới là sửa chữa các loại vũ khí thu được của Nhật, Pháp và sản xuất một số bom, mìn, dao rựa, lựu đạn, cuốc xẻng... nhằm cung cấp cho bộ đội và dân quân tự vệ. Mỗi cơ xưởng có từ 100 đến 200 công nhân, làm việc suốt ngày đêm. Số vũ khí sản xuất được còn chi viện cho quân và dân vùng cực Nam Trung Bộ khi Nam Bộ kháng chiến diễn ra. Có thể nói, xưởng quân khí Hoàng Hoa Thám và Quang Trung là cơ sở quan trọng để hình thành công nghiệp quốc phòng sau này của Liên khu 5 và tỉnh Bình Định. Ngành Công an Bình Định cũng nhanh chóng được thành lập từ tỉnh đến cơ sở. Ty Công an Bình Định lúc này gọi là ty Trinh sát, gồm hai ban: ban Điều tra và ban Trật tự do Nguyễn Phát Nguyên, sau đó là Phạm Sanh phụ trách. Những người được tuyển vào cơ quan trinh sát là những đồng chí ưu tú trong các tổ chức tự vệ sắt, tự vệ vũ trang... Đến cuối năm 1946, lực lượng công an Bình Định có gần 100 cán bộ, nhân viên, mỗi huyện có từ 5-7 người, mỗi xã có từ 2-3 người. Lực lượng công an Bình Định vừa mới ra đời đã bước ngay vào cuộc đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ các cơ quan quan trọng của Đảng và chính quyền, giữ gìn an ninh trật tự, nhất là những nơi xung yếu như Quy Nhơn, Đập Đá, Bồng Sơn... b. Giải quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội. Sau ngày giành chính quyền, công việc cấp bách của Đảng và chính quyền Bình Định là phải giải quyết khó khăn đang đe dọa cuộc sống của gần 70 vạn dân trong tỉnh1. Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa (mỗi bữa một bơ). Đem số gạo đó để cứu dân nghèo”2, nhân dân Bình Định đã.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> “đồng cam cộng khổ”, “thương yêu đùm bọc lẫn nhau”, “nhường cơm xẻ áo”, để vượt qua những ngày đói kém này. Một phong trào quyên góp, tổ chức “ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói”... được phát động trên tinh thần “tình làng nghĩa xóm”, “lá lành đùm lá rách”. Nhờ vậy, nhiều đồng bào nghèo được cứu đói, số lương thực thu được còn cứu trợ cho đồng bào các tỉnh phía bắc đang bị đói nghiêm trọng. Song, biện pháp lâu dài và cơ bản để giải quyết nạn đói tận gốc là phát động phong trào tăng gia sản xuất. Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: "Tăng gia sản xuất!, Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!" đã được nhân dân Bình Định hưởng ứng một cách tích cực. Với khẩu hiệu "tấc đất, tấc vàng", nông dân Bình Định đã đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất. Từ các huyện lị cho đến các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, mọi nhà, mọi người đều tận dụng đất để trồng rau màu, khoai sắn. Diện tích gieo trồng được tận dụng để cấy cày, nông dân còn tranh thủ khai phá đất đồi, đất gò bị bỏ hoang, tích cực làm phân xanh, phân chuồng để thâm canh, tu bổ hệ thống mương, máng, xe nước dọc theo con sông Lại Giang, đổi mới việc quản lý hệ thống thủy nông để phân phối nước thuận lợi, công bằng, tránh tình trạng lũng đoạn của một số người có quyền thế trước đây. Cùng với phong trào tăng gia sản xuất nông nghiệp, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng được phục hồi. Nghề trồng bông dệt vải ở An Nhơn, Bình Khê, trồng dâu nuôi tằm ở Hoài Nhơn, nghề rèn đúc công cụ sản xuất và đồ dùng gia đình ở Bồng Sơn, Đập Đá, nghề chế biến từ cây dừa, cây mỳ ở Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Nhơn... được khuyến khích phát triển, đã khơi dậy tiềm năng sản xuất hàng tiêu dùng của tỉnh. Phong trào tăng gia sản xuất gắn liền với tiết kiệm lương thực. Việc nấu rượu, làm bún, bánh bằng gạo được triệt để hạn chế. Nhà nhà đều có hũ gạo tiết kiệm để cứu đói. Nhờ biết dựa vào dân, phong trào tăng gia sản xuất cứu đói chỉ sau một thời gian ngắn đã đạt được những kết quả căn bản. Khắp nơi, lúa ngô khoai, mỳ phủ xanh một màu. Diện tích lúa và hoa màu tăng 40.000 mẫu. Vụ mùa đầu tiên năm 1945 và tiếp đến vụ Đông xuân 1945-1946 đạt khá, mùa màng bội thu. Thắng lợi trên mặt trận chống đói đã đem lại niềm tin, niềm phấn khởi cho quần chúng đối với chính quyền cách mạng, đối với chế độ mới. Đi liền với chống đói, Đảng và chính quyền cách mạng tỉnh Bình Định hết sức quan tâm đến việc tăng cường bồi dưỡng sức dân, thực hiện những cải cách dân chủ quan trọng. Chính quyền cách mạng đã ban bố quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, tịch thu ruộng đất của bọn thực dân, Việt gian chia cho dân cày nghèo thiếu ruộng, bãi bỏ chế độ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác, xóa nợ cho nông dân, tiến hành chia lại ruộng đất công điền, công thổ một cách công bằng hợp lý cho cả nam lẫn nữ từ 18 tuổi trở lên. Công nhân làm trong các xí nghiệp cũ của Pháp được tiếp tục làm việc và được hưởng luật ngày làm việc 8 giờ do Chính phủ quy định. Giới tiểu thương, tiểu chủ được phép buôn bán những mặt hàng thiết yếu cho dân, thủ tiêu luật hạn chế việc chuyên chở lúa gạo do Pháp-Nhật đặt ra trước đây, nghiêm trị những kẻ đấu cơ, tích trữ thóc gạo, làm hại đến nền kinh tế...1. Những cải cách dân chủ nói trên đã mạng lại lợi ích cho nhân dân. Nhân dân thấy rõ mình thực sự là người dân của một nước độc lập. Đúng như Hồ Chủ tịch nói: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì"1..

<span class='text_page_counter'>(9)</span> Trên mặt trận văn hóa giáo dục, việc chống giặc dốt, chống nạn mù chữ trở thành nhiệm vụ quan trọng của Đảng và chính quyền Bình Định. Một dân tộc mà hơn 95% dân số mù chữ thì không thể nói đến làm chủ, tham gia vào việc quản lý nhà nước và phát triển văn hóa dân tộc. Hồ Chủ tịch nói "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Vì vậy ngày 8.9.1945, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập "Nha Bình dân học vụ", tiến hành công tác xóa nạn mù chữ trong cả nước. Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi "Những người biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ "... vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo... Phụ nữ lại cần phải học..."2 Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, phong trào bình dân học vụ ở Bình Định diễn ra khắp nơi, từ thành thị cho đến nông thôn, từ gia đình cho đến mọi người. Lớp học được tổ chức bất cứ nơi đâu thuận tiện cho người đi học như đình chùa, xưởng máy... Có lớp tổ chức ban trưa, có lớp buổi tối. Hình ảnh các em bé 7- 8 tuổi cho đến các cụ già 60-70 tuổi, các chị, các má đêm đêm bên ngọn đèn dầu cặm cụi đánh vần từng chữ một cách kiên nhẫn thể hiện tính chịu khó, hiếu học của nhân dân ta. Để khắc phục khó khăn về phương tiện học tập, nhiều nơi đã có sáng kiến dùng đất sét, than làm phấn, mo cau, lá chuối non phơi khô làm giấy. Nhiều biện pháp vừa có tính chất cổ động, vừa có tính chất bắt buộc cũng được áp dụng như: lập cổng chào trên đường, ai đọc được những chữ trên bảng thì cho đi qua, ai không đọc được thì bắt lội ruộng hoặc vượt qua những chướng ngại vật đặt sẵn. Nhiều sáng tác minh họa để cho người đi học dễ nhớ, dễ hiểu cũng được tuyên truyền như: O tròn như quả trứng gà Ô thì đội nón, ơ thì thêm râu. Phong trào bình dân học vụ ở Bình Định phát triển sâu rộng đến cả miền núi. Kết quả, đến cuối năm 1946, phong trào bình dân học vụ ở Bình Định đã có nhiều thành công trong việc xóa nạn mù chữ. Xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước vào tháng 12 năm 1948, được tỉnh và Liên khu 5 cấp giấy công nhận là một trong những xã " thanh toán nạn mù chữ sớm nhất". Công tác xóa nạn mù chữ đã trở thành một phong trào quần chúng rộng khắp toàn tỉnh. Cùng với phong trào bình dân học vụ, Tỉnh ủy và chính quyền Bình Định cũng chuẩn bị tốt cho các em bước vào năm học mới, năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945-1946) với một nền giáo dục mới nhằm đào tạo những công dân phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đến năm học 1946 - 1947, toàn tỉnh đã có 780 lớp học với 24.642 học sinh bậc tiểu học, và 200 học sinh bậc trung học1. Như vậy, sự nghiệp giáo dục phổ thông được chú trọng phát triển. Đi đôi với chống giặc dốt, cuộc vận động nếp sống mới, bài trừ các hủ tục cũng được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân. Nhân dân đã có ý thức đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, bài trừ các tệ nạn như cờ bạc, rượu chè, ma chay, đình đám, mê tín dị đoan, những tập quán lạc hậu. Đời sống văn hóa trong nhân dân được cải thiện. Nhiều huyện, xã, thôn xóm đã tổ chức sinh hoạt văn nghệ tập thể. Các bài ca cách mạng được dạy cho nhân dân và thiếu nhi. Ở thành phố Quy Nhơn, rạp hát Morin được đổi tên thành rạp "Ánh sáng", thường xuyên tổ chức các đêm văn nghệ, mời cả đoàn kịch nổi tiếng của Thế Lữ ở Thủ đô Hà Nội vào diễn. Một số tờ báo như tờ "Tia Sáng" ở Quy Nhơn đã kịp thời phục vụ nhu cầu thông tin cho nhân dân. Ty Thông tin Bình Định đã xuất bản tờ "Tin tức" nhằm tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và chính phủ..

<span class='text_page_counter'>(10)</span> Mỗi thôn xóm khu phố đều có lập đội tuyên truyền lưu động do cán bộ văn hóa thông tin xã phụ trách. Những ngày lễ ngày Tết có treo cờ, tổ chức mít ting, hội họp, hát vang những bài ca cách mạng. Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch: X " ây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công"2, nhân dân Bình Định đã đẩy mạnh phong trào ăn sạch, ở sạch, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, làm sạch đường làng. Mạng lưới y tế toàn tỉnh từng bước được hình thành ở các huyện để chữa bệnh cho dân. Có thể nói, một cuộc sống mới đã bắt đầu. Để xây dựng nền tài chính quốc gia, động viên nhân dân tự nguyện đóng góp vào ngân quỹ nước nhà, ngày 4.9.1945, Chính phủ ra sắc lệnh gây "Quỹ độc lập", phát động"Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng". Với tinh thần xây dựng đất nước, nhân dân Bình Định đã tích cực hưởng ứng phong trào. Khắp toàn tỉnh, từ những người giàu có đến những người nghèo khó, ai ai cũng tự nguyện ủng hộ "Quỹ độc lập". Nhiều người đã ủng hộ cả hoa tai, kiềng vàng, nhẫn cưới, những vật kỷ niệm thiêng liêng của đời mình. Nhiều gia đình đã ủng hộ cả bộ tam sự, ngũ sự bằng đồng đang thờ của mình cho chính phủ. Kết quả, từ ngày 17 đến ngày 24.9.1945, nhân dân Bình Định đã quyên góp được 25 kg vàng và hàng trăm tấn đồng. Các địa phương thu khá như Quy Nhơn 5 kg vàng, Tuy Phước 4 kg, An Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Cát khoảng 100 lạng vàng...1. Tuần lễ vàng, tuần lễ đồng đã thực sự trở thành một phong trào có tính chất quần chúng, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp xây dựng chế độ mới. Ngoài ra, nhân dân Bình Định đã đóng góp vào cơng quỹ, đảm phục vụ quốc phòng với hàng trăm triệu đồng. 3. Chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài Ngày 23.9.1945, núp dưới bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, âm mưu trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Đồng bào Nam Bộ đã đứng lên kháng chiến. Tháng 10.1945, địch đánh chiếm Nha Trang, rồi mở rộng ra Phú Yên, âm mưu đánh chiếm cả Quy Nhơn . Trước sự gây hấn của thực dân Pháp, Tỉnh ủy Bình Định đã kịp thời tổ chức nhiều cuộc mít tinh biểu tình để phản đối hành động xâm lược của thực dân Pháp, ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy Bình Định phát động phong trào ủng hộ sức người, sức của cho đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Nhiều con em Bình Định đã xung phong lên đường tòng quân giết giặc. Các mẹ, các chị đã quyên góp tiền bạc, thuốc men, lương thực, quần áo gửi cho bộ đội đang chiến đấu ở Nam Bộ, Nha Trang. Trên các ga lớn của tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua Bình Định như Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ, Bình Định, Diêu Trì... nhân dân, cán bộ đã tổ chức đón đưa các đoàn quân Nam Tiến, thăm hỏi, tiếp tế lương thực, tặng quà bánh, thuốc men, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào đối với các chiến sĩ chiến đấu cho độc lập và tự do của Tổ quốc. Những hành động gây hấn của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn. Ngày 10.12.1945, tàu chiến địch đột nhập Cù Lao Xanh, mưu toan đổ bộ lên Quy Nhơn để cùng với 50 lính Nhật đang chiếm giữ nhà băng đánh chiếm thành phố. Ngày 12.12.1945, bộ đội ta đã kịp thời tấn công nhà băng Quy Nhơn, buộc quân Nhật đầu hàng. Tàu chiến Pháp cũng phải rút lui. Tháng 7.1946, thực dân Pháp đánh chiếm An Khê, chuẩn bị lập đầu cầu đánh xuống Bình Định..

<span class='text_page_counter'>(11)</span> Trước tình hình ngày càng khẩn trương, Tỉnh ủy Bình Định nhận định: "Sớm muộn gì địch cũng cố sức đánh chiếm Bình Định. Nếu chưa đánh được, chúng cũng đánh phá bằng nhiều thủ đoạn, gây khó khăn, thiệt hại cho ta, làm cho tình hình mất ổn định". Từ đó, Tỉnh ủy chủ trương:"Cần phải kiên quyết không cho chúng đổ bộ lên đất liền, tăng cường công tác chuẩn bị chiến đấu, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang cơ sở, phát động phong trào toàn dân phòng gian bảo mật, luyện tập quân sự, xây dựng trận địa bố phòng, làng xã chiến đấu, đồng thời thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến" Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Ủy ban Kháng chiến các cấp được thành lập. Công tác "tiểu thổ kháng chiến" được tiến hành khẩn trương. Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính đã động viên nhân dân tự tay phá hủy nhà cửa, đến chùa, nhà thờ họ..., những nơi mà địch có thể đóng quân hoặc đồn trú. Phá hoại cũng là để kháng chiến, nhân dân Bình Định tập trung phá thành Bình Định, thị xã Quy Nhơn, đépot xe lửa Diêu Trì... những nơi mà địch có thể chiếm đóng, lập căn cứ quân sự. Chỉ sau một thời gian ngắn, thị xã Quy Nhơn, thành Bình Định trở nên hoang tàn, đổ nát. Nhân dân Bình Định thực sự hy sinh lớn lao vì nền độc lập của nước nhà. Trên các tuyến đường giao thông huyết mạch như Quốc lộ I, đường 19, các đường tỉnh lộ Bồng Sơn - An Lão, Cầu Dơi - Kim Sơn... đều bị xẻ từng đoạn, đào hào, đắp ụ để cản bước tiến của địch. Trên các bãi trống hàng ngàn cọc nhọn được cắm tua tủa để đề phòng quân địch nhảy dù. Nữ dân quân Hoài Châu (Hoài Nhơn) đã lên rừng chặt cây, hoặc dùng tre, cau vườn vót nhọn để xây dựng bãi chông rộng trên bãi cát Đồng Chu. Các tuyến phòng thủ cũng được xây dựng. Tỉnh cũng huy động nhân dân, bộ đội, dân quân tự vệ xây dựng các tuyến bố phòng ở những hướng mà địch có thể tới. Tuyến phòng thủ Tam Bình (Bình Quang, Bình Tường, Bình Giang) được tập trung xây dựng để đối phó với địch từ An Khê đánh xuống. Ở đây, tỉnh cũng thành lập ban chỉ đạo khu Tam Bình nhằm hướng dẫn nhân dân, bộ đội bố phòng chặt chẽ. Mặt bắc và nam, tỉnh lập phòng tuyến đèo Cù Mông, đèo Bình Đê để ngăn chặn địch đánh vào từ những hướng này. Đồng thời, Tỉnh ủy cũng chú trọng xây dựng tuyến phòng thủ ven biển Quy Nhơn, Đề Gi - Tam Quan để phòng địch đổ bộ lên từ mặt biển. Ngoài ra, một số huyện cũng chú trọng xây dựng các tuyến chiến đấu như: Phù Cát xây dựng tuyến Mỹ Hóa - Chợ Gồm, Hoài Nhơn xây dựng tuyến đèo Bình Đê, Bình Khê xây cất các chốt: Núi Một, Hòn Sưng. Có thể nói, công tác bố phòng để chống quân Pháp đổ bộ vào Bình Định được quán triệt sâu rộng trong nhân dân và lực lượng vũ trang. Để chuẩn bị chiến đấu, tỉnh chủ trương tản cư phụ nữ, người già, trẻ em ở thành phố Quy Nhơn... về sâu trong nông thôn, đồng thời di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc từ thành thị về thôn quê, giáo dục nhân dân bảo mật phòng gian, chống chiến tranh gián điệp của địch, chuyển các xưởng quân giới về vùng Bình Hòa (Hoài Ân), Thạch Bàn (Cát Sơn, Phù Cát)... Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng "tản cư cũng là kháng chiến", nhân dân Quy Nhơn, và các thị trấn, thị xã dọc theo đường Quốc lộ I đã chấp hành triệt để lệnh của chính phủ. Họ thực hiện "vườn không nhà trống", không để một hạt gạo rơi vào tay giặc. Cũng trong thời gian này, các phái đoàn của Đảng và Chính phủ vào làm việc với Khu 5 và Bình Định đã động viên kịp thời Đảng bộ và nhân Bình Định trong công cuộc xây dựng chế độ mới cuộc sống mới và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Tháng.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> 12.1945, phái đoàn của đồng chí Lê Văn Hiến vào nghiên cứu tình hình chung, tháng 1.1946, phái đoàn của đồng chí Võ Nguyên Giáp vào khảo sát chiến trường, kiểm tra tình hình quân sự. Tháng 11.1946, phái đoàn của đồng chí Phạm Văn Đồng và cụ Huỳnh Thúc Kháng vào truyền đạt tình hình nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sự có mặt của các phái đoàn Đảng và Chính phủ đã gây niềm tin tưởng tuyệt đối của Đảng bộ và nhân dân Bình Định vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch. Tóm lại, sau hơn một năm xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới và bảo vệ chính quyền cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã đạt được những thành tích đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố. Khối đoàn kết toàn dân được mở rộng thông qua việc xây dựng Mặt trận dân tộc và các đoàn thể quần chúng. Các lực lượng vũ trang được chú ý xây dựng ngay từ đầu sau Cách mạng Tháng Tám. Công tác chống giặc đói, chống giặc dốt, và các vấn đề xã hội được giải quyết tận gốc... Đảng bộ Bình Định, một Đảng bộ kiên cường trong Cách mạng Tháng Tám, nay đã biết vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ vào một địa bàn có tầm vị trí chiến lược ở miền Trung Đông Dương. Đảng bộ nhìn thấy rõ âm mưu của thực dân Pháp đối với Bình Định, do đó, công tác xây dựng các lực lượng vũ trang, lập các tuyến phòng thủ quan trọng, đặt các bãi chông mìn... để đề phòng khả năng địch đổ bộ vào Bình Định được chuẩn bị khẩn trương và rất sớm. Thắng lợi của công cuộc xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới và bảo vệ chính quyền cách mạng là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Bình Định bước vào cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ, bảo vệ vững chắc vùng tự do Liên khu V. Hiệu lệnh tại hai đài quan sát được quy định là, Khi nào có hai cặp bồ được kéo lên chính là lúc tàu địch đến. Do vậy ở Bình Định được lưu truyền câu ca dao: Tai nghe kẻng đánh beng beng Ngó lên phía núi tòng teng hai bồ Anh về xếp đặt ba lô Chờ khi có lệnh mang vô lên đường (Bộ chỉ huy quân sự huyện Phú Cát- Lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng- Bình Định, tr. 49) II. XÂY DỰNG VÀ GIỮ VỮNG VÙNG TỰ DO, THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHỐI HỢP VỚI CÁC CHIẾN TRƯỜNG (1947-1952) 1. Quan điểm của Tỉnh ủy Bình Định về xây dựng và giữ vững vùng tự do Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946), chiến trường Nam Trung Bộ hình thành hai vùng rõ rệt: vùng tự do và vùng bị tạm chiếm. Tháng 12.1946, thực dân Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng. Tháng 1.1947, địch đánh ra nam Phú Yên, đồng thời mở rộng khu căn cứ An Khê bằng một hệ thống đồn bốt, hình thành thế bao vây vùng tự do Liên khu V. Nằm ở vùng ven biển miền Trung, Bình Định là một trong những tỉnh thuộc vùng tự do hoàn toàn. Ngày 2.7.1947, 2.000 quân Pháp tiến công thị trấn Phú Phong, chuẩn bị bàn đạp để đánh tỉnh Bình Định. Được sự chỉ đạo của Liên khu ủy Khu V và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Bình Định, lực lượng vũ trang tỉnh đã đưa một phân đội "quyết tử" luồn lên An Khê, bám đánh địch ở đường 19. Ngày 3.7.1947, 300 quân địch lọt vào trận địa mai phục của ta trên đèo Bồ Bồ.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> và đã bị đánh bất ngờ. Tiếp đó, các đợt tấn công ồ ạt của thực dân Pháp đánh chiếm Bình Định đều bị đẩy lùi và bị tiêu diệt. Vùng tự do tỉnh Bình Định được giữ vững. Bình Định là một tỉnh đất rộng, người đông (năm 1947 có gần 700.000 dân), lại là tỉnh có tụ điểm giao thông quan trọng xuyên Việt và xuyên Đông Dương. Do vậy, Bình Định có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và kinh tế, là căn cứ địa cách mạng, là hậu phương chiến lược của chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Bình Định được mệnh danh là Thủ phủ của vùng tự do Liên khu V. Trong những ngày đầu kháng chiến, thực dân Pháp chưa đủ sức đánh chiếm Bình Định nhưng chúng đ tăng cường các thủ đoạn đánh phá, tổ chức những cuộc hành quân nhỏ thọc sâu xuống vùng giáp ranh Vĩnh Thạnh, Bình Khê, bao vây, khủng bố nhân dân, móc nối với bọn phản động để đánh phá bên trong... Từ thực tế trên, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, các lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu và kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch. Trong bất cứ tình huống nào, quyết tâm giữ vững Bình Định là tỉnh tự do, là hậu phương của chiến trường Liên khu V và Tây Nguyên. Đồng thời, ra sức xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống của nhân dân, tăng cường sức mạnh mọi mặt để làm tròn nhiệm vụ hậu phương, động viên sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến. Nhận thức của Tỉnh ủy Bình Định hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Trung ương là biến vùng tự do khu V thành căn cứ địa, là hậu phương lớn của chiến trường Nam Trung Bộ (bao gồm cả Tây Nguyên). Sự lớn mạnh của Liên khu V và Bình Định thể hiện ở đời sống nhân dân được cải thiện, các chính sách xã hội được giải quyết, kinh tế, văn hóa kháng chiến được phát triển... chính là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao và niềm tin đối với nhân dân các vùng bị tạm chiếm. 2. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân - toàn diện ở vùng tự do a. Xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể. Để giữ vững vùng tự do và làm tròn nhiệm vụ hậu phương, việc xây dựng thực lực cách mạng trở thành nhiệm vụ quan trọng, trong đó công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trở thành nhiệm vụ trước mắt hết sức khẩn trương. Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, công tác xây dựng Đảng được chú trọng cả ba mặt: chính trị - tư tưởng và tổ chức. Căn cứ vào sự chỉ đạo của Liên khu ủy và tình hình trong tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất được triệu tập ngày 22.1.1947 tại thành Bình Định. Vinh dự của đại hội là được đón đồng chí Phạm Văn Đồng, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về tham dự. Đại hội đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ vững mạnh để lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc trong mọi tình huống, tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch, bảo đảm Bình Định là tỉnh tự do, tỉnh hậu phương của chiến trường khu V, đồng thời ra sức củng cố hệ thống tổ chức Đảng, tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và Đảng bộ. Đảng bộ đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí. Đồng chí Trần Lê được bầu làm Bí thư..

<span class='text_page_counter'>(14)</span> Ở Bình Định, trừ một số xã miền núi, còn hầu hết các xã đồng bằng đều có chi bộ và chi ủy từ 3 đến 5 ủy viên. Ban Chấp hành Huyện ủy từ 9 đến 13 ủy viên, tỉnh ủy có 13 đến 15 ủy viên. Đại hội các cấp họp trong hoàn cảnh toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp đã bùng nổ, nên có một ý nghĩa rất quan trọng, đó là đã rút được những kinh nghiệm quý báu sau một năm, xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới, bảo vệ chính quyền cách mạng và chuẩn bị kháng chiến, đề ra được những biện pháp cấp bách để đẩy mạnh cuộc kháng chiến, kiện toàn được cơ quan lãnh đạo các cấp. Đặc biệt, đại hội trang bị những nhận thức, quan điểm đường lối kháng chiến của Đảng, tạo lòng tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân vào kháng chiến nhất định thắng lợi, vào sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương và Hồ Chủ tịch. Sau đại hội, sinh hoạt Đảng và sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đi dần vào nề nếp. Cấp ủy từ huyện trở lên thành lập ban tuyên huấn, ban tổ chức, văn phòng, Đảng đoàn chính quyền, Đảng đoàn Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, phân công cấp ủy viên chuyên trách công tác tổ chức, tuyên huấn, dân vận và dân quân. Đây là một nỗ lực lớn trong việc hình thành hệ thống tổ chức Đảng để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Hầu hết Đảng viên là thanh niên bần nông, trung nông, tiểu tư sản, được rèn luyện thử thách qua chiến đấu và công tác kháng chiến. Vì vậy, toàn Đảng bộ dấy lên phong trào xây dựng chi bộ tự động công tác theo ba tiêu chuẩn: thường xuyên tổ chức tự phê bình và phê bình để nâng cao chất lượng Đảng viên, động viên đông đảo quần chúng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng phong trào chiến tranh nhân dân và chi viện đắc lực cho tiền tuyến. Để nâng cao trình độ và giáo dục đảng viên, Tỉnh ủy và các Huyện ủy thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng huấn luyện. Cán bộ lãnh đạo tỉnh, huyện trực tiếp về tận cơ sở giảng bài, bồi dưỡng cán bộ với các nội dung bàn về chủ nghĩa cộng sản, về cách mạng dân tộc dân chủ và đạo đức cách mạng "cần kiệm liêm chính chí công vô tư". Đặc biệt được đồng chí Phạm Văn Đồng trực tiếp trình bày tài liệu "Sửa đổi lề lối làm việc" của Hồ Chủ tịch (10.1947) đã nâng cao được ý thức đấu tranh chống biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, quan liêu xa rời quần chúng đang gây trở ngại cho sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc kháng chiến kiến quốc. Nhờ chăm lo công tác xây dựng Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cũng như tổ chức Đảng và cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở được phát huy, các phong trào thi đua yêu nước được đẩy mạnh, công tác xây dựng hậu phương kháng chiến phát triển mạnh mẽ. Trong 2 năm 1947-1948 đã phát triển thêm 1.938 đảng viên, riêng năm 1948 kết nạp được 726 người. Số lượng Đảng viên toàn tỉnh đến cuối năm 1948 là 2.979 đồng chí với 112 tổ chức cơ sở Đảng gồm 80 chi bộ xã, thị xã Quy Nhơn, 29 chi bộ cơ quan và hai chi bộ xí nghiệp. Trong khí thế của toàn Đảng toàn dân hăng hái chuẩn bị chuyển mạnh sang giai đoạn tổng phản công, Tỉnh ủy triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ hai vào tháng 2 năm 1949 tại thôn Dương Liễu, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ. Đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ, Phó bí thư Liên khu ủy đã về dự đại hội. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá toàn diện tình hình 2 năm 1947-1948, bàn những nhiệm vụ trong tình hình mới và bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ mới gồm 19 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn làm Bí thư. Đại hội nhấn mạnh củng cố hơn nữa tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đ phê phán một số cán bộ đảng viên có tư tưởng ngại hy sinh, lơi lỏng nhiệm vụ, cần phải được giải quyết tốt. Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ II, Đại hội Đại biểu các huyện thị được tổ chức, công tác xây dựng Đảng ngày càng đi vào nề nếp. Ở Quy Nhơn, tính đến giữa năm 1949 đã tiến hành hai đợt kết nạp đảng viên với số lượng 30 đảng viên, đến năm 1950, đưa số đảng viên lên 250. Huyện phát triển Đảng mạnh nhất là huyện Hoài Ân..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Ở Bình Định, năm 1949 có 4.000 đảng viên, đến tháng 2.1950 tăng lên 25.000 đảng viên. Bình Định được xem là tỉnh dẫn đầu về phát triển Đảng trong liên khu. Việc nhanh chóng tăng số lượng đảng viên đã tăng cường thêm sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ. Tuy nhiên, việc xây dựng chi bộ tự động công tác còn tiến chậm. Toàn tỉnh có 115 chi bộ được phân loại thì có 43 chi bộ tự động công tác, 30 chi bộ khá, 25 yếu, 17 kém Để thực hiện các nghị quyết Hội nghị toàn quốc, hội nghị cán bộ Đảng toàn liên khu (1.1950) và tăng cường lãnh đạo cuộc kháng chiến chuyển sang bước phát triển mới, Tỉnh ủy quyết định triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn tỉnh lần thứ III (3.1950) tại trại thiếu nhi Bác Hồ ở Cát Hanh - Phù Cát. Đại hội nhận thấy sau ba năm (1947-1949), trong đó năm 1949 là năm chuẩn bị tổng phản công, tình hình các mặt trong tỉnh phát triển tương đối tốt. Quân và dân Bình Định đ đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm, giữ vững Bình Định là tỉnh tự do, tỉnh hậu phương. Đại hội xác định nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong năm 1950 là gấp rút hoàn thành việc chuyển mạnh sang tổng phản công với các nhiệm vụ cụ thể. Về Đảng, tiếp tục xây dựng Đảng thành một tổ chức vững mạnh. Một mặt củng cố nội bộ thật vững chắc, mặt khác, tiếp tục phát triển Đảng đúng hướng. Đại hội đã bầu ra ban chấp hành mới gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn tiếp tục được bầu làm Bí thư. Cuối năm 1950, tổng số Đảng viên tăng lên 39.869 người, gấp 10 lần so với đầu năm 1949 và tăng 60% so với đầu năm 1950 Lực lượng Đảng viên có tăng lên, tuy nhiên việc kết nạp đảng viên đôi khi lại ồ ạt, không đảm bảo chất lượng. Do vậy, Tỉnh ủy hết sức chú trọng công tác phát triển Đảng đi đôi với việc giáo dục chính trị, đẩy mạnh cuộc vận động phê bình và tự phê bình, chỉnh đốn Đảng. Nhờ vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ ngày càng được khẳng định, gây niềm tin trong nhân dân. Về chính quyền, đầu năm 1948 theo chủ trương của trên, Tỉnh ủy đã tiến hành sáp nhập hai ủy ban (Ủy ban Hành chính và Ủy ban Kháng chiến) thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính do ông Đinh Thành Chương, một nhân sĩ được cử làm chủ tịch. Việc hình thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo các mặt kháng chiến một cách nhạy bén, kịp thời, gọn nhẹ, tránh trùng lặp trong công tác. Các ngành, các bộ phận chuyên môn giúp việc cho ủy ban kháng chiến hành chính cũng được thành lập. Toàn tỉnh có 32 ty và các đơn vị trực thuộc. Chính quyền cấp huyện cũng được củng cố. Về cấp xã, đầu năm 1948, tiến hành hiệp xã lần thứ hai, từ 212 xã nhập thành 84 xã. Ở miền núi do đất rộng, dân thưa, đồng thời để lập thành phòng tuyến chống giặc ở phía tây tỉnh, giáp giới với Gia Lai, từ năm 1947, Tỉnh ủy đã tách một số xã để lập thành các huyện miền núi: Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão, Kim Sơn. Đầu năm 1949, Tỉnh ủy giải thể huyện Kim Sơn, đưa một số xã phía bắc huyện nhập vào huyện An Lão, một số xã phía nam huyện nhập vào Vĩnh Thạnh. Miền núi tỉnh chỉ còn ba huyện: Huyện An Lão có 11 xã, 4.059 dân. Huyện Vĩnh Thạnh có 11 xã, 4.616 dân. Huyện Vân Canh có 13 xã, 4.056 dân. Như thế, chính quyền các cấp được củng cố, nâng cao trách nhiệm cấp xã, giảm bớt ngân sách hành chính, giảm đầu mối cho huyện. Trong quá trình kiện toàn bộ máy chính quyền, Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà nước, các ngành và các đoàn thể. Tỉnh chú trọng mở các lớp huấn luyện cho cán bộ huyện, xã nhằm bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ và năng lực công tác để đáp ứng nhiệm vụ trước mắt. Cùng với chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể như: Thanh niên cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc... tiếp tục phát triển và củng cố. Các hội viên tích cực.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> hoạt động, cải tiến sinh hoạt, lập quỹ tự túc, động viên hội viên, đoàn viên gương mẫu, tham gia kháng chiến. Đứng trước nhiệm vụ mới của Đảng bộ, Mặt trận và các đoàn thể đã kịp thời chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình của địa phương vừa có chiến tranh vừa có hòa bình. Là một lực lượng nòng cốt trong các cuộc vận động, tập hợp chị em tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã tập hợp các nữ trí thức, tiểu tư sản, công chức, tiểu thương, phụ nữ Hoa kiều, phụ nữ các tôn giáo đều tham gia kháng chiến. Liên hiệp Công đoàn tỉnh đã lập kế hoạch cung cấp sách báo bằng việc xuất bản tờ "Chung sức" nhằm cổ vũ tinh thần thi đua yêu nước trong đoàn viên công đoàn tỉnh, đặc biệt đã kịp thời đưa tin chiến thắng trên các mặt trận để củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Đến cuối năm 1948, Mặt trận có 236.000 thành viên, Thanh niên cứu quốc 29.700, Phụ nữ cứu quốc 100.000, Công đoàn 12.647. Trừ công đoàn, các đoàn thể khác đều có tiểu tổ, chi hội, phân hội ở tận thôn xóm, hoạt động ngày càng tiến bộ, làm chỗ dựa cho Đảng và chính quyền Bước vào năm 1949-1950, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể được củng cố và phát triển thêm một bước, mời thêm một số nhân sĩ, trí thức quan lại cũ tham gia. Tỉnh hội Phật giáo cứu quốc cũng được thành lập. Tỉnh Đảng bộ Đảng dân chủ ra đời với năm chi bộ và 80 đảng viên nhằm tập hợp số viên chức và trí thức trong tỉnh. Chính quyền cũng đã đồng ý cho mở các lớp tiểu học ở Quy Nhơn, Bồng Sơn... để dạy tiếng Hoa. Các đoàn thể công - nông - thanh - phụ trước tình hình, nhiệm vụ mới đều được đặt nhiệm vụ củng cố là chính, tập trung sức giải quyết những vấn đề trong nội bộ để phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình. Nông hội tiếp tục phát triển với số lượng: 40.350 hội viên. Công đoàn có số lượng đoàn viên 13.546 với 23 công đoàn cơ sở (gồm hỏa xa, giáo giới, các xưởng thủ công...) phụ nữ có hội viên đông nhất 114. 000. Cố gắng nổi bật của các đoàn thể trong năm 1949 là đã mở được 314 lớp huấn luyện, đào tạo bồi dưỡng 15.391 cán bộ huyện xã, phân hội, chi hội. Tuy nhiên ở các đoàn thể gặp phải những vướng mắc do trình độ những cán bộ giữa các hội đoàn khác nhau. Để giải quyết những khó khăn về tổ chức, Tỉnh ủy chủ trương tách các Đảng, đoàn với ban vận giới (Ban thanh vận, Ban phụ vận...) và quy định nhiệm vụ ranh giới công tác của các ban chấp hành các đoàn thể. Việc xây dựng và phát triển Mặt trận và các đoàn thể ngày càng mạnh mẽ, phát huy vai trò nòng cốt, hướng dẫn lôi cuốn quần chúng tham gia vào các phong trào, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. b. Trên mặt trận kinh tế. Theo tinh thần của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất (1.1947) là xây dựng Bình Định thành hậu phương vững mạnh của chiến trường Liên khu V. Vì vậy, việc phát triển kinh tế văn hóa, xã hội trở thành một mặt trận quan trọng. "Kháng chiến kiến quốc" của Bình Định là phát huy tinh thần yêu nước, tổ chức động viên quần chúng, huy động nhân tài vật lực để xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng kinh tế kháng chiến để đảm bảo tự cung tự cấp, phục vụ công cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh và chi viện cho tiền tuyến ngày một lớn. Về nông nghiệp, ngay sau khi giành được chính quyền, Bình Định đã giải quyết thành công nhiệm vụ cấp bách là "chống giặc đói". Nhưng nay, bước vào cuộc kháng chiến, Bình Định phải đề ra phương hướng, mục tiêu phấn đấu tương đối toàn diện, nhằm thực hiện vai trò hậu phương vững chắc, cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến. Bình Định là một trong những tỉnh có đồng bằng lớn ở Trung Trung Bộ diện tích đất canh tác hơn 75.000 ha, được phân bố dọc theo các lưu vực sông, nên thích hợp cho việc phát triển cây lúa và hoa màu. Với ưu thế đó, Bình Định có điều kiện để phát triển nông nghiệp vững chắc, đáp ứng nhu cầu cho cuộc kháng chiến..

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Đầu năm 1948, Hội nghị Dân Chính Đảng Liên khu V họp dưới sự chủ trì của đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, chủ trương: "Toàn dân tham gia công tác đề phòng nạn đói, mọi người sản xuất tự cung tự cấp, chủ yếu trồng lúa hoa màu". Như vậy, nông nghiệp được coi là ngành sản xuất chính nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho nông dân. Giữa năm 1948, toàn tỉnh Bình Định đã dấy lên phong trào thi đua sản xuất: "Ngành ngành thi đua Người người thi đua Nhà nhà thi đua". Với tinh thần đó, cùng với phong trào toàn dân đánh giặc, phong trào đẩy mạnh sản xuất tự túc, xây dựng vùng tự do phát triển mạnh. Sản xuất nông nghiệp bao gồm: Khai hoang phục hóa, thủy lợi thâm canh, tăng năng suất, không chỉ phát triển sâu rộng trong nông thôn mà đã thu hút công nhân, viên chức, bộ đội, thợ thủ công... tham gia sôi nổi. Với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng", phong trào khai hoang phục hóa mở rộng diện tích canh tác phát triển đều khắp kể cả đồng bằng lẫn miền núi. Cùng với phong trào khai hoang, Tỉnh ủy kịp thời chủ trương phát triển cây lúa và đẩy mạnh phát triển cây bông, hoa màu, nâng diện tích trồng bông toàn tỉnh từ 2.000 mẫu đến 4.000 mẫu vào năm 1949-1951, sản lượng bông thô từ 200 đến 410 tấn, sản lượng sợi hàng tháng từ 20-25 tấn (gấp 1,5 lần sợi của tỉnh Quảng Ngãi) đáp ứng nhu cầu vải mặc cho nhân dân. Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất hai vụ chính theo tập quán, Bình Định cũng là tỉnh đi đầu thử nghiệm có kết quả gieo cấy đại trà giống lúa tứ quý ngắn ngày. Cuối năm 1949, diện tích lúa tứ quý toàn tỉnh 6.000 mẫu, năm 1951 đưa lên 24.500 mẫu, năm 1953 đạt 34.000 mẫu. Hệ thống thủy nông rất quan trọng cho thâm canh tăng năng suất, đảm bảo nhu cầu lương thực cho tiền tuyến. Nhiều công trình thủy lợi ra đời. Hệ thống thủy nông sông Lại Giang, sông Phù Ly, sông Côn được củng cố và xây dựng. Nhân dân đã đóng góp hàng triệu ngày công để tu bổ, làm mới thêm nhiều mương máng, đắp bờ ngăn mặn, đặt máy bơm nước để tăng diện tích tưới. Hàng chục vạn lượt phụ nữ và nông nhân khắp các địa phương đã đắp 1.070 đập bồi, 128 đập chứa, 3.580 bờ xe, 323 xe nước đạp chân, 305 guồng nước, 780 gầu sòng, 6.270 ao giếng, đào vét hàng trăm km mương nội đồng, đã tăng lượng nước tưới cho 7.000 mẫu. Mương dẫn nước Phú Triêm và An Dưỡng (Hoài Nhơn) đảm bảo tưới tiêu cho 2.500 mẫu lúa vụ tháng 10. Nhờ chú trọng công tác thủy lợi, nên năm 1953 đủ nước tưới cho hơn 146.000 mẫu ruộng và ngăn mặn 5.500 mẫu khác, chiếm 46,8% tổng diện tích tưới tiêu toàn Liên khu V. Nhờ giải quyết tốt nguồn nước và các nguồn phân bón như phân chuồng, phân xanh... ruộng đất không những tăng vụ mà năng suất lúa cũng ngày càng cao. Riêng diện tích cây lúa từ 3.400 mẫu năm 1949 đã tăng lên 24.500 mẫu năm 1951. Sản lượng đạt từ 400 tấn năm 1949 tăng lên 15.000 tấn năm 1951, năng suất bình quân từ 4,2-5,2 tạ/mẫu/năm, góp phần ổn định đời sống vùng tự do. Bên cạnh cây lúa là lương thực chính, nhân dân trong tỉnh còn khai hoang và mở rộng diện tích trồng màu. Năm 1947, toàn tỉnh trồng được 18.000 mẫu mì gòn 6 tháng trên các vùng đất bãi, sỏi, đồi, rẫy và 6 triệu gốc trồng quanh vườn nhà, đình chùa. Học tập kinh nghiệm Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhiều huyện đã đắp ụ trồng khoai ngay trên bãi cát với kỹ thuật công phu, nên đã thu hoạch được hàng chục kg mỗi ụ. Trong sản xuất nông nghiệp, nhiều hình thức làm ăn tập thể ra đời như: Hội đoàn, Hội vần công, tổ sản xuất... Các tổ chức này đóng vai trò tổ chức, điều hòa nhân công, giống má, phân bón, giúp đỡ nhau sản xuất kịp thời vụ. Nông dân Bình Định đã tổ chức vần công cho nhau trên 88 vạn ngày công, gặt 2.700 mẫu lúa dưới mưa bom bão đạn của thực dân Pháp. Ở Quy Nhơn, địch khống chế mặt biển và ven bờ, ráo riết bắn phá ghe mành hòng phá hoại sản xuất. Trước tình hình đó, tổ chức Đảng Quy Nhơn đã lãnh đạo nhân dân tích cực đánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thị xã. Chính quyền đã hướng dẫn ngư dân tổ chức làm ghe có lù thoát nước, vận động các gia đình làm nghề biển thực hiện hai chân (chân biển, chân đồng)..

<span class='text_page_counter'>(18)</span> Để bám biển, ngư dân sáng tạo: khi địch tấn công thì cho ghe và ngư cụ chìm xuống nước, khi địch đi khỏi, lại vớt lên và tiếp tục đánh bắt. Đồng thời, chính quyền thị xã thành lập hợp tác xã thủy nghiệp Quy Nhơn, hướng dẫn, giúp bà con ngư dân chuyển đánh khơi thành đánh lộng. Cuối 1950, dân quân Quy Nhơn đã có hai giàn mành đánh cá. Nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn của Bình Định. Với phương châm "tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính", quân dân Bình Định vượt qua mọi khó khăn để phát triển sản xuất, bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến. Thành quả lớn nhất trong nông nghiệp là giải quyết cái ăn cái mặc cho nhân dân thông qua việc giải quyết chính sách ruộng đất, hướng dẫn toàn dân vào mục đích chung là kháng chiến kiến quốc. Đi đôi với sản xuất nông nghiệp, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng phát triển. Cuối năm 1947 đầu năm 1948, các ngành sản xuất vải, giấy, xà phòng bắt đầu hình thành. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng: "Mỗi người trồng một cây bông vải, mỗi nhà trồng 10 cây", phong trào trồng bông phát triển mạnh, nên nghề kéo sợi, dệt vải thủ công truyền thống được khôi phục và mở rộng. Từ năm 1951, nghề kéo sợi đã phát triển ở 23 xã với 35.000 lao động, năm 1953 thu hút 45.000 lao động đại bộ phận lao động là cụ già, em gái 1213 tuổi. Nghề dệt vải năm 1953 có 870 khung dệt khổ đôi, 4.500 khung dệt khổ chiếc, sản xuất gần 230 tấn vải. Thị trấn Bình Định, Đập Đá, Bồng Sơn, An Thường là những nơi dệt tập trung và làm những mặt hàng nổi tiếng như; đũi, lụa, nhiễu. Ở Bồng Sơn, An Thường sản xuất, lãnh, tút-xo. Ở Đập Đá có vải xita. Vải xita Bình Định trở thành thứ vải nổi tiếng ở khu V. Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa là nghề truyên thống đã phát triển đạt trình độ cao với các mặt hàng lụa trơn, lụa hoa, lụa đậu sáu, lụa đậu tư không kém lụa Hà Đông, nên được lưu truyền qua ca dao: "Ai về công tác Hoài Ân Mua lụa đậu sáu, mua hàng đậu tư. Tơ hồng đều chỉ đều canh Như ai xe dệt duyên anh với nàng". Xí nghiệp dệt quốc doanh Việt Thắng - xí nghiệp của quân đội có hàng trăm khung dệt với hàng nghìn công nhân sản xuất, đảm bảo cho lực lượng vũ trang Liên khu V 2m vải/ năm/ người. Có thể nói, ngành dệt Bình Định trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã bảo đảm đủ mặc cho nhân dân, cán bộ, bộ đội. Không những thế, Bình Định còn cung cấp vải xita cho khu V và Tây Nguyên. Nghề giấy, từ năm 1948-1949 đã xây dựng được 22 xưởng sản xuất giấy trong tổng số 34 xưởng của toàn liên khu, sản xuất 20 -30 tấn giấy/tháng, đủ cung cấp giấy viết, giấy đánh máy, giấy in sách báo, đáp ứng cho ngành giáo dục - văn hóa và cho mọi công tác khác. Ở Quy Nhơn, 1948, có một cơ sở sản xuất giấy, nhưng đến năm 1949 tăng lên 7 cơ sở, cung cấp 7-10 tấn giấy/năm. Nguồn vật liệu sản xuất giấy từ rơm rạ, bã mía, cây gòn, nứa gió. Ở Vân Canh đã sản xuất được giấy đánh máy, đặc biệt xưởng Việt Thắng đã sản xuất được các loại giấy đảm bảo tiêu chuẩn in bạc tín phiếu. Công nghiệp quốc phòng là ngành kinh tế không thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế thời chiến với nhiệm vụ cung cấp máy móc, vũ khí, trang bị cho kháng chiến. Bình định đã xây dựng xưởng sản xuất lựu đạn, mìn và sửa chữa súng. Xưởng Phạm Hồng Thái (Hoài Nhơn) được giao nhiệm vụ sản xuất lựu đạn kiểu Nhật, rất cơ động và tiện lợi cho bộ đội và du kích sử dụng. Từ năm 1951 cùng với việc chế tạo loại súng phóng bom, ngành quân giới Bình Định đã chế tạo thành công súng bắn pháo hiệu, pháo sáng, các loại mìn FT (mìn phá thành) có sức công phá lớn, đặc biệt, thí nghiệm thành công "xe công đồn". Ngành công nghiệp quốc phòng đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn cho cuộc kháng chiến, đánh dấu sự trưởng thành của ngành quân giới Bình Định trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc..

<span class='text_page_counter'>(19)</span> Cùng với ngành công nghiệp quốc phòng, ngành hóa chất và thuốc chữa bệnh cũng được phát triển, thử nghiệm thành công xút, clo, diêm sinh, dầu bôi trơn máy, chế thuốc "Filatov", thuốc sốt rét "Zexakin", vắc xin phòng dịch đậu mùa, thu góp hàng trăm tấn phân dơi, mỗi gia đình có chậu đựng nước tiểu phơi khô lấy diêm tiêu làm thuốc nổ. Bên cạnh các ngành nghề mũi nhọn nói trên, các ngành nghề thủ công truyền thống như rèn, mộc, nề tiếp tục duy trì. Lò thủy tinh ở thành Bình Định hàng năm sản xuất hàng vạn sản phẩm: ly nước, bóng đèn dầu hỏa, thẩu chai. Cơ sở sản xuất sành sứ ở Phù Mỹ hàng năm đã làm hàng chục ngàn chén bát, đĩa ăn. Bình Định có công ty Hưng Nam, cơ sở tài chính của Liên Việt tỉnh chuyên sản xuất đồ dùng gia đình bằng nhôm. Các nghề như nấu xà phòng, mộc, khảm xà cừ, ép dầu, đan bao, dệt chiếu, xe dây dừa... được phục hồi, phát triển nhanh. Nhờ vậy đã tự túc được khá nhiều hàng tiêu dùng cần thiết cho đời sống, tạo việc làm, tăng thu nhập, trao đổi hàng hóa với các tỉnh bạn. Điều đĩ góp phần to lớn vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc. Giao thông vận tải bước đầu được khôi phục để phục vụ kinh tế và quốc phòng. Cuối năm 1947, ngành giao thông vận tải tỉnh Bình Định đã bắt tay vào việc xây dựng, sửa chữa, củng cố lại các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển với tinh thần "chiến trường, chiến dịch ở đâu thì đường vận tải vươn ra đến đó". Về đường bộ, do mạng lưới đường sá lâu không được tu sửa, bảo dưỡng nên việc phục hồi rất khó khăn. Đoạn đường sắt từ Quảng Ngãi đến La Hai (Phú Yên) có 130 cầu thì có 40 cầu bị phá. Công nhân cầu đường Bình Định đã tu sửa đoạn đường Bồng Sơn - Bình Định cùng với đoạn đường Cầu Gành - La Hai (Phú Yên) cho cam-nhông-ray và xe goòng chạy, mở thêm các tuyến đường phụ để thay thế cho những đoạn Quốc lộ 1A bị địch đánh hỏng. Ngoài ra, công nhân giao thông đã phát huy tinh thần kháng chiến nhằm khắc phục khó khăn về thiết bị như sáng kiến của đồng chí Trần Tròn, bắc cầu phao bằng hình thức "chồng cũi lợn". Từ những năm 1947-1948, Bình Định mỗi năm huy động chừng 30 vạn dân công, 1.500 ngựa thồ tham gia vận chuyển gạo, thực phẩm, dược phẩm... tiếp tế cho các mặt trận. Đến tháng 7.1950, Tỉnh uỷ đã huy động 1.500 dân công, trên 600 ngựa thồ vận chuyển 200 tấn lương thực và hàng trăm tấn vũ khí phục vụ Trung đoàn 803, các đại đội độc lập.1 Phương tiện vận chuyển khác như ôtô, xe ngựa, thuyền bè cũng được phát triển. Năm 1947 ngành vận tải xe hơi đã có 300 người tham gia hoạt động (gồm chủ xe, thợ máy, tài xế và phụ xe). Tính đến 1952, phương tiện đường bộ gồm 621 xe cộ, 154 xe ngựa. Về đường sắt, do đầu máy và toa xe hỏa bị hư hại nặng, ngành đường sắt đã chế tạo cam nhông - ray, xe goòng để vận chuyển người và hàng hóa. Mỗi cam - nhông - ray có 40 chỗ ngồi kéo theo một rơ moóc chở 5 tấn hàng, chạy bằng động cơ ôtô và xe goòng đẩy bằng sức người. Hoạt động của ngành đường sắt của tỉnh Bình Định đã góp phần chuyên chở hàng hóa, đi lại của quân và dân trên tuyến đường Bắc Nam tỉnh. Năm 1952-1953, công nhân hỏa xa đã vận chuyển hơn 5.000 tấn lúa, muối, vũ khí, quân nhu cho bộ đội, góp phần chi viện sức người sức của cho tiền tuyến. Cùng với giao thông đường bộ và đường sắt, giao thông đường thủy là một trong những loại hình giao thông có thế mạnh ở Bình Định. Là địa phương có nhiều kênh rạch, có cảng biển, nên Bình Định đã tận dụng khai thác tiềm năng của vận tải đường thủy để phục vụ kháng chiến. Các đơn vị vận tải bằng thuyền buồm trên đầm Thị Nại, trên sông Lại Giang, sông Côn... khá tấp nập. Mặc dù, máy bay địch bắn phá ác liệt, nhưng hoạt động vận tải đường thủy vẫn đảm bảo thông suốt. Tính đến 1952, lực lượng vận chuyển đường thủy của Bình Định đã có 520 thuyền tải. Riêng trên sông Côn có 172 chiếc trọng tải từ 1-2 tấn, trên sông Lại Giang có 95 chiếc trọng tải cũng từ 1-2 tấn. Công đoàn vận tải Bình Định đã động viên công nhân lao động, các chủ phương tiện góp vốn, góp phương tiện và công sức nhằm thực hiện tốt vận tải phục vụ kháng chiến. Năm 1953, chỉ tính riêng Công đoàn thuyền tải nam Bình Định chuyên chở được 800 tấn vũ khí và.

<span class='text_page_counter'>(20)</span> lương thực ra chiến trường. Công đoàn thuyền tải Hoài Đức (Hoài Nhơn) với hơn 40 đội viên đã vận chuyển 58 tấn vũ khí, máy móc, lương thực phục vụ quân đội trên tuyến dài 25 km. Cùng với giao thông vận tải, thông tin liên lạc kháng chiến cũng được quan tâm phát triển. Thông tin liên lạc có nhiệm vụ đảm bảo vận chuyển công văn tài liệu an toàn và kịp thời phục vụ cho các cấp ủy Đảng và chính quyền, bộ đội. Đề phòng địch lấn chiếm vùng tự do Bình Định, thông tin liên lạc phải phối hợp chặt chẽ với công an để tìm địa điểm dự phòng, dời cơ quan khi bị địch lấn chiếm. Theo sự chỉ đạo của tỉnh ủy, các cơ quan cấp tỉnh có 1-3 địa điểm dự phòng, tổ chức trạm và đường dây liên lạc bí mật, đảm bảo giao thông liên lạc không bị gián đoạn. Ngành thương nghiệp kháng chiến Bình Định cũng được tổ chức và xây dựng. Tổ chức và hoạt động thương nghiệp quốc doanh, tập thể bắt đầu hình thành. Bên trên có Liên đoàn hợp tác xã tỉnh, mạng lưới bên dưới gồm 45 hợp tác xã làm nhiệm vụ tiếp tế, tiêu thụ, thu mua, và bán hàng, chủ yếu phục vụ cho nhân dân, bộ đội, cơ quan. Bồng Sơn, Đập Đá, là hai trung tâm thương nghiệp của tỉnh và khu V trong kháng chiến chống Pháp. Thương nghiệp kháng chiến có vai trò rất lớn trong việc phục vụ sản xuất, điều hòa thị trường, bình ổn giá cả, cung cấp những nhu cầu sinh hoạt cho cán bộ, bộ đội và nhân dân, nguyên vật liệu và trang thiết bị cho các xí nghiệp, công xưởng. Để giữ vững giá cả, làm chủ thị trường, năm 1947, được Chính phủ cho phép, Uỷ ban Kháng chiến Hành chính khu V cho phát hành bạc tín phiếu với mệnh giá 5,50, 500 và 1.000 đồng. Tỉnh đã tiến hành cuộc vận động nhân dân hưởng ứng việc phát hành và tiêu dùng tín phiếu. Tín phiếu trở thành đồng tiền chính trên thị trường của tỉnh và khu V. Hệ thống mậu dịch quốc doanh được phát triển. Gạo, muối, vải là những mặt hàng chiến lược đảm bảo nhu cầu nhân sinh, sau đó mở rộng kinh doanh các mặt hàng giấy viết, xà phòng, dầu hỏa... Ngành thương nghiệp còn tổ chức kinh doanh một số tư liệu sản xuất như: trâu bò, nông cụ và thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp. Việc giao lưu hàng hóa đã thúc đẩy sản xuất phát triển, khắc phục dần tình trạng biến động thị trường, ổn định giá cả giữa các vùng. Trong hoạt động thương nghiệp, chợ kháng chiến đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng buôn bán. Chợ mọc khắp nơi từ miền xuôi đến miền ngược. Chợ thường họp vào ban đêm, nhân dân các nơi qua lại trao đổi, buôn bán đông đúc như thị xã Quy Nhơn, Bồng Sơn, Đập Đá. Việc giao lưu buôn bán giữa các vùng làm cho giá cả ngày càng ổn định. Ngành thương nghiệp tỉnh đ tăng cường cung cấp cho miền núi các mặt hàng nhu yếu phẩm như: muối, vải, cá, đường. Về hoạt động xuất nhập khẩu, tỉnh đã dùng những mặt hàng nông lâm thủy hải sản như: tơ tằm, xà cừ, bào ngư, vây cá để trao đổi với Hồng Kông, Ma Cao (Trung Quốc) đổi lấy những mặt hàng mà Bình Định chưa có. Công ty Việt Thắng, Việt Toàn, Liên Minh được quyền thu mua hàng ngoại, thông qua cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), kiểm soát chặt chẽ xuất khẩu, tăng cường thu thuế, động viên nhân dân dùng hàng nội hóa, chống dùng hàng xa xỉ phẩm của địch. Nhờ xây dựng mạng lưới thương nghiệp quốc doanh, hợp tác xã mua bán, thương nghiệp kháng chiến phát triển khá phong phú, đa dạng. Nó đã đấu tranh chống bao vây kinh tế của Pháp, làm thất bại âm mưu bóp chết hậu phương kháng chiến. Để tạo thêm ngân sách đóng góp vào quỹ kháng chiến và trang trải các khoản chi tiêu của tỉnh, ngoài việc tăng cường thu thuế điền thổ, thuế phụ thu kháng chiến, trong năm 1947, tỉnh đã ban hành và thu thêm một số thuế mới như thuế quan 7.889.011 đồng, thuế môn bài 491.200 đồng, thuế sát sinh 919.184 đồng, thuế trước bạ 59.057 đồng, thuế điền thổ 4.745.863 đồng. Tổng cộng 15.044.1637 đồng và 2.144 tấn lúa phụ thu kháng chiến1. Thực hiện nhiệm vụ và phương hướng của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III (2.1950): "Tăng thu giảm chi, thống nhất quản lý tài chính nhà nước", Bình Định đã triển khai thu thuế nông nghiệp mới theo phương thức lũy tiến đối với những người ít ruộng, không thu thuế với đất mới khai hoang, khuyến khích nhân dân vay vốn tín dụng để sản xuất, đồng thời.

<span class='text_page_counter'>(21)</span> kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính, tiến hành giảm biên chế các ngành cho hợp lý để giảm nhẹ sự đóng góp của dân. Tín dụng đã phát huy vai trò đẩy nhanh sản xuất, bình ổn vật giá, cân đối thu chi ngân sách, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, cán bộ, bộ đội, và xây dựng hậu phương vững mạnh. Như vậy, từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, nhân dân Bình Định đã xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cung, tự cấp với cơ cấu kinh tế: công nông - thương nghiệp - ngân hàng tín dụng và giao thông vận tải hoàn chỉnh, góp phần chi viện cho tiền tuyến. Những kết quả kinh tế mà nhân dân Bình Định đạt được đã góp phần củng cố hậu phương kháng chiến, tạo điều kiện huy động nhân tài, vật lực ngày một lớn mạnh, xứng đáng là hậu phương trực tiếp của chiến trường Nam Trung Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. c. Trên mặt trận giáo dục. Trn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp với chính sách ngu dân của chúng đ để lại cho nhn dn ta nạn m chữ nghim trọng. Để giải quyết hậu quả ny, Hồ Chủ tịch đ ra lời ku gọi: "Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi bổn phận của mình, phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nhà nước trước hết là biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ..." Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và với truyền thống hiếu học của dân tộc, khi bước vào kháng chiến, nhân dân Bình Định đã phát huy thành quả của phong trào "chống giặc dốt" sau Cách mạng Tháng Tám để đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá và phát triển ngành giáo dục. Trong hoàn cảnh kháng chiến ngày càng khẩn trương, điều kiện vật chất cho nhu cầu giáo dục có nhiều khó khăn, nhưng nhờ Đảng và chính quyền quan tâm đến tổ chức giáo dục, nên hoạt động giáo dục vẫn tiếp tục phát triển. Ở bậc tiểu học, số trường lớp, học sinh tăng lên từng năm một, xã có thêm trường hoàn chỉnh đến lớp nhất. Đáng chú ý là ở các huyện miền núi như: An Lão, Vĩnh Thạnh... đã mở được một số trường lớp cho con em các dân tộc thiểu số, mỗi lớp có từ 10 đến 15 học sinh. Năm học 1946-1947, toàn tỉnh có 780 lớp học với 24. 642 học sinh bậc tiểu học, đến năm học 1948-1949 đã lên tới 371 trường với 826 lớp học và 29.588 học sinh, bình quân cứ 1.000 dân có 90 học sinh cấp một. Năm học 1952-1953, trường cấp một đã phát triển hoàn chỉnh với quy mô từ 7-10 lớp, xã nhỏ 2-3 lớp. Bậc trung học cũng được phát triển mạnh. Năm học 1946-1947, chỉ có 200 học sinh của trường Trung học Nguyễn Huệ; đến năm học 1948-1949, trường đã lên đến 46 lớp và 4.946 học sinh, bình quân cứ 10.000 dân có 40 học sinh cấp II, III, gấp 40 lần so với thời Pháp thuộc. Số học sinh nữ chiếm trên 40% tổng số học sinh phổ thông các cấp. Bậc trung học Bình Định, ngoài trường Trung học Nguyễn Huệ, có thêm 3 trường tư thục: Minh Viên( Mai Xuân Thưởng), Đặng Đức Tuấn, Quang Thuỳ (Thị Nại) và đến tháng 9.1948 tỉnh thành lập thêm trường Trung học bình dân. Tổng số học sinh năm trường này là 1.065 người. Phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ cũng được phát triển mạnh mẽ. Nhiều lớp bình dân với sự tham gia của hàng ngàn người, với đủ các độ tuổi. Nhân dân không quản ngại khó khăn để đến lớp cả ngày lẫn đêm. Bình Định đã có trường tiểu học bình dân tập trung. Ở huyện thì có trường bình dân học vụ định kỳ. Với sự nỗ lực của ngành giáo dục, quý I năm 1949 toàn tỉnh đã thanh toán được nạn mù chữ cho 100% số xã đồng bằng và 3 xã miền núi. Giáo dục miền núi có 4 trường cấp I với 300 học sinh, 47 lớp bình dân học vụ với 796 học viên nam người dân tộc miền núi. Đến năm 1951, tổng số học viên xóa nạn mù chữ 326.000 người (nữ gần 22.500 người, trong đó, gần 14.000 người biết đọc, biết viết chuyển qua học các lớp dự bị. Nhằm tiếp tục nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, ngành giáo dục mở thêm 1.494 lớp dự bị bổ túc cho 41.387 học viên. Để giải quyết nạn thiếu giáo viên, đặc biệt là ở bậc tiểu học, tỉnh đã mở thêm trường Sư phạm để đào tạo giáo viên tiểu học, và mở 5 lớp tu nghiệp cho.

<span class='text_page_counter'>(22)</span> giáo viên tiểu học. Bên cạnh hệ thống trường phổ thông quốc lập, hệ thống trường tư thục và bán công tiểu học cũng được chú ý phát triển. Bình Định có 16 trường tư thục tiểu học với 2.132 học sinh, hai trường bán công, bán tư tiểu học với 498 học sinh. Huyện miền núi An Lão, Vân Canh có trường tiểu học với 60 học sinh. Đi đôi với hệ thống tổ chức trường lớp, ngành giáo dục kháng chiến Bình Định rất chú ý đến chất lượng giảng dạy. Ngành đã thường xuyên tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên. Đa số giáo viên nhiệt tình với nghề nghiệp, toàn tâm toàn ý phục vụ kháng chiến. Do vậy, mặc dù có nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng thầy và trò Bình Định đã đưa nền giáo dục phát triển về cả mặt số lượng lẫn chất lượng. Năm học 1953-1954 cả trường tư lẫn trường công toàn tỉnh có gần 42.500 học sinh cấp I, 3.139 học sinh cấp II, 86 học sinh cấp III và 27.800 học sinh vỡ lòng, nâng tổng số học sinh phổ thông lên 73.436 em. Giáo dục để phục vụ kháng chiến, nhà trường luôn giáo dục các em hướng về kháng chiến. Các phong trào thi đua kháng chiến được phát động trong nhà trường như phong trào thi đua: "Con gà kháng chiến", "Buồng chuối kháng chiến", tổ chức lập quỹ ủng hộ kháng chiến ở thôn, xã, tham gia công tác xây dựng làng chiến đấu. Tại đại hội mừng công do sở Bình dân học vụ Liên khu V phối hợp với ty Bình dân học vụ tỉnh Bình Định tổ chức (8.1949), Bình Định có chiến sĩ diệt giặc dốt được Trung ương thừa nhận là chiến sĩ diệt dốt toàn quốc đó là anh Giã Như Lang quê ở Tam Quan vừa là giao thông viên, vừa là dân quân, vừa là giáo viên hai lớp bình dân học vụ, được Bộ Giáo dục tặng bức chân dung Bác Hồ với dòng chữ "Tặng chiến sĩ diệt dốt". Cho đến năm 1949, Bình Đinh là tỉnh duy nhất trong 4 tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú đã thanh toán nạn mù chữ trong 84 xã đồng bằng. Các trường ở Bình Định tiếp tục dạy đến ngày 15.4.1955 mới đóng cửa. Ngành giáo dục Bình Định đ góp phần nâng cao dân trí, cùng quân và dân phục vụ cho công cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Học sinh lớn nhỏ sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khi cách mạng cần, ở hậu phương cũng như tiền tuyến. d. Trên mặt trận văn hóa. Văn hóa kháng chiến cũng là một mặt trận quan trọng. Dưới ánh sáng đường lối văn hóa của Đảng và nhờ những nỗ lực lớn lao của cán bộ hoạt động văn hóa và đông đảo quần chúng nhân dân, nền văn hóa kháng chiến Bình Định đã vươn lên mạnh mẽ. Các ngành văn hóa đều thu được những thành tựu đáng tự hào. Phong trào văn hóa văn nghệ, xây dựng nếp sống mới phát triển sôi nổi cả ở đồng bằng cũng như miền núi. Ở miền núi đã xóa được các phong tục tập quán lạc hậu như: cúng Giàng (Trời), cúng ma, nghi ma lai, cầm đồ, thuốc độc... Các tệ nạn xã hội như đĩ điếm, rượu che, cờ bạc, trộm cắp đã được hạn chế nhiều. Hội Phụ nữ cứu quốc đã phát động phong trào: "Phụ nữ chức nghiệp" và phong trào năm tốt, đảm đương công việc hậu phương cho chồng con ra mặt trận. Hội mẹ chiến sĩ có phong trào may áo phục vụ bộ đội. Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển. Hầu hết các xã đều có đội văn nghệ nghiệp dư, nòng cốt là thanh thiếu niên. Các loại hình văn hóa dân gian truyền thống như hát bội, bài chòi, hát đối, điệu hò thể hiện nội dung mới, đề cao tinh thần yêu nước, căm thù giặc được khai thác. Vở tuồng "Hai Bà Trưng" của các gánh hát bội Cửu Vị (Bình Nghi), Bát Phàn (Bình Tường) đã được biểu diễn khắp nơi. Ngành thông tin tuyên truyền hoạt động tích cực. Khắp các thôn làng đều có chòi phát thanh, có đội tuyên truyền, loa các tin tức, thời sự, phổ biến chính sách của Đảng và Chính phủ đến tận người dân. Ở nơi công cộng có các áp phích, khẩu hiệu động viên mọi người tham gia các mặt công tác kháng chiến. Cơ quan thông tin đã xuất bản tờ báo "Dân chúng" với 300 số mỗi kỳ nhằm tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và xuất bản tơ "Tin tức" để đưa những tin tức chiến thắng. Hoạt động thể thao bóng đá, bóng chuyền được duy trì mạnh mẽ trong thanh niên..

<span class='text_page_counter'>(23)</span> Tháng 4.1948, đoàn văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập, đã tập hợp một số văn nghệ sĩ, tổ chức những đêm văn nghệ, động viên nhân dân thực hiện đời sống mới, đã xuất bản một số tập thơ, ca dao, bài chòi, truyện ngắn. Đông đảo văn nghệ sĩ đã hòa nhập vào cuộc sống sôi động của dân tộc, thực sự trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Hoạt động và thưởng thức văn nghệ trở thành nhu cầu trong đời sống kháng chiến của công - nông - binh. Các tệ nạn xã hội cũ được nhân dân truy quét, sáng kiến lập "xã ước" nhằm sửa đổi các phong tục lạc hậu, phát huy truyền thống "lá lành đùm lá rách", lập các hội tương tế, cứu tế, phát triển trong nhân dân. e. Trên mặt trận y tế. Ngành y tế Bình Định đã được tổ chức thành hệ thống từ tỉnh đến xã và xây dựng nề nếp chỉ đạo toàn diện (cả hành chính và chuyên môn) thông suốt trong toàn ngành. Chính quyền các cấp và ngành chuyên môn có nhiều cố gắng trong công tác phát triển y tế, thực hiện phương châm "phòng bệnh là chính" vận động nếp sống vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, ở sạch. Hoạt động vệ sinh phòng bệnh ở Bình Định khá sôi nổi. Toàn dân thực hiện phong trào "uống nước đun sôi, ăn đũa hai đầu", làm nhà tắm, hố xí, đưa chuồng trâu bò, heo xa nhà, làm tổng vệ sinh hàng tuần, thực hiện "sạch làng tốt ruộng", nên trong dân gian có câu: "Thi đua ăn đũa hai đầu. Lấy chồng bộ đội, làm dâu cụ Hồ". Phong trào "Tam tinh tứ diệt" được nhân dân hưởng rầm rộ. Thống kê năm 1952, hưởng ứng phong trào "Tam tinh tứ diệt" toàn tỉnh đã diệt 27 triệu con sâu các loại, 300 ngàn ổ sâu cân nặng 900 kg, diệt 14 triệu con chuột, số đuôi chuột lên đến 5 gia. Để giải quyết phần nào khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, nhân dân tích cực phát huy truyền thống chữa bệnh theo y học dân tộc cổ truyền. Nhiều đoàn cán bộ y tế về các xã vận động phong trào trồng và sử dụng thuốc Nam. Các loại cây cao vỏ dền, cao thường sơn, dây kí ninh được dùng làm thuốc viên Pentaquin để chống sốt rét. Củ gừng, lá ổi, đọt sim và cao thuốc phiện làm viên Ginpopaver chữa bệnh về đường ruột. Cây nghệ, dây cam thảo, mật ong dùng để chống ho, thuốc lợi tiểu bằng râu ngô, rễ tranh,... Ngoài việc dùng thuốc nam chữa bệnh, mỗi cán bộ y tế, nữ hộ sinh còn có một túi thuốc gồm một phần thuốc tân dược như thuốc đỏ, Stovarsol và các thứ thuốc dùng cầm máu. Bông băng rất cần thiết cho y tế, vì vậy, anh chị em đã mua vải màn dệt ở Đập Đá (An Nhơn) về cuộn lại và cắt, sáng kiến dùng bẹ cây chuối hột, rọc bỏ lớp vỏ xanh cứng giữ lại sợi dọc và lớp lụa mỏng bên trong phơi khô cuộn thành băng. Toàn tỉnh có 2 bệnh viện, các huyện và các xã đều có bệnh xá, trạm y tế, nhà hộ sinh, tổ cứu thương, các lương y tận tình với nghề nghiệp. Bình Định được công nhận là tỉnh có phong trào vệ sinh phòng bệnh khá nhất trong toàn Liên khu V. Để góp phần xây dựng "đời sống mới", ngành y tế Bình Định đã có các đội tuyên truyền xung phong tỉnh, huyện. Các đoàn thanh niên xã thôn đã tổ chức sáng tác thơ ca hò vè về vệ sinh phòng bệnh để tuyên truyền, cho ra tờ báo "Dân chúng"để giáo dục vệ sinh phòng bệnh. Trong phong trào đó, nhiều thôn, xã đã đạt kết quả tốt như xã Hoài Mỹ trong 10 ngày đã diệt 204.236 con ruồi, 180.576 con rệp, 27.956 con chuột, 55 kg 824 sâu bọ. Nói tóm lại, từ chỗ thiếu ăn, thiếu mặc, lại nằm trong thế bị địch bao vây, quân và dân Bình Định đã tự lực cánh sinh, xây dựng vùng tự do thành căn cứ địa và hậu phương vững mạnh, phục vụ cho các mặt trận trong liên khu. Ngành y tế đã thực sự đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần đẩy mạnh cuộc kháng chiến mau thắng lợi. 3. Nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ vùng tự do a. Xây dựng lực lượng vũ trang. Để bảo vệ vùng tự do, đối phó với các hành động tập kích bằng phi pháo, biệt kích, tình báo gián điệp và các cuộc hành quân càn quét của địch vào vùng tự do và căn cứ kháng chiến, công.

<span class='text_page_counter'>(24)</span> tác xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, bố phòng, sẵn sàng chiến đấu của quân và dân Bình Định không ngừng được củng cố và hoàn thiện. Đảng đã sớm xác định: "Muốn kháng chiến thành công phải có lực lượng vũ trang hùng mạnh". Thực hiện chủ trương đó, từ tháng 4.1948, trung đoàn 94 và 95 sáp nhập thành trung đoàn 120, đứng chân ở Bình Định do đồng chí Võ Văn Dật làm trung đoàn trưởng, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vng tự do Bình Định và hoạt động tác chiến, gây cơ sở, phát triển trên chiến trường Gia Lai. Các đơn vị dân quân du kích được kiện toàn, làm nhiệm vụ bố phòng, xây dựng các bãi chông, cạm bẫy, tuyến chiến đấu. Các đơn vị bộ đội tập trung của tỉnh, huyện, khẩn trương luyện quân, sẵn sàng đánh bại những cuộc càn quét của địch để bảo vệ vùng tự do. Tháng 9.1949, Tỉnh cho thành lập bộ đội địa phương huyện. Mỗi huyện đồng bằng có một đại đội, thị xã Quy Nhơn có hai trung đội, mỗi huyện miền núi có một trung đội. Ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội, thôn đội được kiện toàn và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng. Đây là đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên với quân số 1.316 người, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh; kể cả dân quân du kích và quân dân tự vệ, tổng số lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên 132.644 người (trong đó 2.200 người dân tộc miền núi). Bộ máy quân sự từ thôn đến tỉnh cũng được củng cố. Cơ quan tỉnh đội có 325 người, cơ quan huyện đội từ 30 đến 45 người, xã có ban chỉ huy 3 người. Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh có 73.818 dân quân nam, 2.089 dân quân nữ, 1.777 bạch đầu quân, 1.199 dân quân người dân tộc ở các huyện miền núi. Từ cuối năm 1949, phong trào thi đua xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích càng được đẩy mạnh. Hội phụ nữ Bình Định với khẩu hiệu: "Mỗi nữ thanh niên là một dân quân du kích" đã tham gia bố phòng canh gác. Năm 1948, nữ dân quân du kích có 6.800 chiến sĩ thì đến năm 1949 tăng gần gấp đôi - 13.000 chiến sĩ và năm 1950 đạt tổng số trên 22.200 chị, đóng một vai trò quan trọng trong lực lượng dân quân du kích địa phương. Có thể nói, các đoàn thể và nhân dân trong tỉnh đã tổ chức đỡ đầu cho bộ đội, dân quân du kích, nuôi dưỡng thương binh. Đây là dịp nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng lực lượng vũ trang. Tỉnh đã phát động phong trào "rèn cán chỉnh quân" nhằm nâng cao chất lượng chính trị và năng lực chỉ huy của cán bộ chiến sĩ. Công tác huấn luyện quân sự ngày càng được đẩy mạnh, đã chú ý các bài tập như võ dân tộc, ném lựu đạn, tập bắn súng trường, kỹ thuật tấn công và rút lui. Phục kích tác chiến trên mọi địa hình đều được thao tác kỹ lưỡng. Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đều có lập tiểu đội "nông binh" chuyên lo sản xuất lúa phục vụ bộ đội. Ngành công an tỉnh đã có vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh bại chiến tranh gián điệp của địch, bảo vệ hậu phương kháng chiến an toàn. Công tác xây dựng làng chiến đấu đã được thực hiện ở hầu hết các vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng, ven biển và đã thu hút toàn dân tham gia, lấy lực lượng vũ trang làm nịng cốt . Đầu năm 1950, lực lượng vũ trang tỉnh đã xây dựng 1 tiểu đoàn tập trung, 2 đại đội độc lập, mỗi huyện, thị một đại đội độc lập. Cuối năm 1950, đã xây dựng hoàn chỉnh tiểu đoàn 50 (gồm đại đội 101, 102, 103, 104), lực lượng dân quân du kích có 203.180 người (tăng 70% so với năm 1949), có 2.795 công nhân viên các cơ quan tham gia tự vệ. Tóm lại, các lực lượng vũ trang, bán vũ trang và công an nhân dân địa phương có 220.000 cán bộ, chiến sĩ, trong đó 1.700 cán bộ lực lượng tập trung, 1.800 bạch đầu quân, 2.000 nữ dân quân, 1.200 dân quân người dân tộc Chính nhờ làm tốt công tác xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, quân và dân Bình Định đã đánh bại các cuộc càn quét của địch, bảo vệ được vùng tự do. b. Phong trào bảo mật phòng gian..

<span class='text_page_counter'>(25)</span> Để phòng chống chiến tranh gián điệp, Bình Định đã phát động phong trào "Bảo mật phòng gian". Tỉnh thường xuyên giáo dục nhân dân về ý thức bảo mật phòng gian, bảo vệ bí mật nơi bộ đội đóng quân, nơi làm việc của các cơ quan, kho tàng, thực hiện khẩu hiệu ba không ( không nghe, không biết, không thấy), bộ đội, dân quân du kích, vũ khí không được lìa thân. Ban công an giáo dục mọi người đề cao cảnh giác, thấy người lạ mặt phải báo cáo, chống phát ngôn bừa bãi, phao tin đồn nhảm. Từ cuối năm 1948, mạng lưới phòng thủ ven biển được củng cố và xây dựng tương đối hoàn chỉnh, bố trí các lực lượng thường trực và hệ thống trạm quan sát. Tổ chức phòng tránh, bảo vệ tính mạng tài sản cho nhân dân. Nhờ công tác bảo mật phòng gian được làm tốt và sự giác ngộ của nhân dân, nên an ninh trật tự được giữ vững, trộm cắp ít xảy ra, các tệ nạn xã hội bị dập tắt. Đặc biệt, Vĩnh Thạnh đã phá được âm mưu của địch định mua chuộc một số thanh niên dân tộc để tổ chức vũ trang ở Kon-plo (Vĩnh Thạnh). Đồng bào dân tộc yên tâm sản xuất. c. Xây dựng hệ thống chiến đấu, sẵn sàng chống trả thực dân Pháp khi đổ bộ lên đất Bình Định. Bình Định là nơi địch tập trung đánh phá ác liệt nhất trong số tỉnh tự do Liên khu V. Ở An Khê, địch tổ chức bắn phá, càn quét xuống tây Vĩnh Thạnh, Bình Khê. Chúng đổ bộ nhiều lần lên Quy Nhơn, Đề Gi, Gò Bồi, Tân Phụng, An Dũ, Tam Quan để cướp phá, lập tề ở Cù Lao Xanh. Hầu hết các thị trấn, huyện lị đều bị ném bom. Để đối phó với âm mưu phá hoại của địch, Ủy ban kháng chiến hành chính đã lãnh đạo nhân dân xây dựng hệ thống chiến đấu, đào giao thông hào, xây dựng công sự ở những vị trí trọng yếu, đào hàng ngàn hầm núp máy bay, đạn pháo. Từng cá nhân từng gia đình đều có hầm trú ẩn. Trên các bãi đất rộng, sân vận động được cắm cọc tre nhọn đề phòng địch nhảy dù. Đồng thời bộ đội, dân quân du kích xây dựng nhiều trận địa chiến đấu ở những nơi hiểm yếu như: chợ Gồm (Cát Hanh), Phủ Cũ, Đèo Nhông (Phù Mỹ), Bình Đê (Hoài Châu), Núi Một - Núi Ngang (Bình Tường). Các vùng ven biển đều có phương án đánh địch đổ bộ đường biển bằng việc xây dựng các công sự chiến đấu. Ở Quy Nhơn, phương án tác chiến là xây dựng hệ thống công sự ven biển, ven đầm Thị Nại, trên các đường phố như đường Gia Long, các tường nhà được đục thông, tạo thành hành lang cơ động chiến đấu khi có địch đến Ở miền núi, nhân dân cùng với du kích các làng So-do, Kon-hai, Kon-dơn (Vĩnh Thạnh) bố phòng lập trận địa chông trên đường 19 để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ xuống vùng tự do. Hệ thống làng chiến đấu được xây dựng khắp nơi. Các huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh, An Lão, làng chiến đấu được bố trí bằng hệ thống chông thò, cạm bẫy. Ở các làng chiến đấu vùng đồng bằng được xây dựng liên hoàn thôn này nối liên với thôn khác rất hoàn thiện cho chiến đấu. Tuyến bố phòng ven biển dài hàng trăm km được nối liền với nhau. Trên các mỏm núi, các trạm gác có cột bồ báo hiệu để thông báo cho nhân dân biết khi có giặc đến. Cùng với biện pháp xây dựng hệ thống chiến đấu, Tỉnh ủy đã tiến hành giáo dục nhân dân đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. d. Những trận đánh tiêu biểu. Đến đầu năm 1947, từ An Khê, thực dân Pháp âm mưu đánh xuống Bình Định để chiếm lấy vùng tự do của ta. Đồng chí Vi Dân -Trung đoàn trưởng trung đoàn 95 quyết định đưa lực lượng lên phối hợp với quân và dân Gia Lai để đẩy mạnh hoạt động vào An Khê. Ngày 29.12.1946, quân ta bao vây, quấy rối các cứ điểm Gia Hội, Thượng An, đánh sập cầu, đắp ụ chướng ngại vật, cắm chông, cài mìn trên đường 19. Ngày 14.3.1947, quân ta tấn công cứ điểm Tú Thủy, nhưng bị bại lộ, đồng chí Vi Dân hy sinh. Ngày 2.7.1947, gần 2.000 quân Pháp có đại bác, xe bọc thép yểm trợ đã đánh chiếm Phú Phong. Chúng chia thành ba cánh quân: cánh thứ.

<span class='text_page_counter'>(26)</span> nhất, từ Cửu An đánh xuống Định Nhì, Định Quang. Bị trung đoàn 94, chặn đánh, quân địch bị thiệt hại nặng. Cánh thứ hai từ Cửu An qua Eo Gió, Đồng Hào, Tiên Thuận xuống đèo Bồ Bồ thì bị đại đội 10 thuộc trung đoàn 95 giật mìn, nổ súng tiêu diệt 150 tên. Cánh thứ ba, từ đèo An Khê theo đường 19 xuống vườn Xoài - Đồng Phó - Phú Phong thì bị sập hầm, hàng chục tên chết. Trong khi đó, hậu cứ An Khê bị đại đội Tây Sơn liên tục đánh phá. Sau 4 ngày hành quân không thực hiện được ý định chiếm đóng vùng tự do, quân số lại thương vong ngày càng lớn buộc chúng phải rút toàn bộ về An Khê. Chiến thắng Bồ Bồ đã góp phần đánh bại cuộc càn quét của hơn 1.500 quân Pháp vào vùng tự do của ta. Cuối năm 1947, quân Pháp ở An Khê quay về càn quét để ổn định vùng chiếm đóng. Bộ đội ta quyết tâm bẻ gãy các cuộc càn quét của địch. Đại đội 51A được giao nhiệm vụ tổ chức phục kích địch ở khu vực cầu Suối Vối - Rọc Dừa. Lực lượng đánh địch gồm 3 tổ: tổ hỏa lực có 2 trung liên 3 tiểu liên; tổ đánh bom gồm 3 đồng chí ( Mây, Vi, Tường) và tổ vận tải gồm chín người. Ngày 12.11.1947, quân Pháp từ An Khê mở rộng phạm vi càn quét. Khi quân địch lọt vào trận địa được bố trí tại Suối Vối thì quân ta nổ súng. Trận đánh càng trở nên khó khăn khi quân Pháp lợi dụng hỏa lực mạnh, ào ạt tấn công ta. Chính lúc đó, anh Ngô Mây, cổ quàng chiếc khăn đỏ bật dậy, ôm bom lao thẳng vào đội hình địch. Bom nổ, hơn 40 lính Âu Phi và 2 xe địch bị tan xác. Hành động anh hùng của anh Ngô Mây làm cho địch khiếp sợ và cản được bước tiến của chúng. Tiếng bom Ngô Mây mãi mãi đi vào lịch sử kháng chiến của quân và dân Bình Định, là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Anh xứng đáng với danh hiệu Anh hùng quân đội, người anh hùng đầu tiên của Bình Định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bước sang năm 1948, thực dân Pháp chủ trương "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" dùng người Việt trị người Việt", thực hiện âm mưu phá hoại hậu phương kháng chiến của ta, vơ vét của cải và bắt lính . Giữa năm 1948, chúng mở rộng cuộc tấn công càn quét với quy mô lớn vào khu vực Phù Ly - Phù Cát; thực dân Pháp đã huy động 10 chiếc máy bay Đacôta, thả hơn 200 tên lính nhảy dù xuống cánh đồng Khánh Lộc (Cát Hanh), An Lạc (Mỹ Hòa). Tại cửa biển Đề Gi, tàu chiến Pháp đổ thêm 2 đại đội, chia 2 cánh. Theo trục Đề Gi - Chợ Gồm và trục Đề Gi - An Lương để hợp điểm tại Phù Ly. Ngay từ những phút đầu tiên, khi quân địch đặt chân lên Bình Định đã bị các lực lượng vũ trang của ta đánh tơi tả. Kế hoạch càn quét của chúng bị thất bại. Ngày 1.8.1948, thực dân Pháp buộc phải tháo chạy về cửa biển Đề Gi để rút theo đường biển. Dân quân du kích huyện Phù Cát - Phù Mỹ và đại đội Tây Sơn của tỉnh đã phối hợp với tiểu đoàn 50 của quân khu đánh tan 800 quân Pháp đổ bộ bằng đường không, đường biển. Trong trận đánh Phù Ly, tiểu đội trưởng Thăng đã dùng lê đâm chết tên chỉ huy cuộc hành quân. Xã đội trưởng Trần Thanh Độ dùng đòn khiêng đánh chết tên quan ba rồi chạy thoát1. Chiến thắng Phù Ly đã bẻ gãy cuộc hành quân quy mô, gồm cả hải lục, không quân của địch vào hậu phương kháng chiến của ta. Năm 1949, thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng trên các chiến trường. Hòng phân tán lực lượng của quân ta trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên, quân Pháp liều lĩnh mở cuộc hành binh đánh vào Tam Quan, một vùng trù phú, dân đông lại là nơi có ga xe lửa và hệ thống kho tàng của ta. Khoảng 1 giờ sáng ngày 20.7.1949, quân Pháp cho tàu chiến bất ngờ đổ quân lên biển Tam Quan. Chúng chia làm 3 cánh lấy ga Tam Quan làm hợp điểm. Cánh quân thứ nhất, dùng tàu chiến đổ bộ một tiểu đoàn lên Bãi Ngang (Hoài Thanh) để đánh vào các thôn Lâm Trúc, Gò Tháp, Tăng Long, Đại Hóa, rồi vượt qua đường số 1 để lên chợ Cát... Cánh quân thứ 2 đổ bộ lên Vĩnh Tuy, chiếm đèo Bình Đê để đánh xuống Chương Hòa, Tân Định, Tân Thành. Cánh thứ 3 đổ lên Thiện Chánh, Trường Xuân..

<span class='text_page_counter'>(27)</span> Theo kế hoạch, nhân dân trong vùng được lệnh lánh cư. Lực lượng vũ trang tại chỗ của ta có đại đội 8 độc lập thuộc trung đoàn 120, một đại đội bộ đội địa phương huyện Hoài Nhơn và dân quân du kích xã Tam Quan, Hoài Hảo, Hoài Thanh. Quân ta đã linh hoạt phân tán thành các đơn vị nhỏ, phục kích chặn đánh địch khắp nơi. Tân Thành, Phước Lộc, đặc biệt là thị trấn Tam Quan là nơi diễn ra các trận chiến đấu ác liệt. Ở cánh quân chợ Cát, du kích Tam Quan, Hoài Hảo phối hợp với tiêu đoàn 50 diệt 180 tên… Ở khu vực Trường Xuân, Tân Thành, Chương Hòa... du kích và bộ đội địa phương Hoài Nhơn đã bám sát địch, chia cắt, đánh cho chung tơi tả. Ngày 21.7.1949, ta dùng hỏa lực gồm pháo 75 ly, cối 81 tập kích vào sở chỉ huy địch tại ga Tam Quan, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên. Bị đánh liên tục, quân Pháp đành mở đường rút quân xuống tàu biển để kết thúc cuộc hành quân. Khi Pháp rút quân, ta tiếp tục truy quét, đánh mạnh ở Gác Nhíp, Tân Thành, tiêu diệt hàng chục tên. Chiến thắng Tam Quan, ta đã tiêu diệt 200 tên địch, trong đó có một trung úy và 2 thiếu úy. Chiến thắng Bồ Bồ, Suối Vối - Rộc Dừa, Phù Ly, Chợ Cát - Tam Quan đã nói lên sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Bình Định. Bộ đội và nhân dân Bình Định sáng tạo ra nhiều cách đánh hay và có hiệu quả. Những chiến thắng nói trên đã bảo vệ được vùng tự do, hậu phương của chiến trường khu V, tạo niềm tin vào đường lối kháng chiến của Đảng, động viên mọi người thi đua giết giặc lập công. 4. Thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các chiến trường a. Chi viện cho chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Chiến thắng của quân và dân Bình Định đã góp phần giữ vững vùng tự do của khu V, phá tan âm mưu chia cắt chiến trường Trung Đông Dương mà địch cố thực hiện trong năm 1947 bằng chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh". Có thể nói, năm 1948 là năm có những triển vọng mới, nhưng cũng là năm chiến đấu gian khổ... Trước tình hình đó, Hội nghị Dân Chính Đảng miền Nam Trung Bộ do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ trì đã đề ra cho các tỉnh Liên khu V ba nhiệm vụ chính, trong đó có nhiệm vụ: Xây dựng, củng cố vùng tự do thành căn cứ địa kháng chiến vững chắc, thành hậu phương trực tiếp của chiến trường Liên khu V và của Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Để thực hiện nhiệm vụ chi viện cho chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, Tỉnh ủy Bình Định đã chủ trương phát động thanh niên tòng quân, xây dựng lực lượng vũ trang. Hàng ngàn thanh niên đã tình nguyện gia nhập các đơn vị của quân khu. Trong một thời gian ngắn, đã có 12.893 thanh niên ghi tên tòng quân, tuyển được 932 người1. Tỉnh cũng đã huy động hàng ngàn người tải gạo, vũ khí phục vụ chiến trường Bắc Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Trong 1949, Bình Định đã đưa 1.481 bộ đội địa phương và du kích tham dự ở mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng và An Khê để rèn luyện chiến đấu. Nhân dân Bình Định đã hưởng ứng tích cực chủ trương: "Lập quỹ kháng chiến" và xung phong đi dân công phục vụ chiến trường nhằm chi viện cho các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trong 2 chiến dịch, Bắc Tây Nguyên (6.1949) và chiến dịch Nam Khánh Hòa (11.1949), Bình Định huy động hàng ngàn lượt dân công phục vụ cho chiến trường từ 15 ngày đến 1 tháng, chuyển tải gạo, súng đạn ra mặt trận. Nhà nào cũng có quỹ nuôi quân, nuôi thương binh. Có gia đình nhận nuôi cả một trung đội luyện tập quân sự từ một tuần đến một tháng. Với tinh thần "điều dưỡng nhân dân" của tỉnh, Hội phụ nữ đã đón nhận cán bộ dân chính Đảng của các tỉnh cực Nam, Tây Nguyên lần lượt về địa phương nuôi dưỡng, tận tình chăm sóc để các anh mau chóng phục hồi, sớm trở về công tác. Năm 1949, Bình Định gánh vác nghĩa vụ đỡ đầu cho một số tỉnh thuộc vùng bị tạm chiếm như tỉnh Ninh Thuận, Lâm Viên, Gia Lai, thành phố Nha Trang. Ở tỉnh và huyện, thành lập ban đỡ đầu vùng bị chiếm như tổ chức "Tuần lễ ủng hộ Gia Lai". Mặt trận và các đoàn thể hô hào nhân dân đóng góp tích cực. Kết quả, nhân dân Bình Định đã nhận giúp đỡ 6.000 đồng bào Khánh Hòa, Phú Yên tản cư, gửi lên giúp đồng bào Lâm Viên 100 bộ áo quần, Ninh Thuận 500.

<span class='text_page_counter'>(28)</span> bộ và 200 mền đắp, giúp bộ đội Gia Lai 11.790 mét vải xita, nhận nuôi 77 cán bộ, upload.123doc.net con em cán bộ các tỉnh hi sinh và thoát ly, tiếp tế cho bộ đội Quảng Nam 3.352 tấn gạo, điều động cán bộ chi viện cho Ninh Thuận và Gia Lai. Cùng với phong trào ủng hộ về vật chất cho chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, Tỉnh ủy Bình Định còn cử cán bộ, Đảng viên tăng cường cho các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Bình Định cũng còn là địa bàn tập kết, đứng chân, rèn luyện, củng cố... của các đơn vị quân đội, các cơ quan tỉnh bạn và quân khu như Trung đoàn 803 bộ đội chủ lực khu, cơ quan khu 15 Tây Nguyên... Đến năm 1950, nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường vẫn tiếp tục phát triển. Bình Định đã tiếp tế 1.895 tấn gạo và 42.500 mét vải cho Hạ Lào, Cực Nam, Tây Nguyên và Quảng Nam, nhận thêm 82 cán bộ đến học, 176 cán bộ đến chữa bệnh, 306 học sinh con cán bộ, điều 184 cán bộ và một trung đội dân quân chi viện cho Cực Nam, Tây Nguyên. Đặc biệt xã Cát Trinh (Phù Cát) có 58 cán bộ xã đi Cực Nam, huy động 110.000 người phục vụ cho chiến trường. Bình Định xứng đáng là hậu phương của chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. b. Thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Ở Hạ Lào, tháng 12.1945, quân Pháp nhảy dù xuống Pắc-Xế, lần lượt kiểm soát cao nguyên Bô-lô-ven. Nhằm đoàn kết chống kẻ thù chung, quân tình nguyện Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang và nhân dân Lào, Campuchia anh em sát cánh bên nhau để chiến đấu. Để giành lại địa bàn chiến lược trọng yếu của Hạ Lào, đầu năm 1948, tại Liên khu V đã diễn ra cuộc hội đàm giữa ông Thao Xổm - phái viên Chính phủ Lào kháng chiến Ít-xa-la và đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Hai bên đã nhất trí chủ trương: phối hợp với nhau để xây dựng một khu căn cứ địa ở cao nguyên Bô-lô-ven. Vì vậy, tháng 3.1948, Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị về phương châm và phương hướng hoạt động của các cấp chỉ huy và bộ đội tình nguyện Việt Nam trên mặt trận Hạ Lào. Đó là gây cơ sở chính trị, đưa cán bộ chính trị hoặc những ban xung phong bí mật đi sâu vào vùng địch tạm chiếm, sử dụng lực lượng tiểu đội, trung đội hoạt động vũ trang tuyên truyền, phát động chiến tranh du kích, thành lập khu căn cứ địa. Bình Định đã phái một đại đội và 20 cán bộ dân vận phối hợp với trung đội vũ trang tuyên truyền Lào hoạt động tại tỉnh A-tô-pơ và Sa-ra-van. Bước sang năm 1949, thực dân Pháp phải tăng cường ở chiến trường Bắc Bộ, nên lực lượng địch ở Hạ Lào bị phân tán. Cùng lúc đó, tỉnh đội Bình Định đưa sang thêm đại đội 200, đại đội 40 và 30, cán bộ dân vận để giúp bạn. Ngày 20.5.1949, Liên khu ủy Nguyễn Côn và ban cán sự đã nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị và tổ chức vận động quần chúng. Sự phối hợp giữ quân tình nguyện Bình Định với lực lượng vũ trang Lào anh em đã mở cuộc tấn công uy hiếp các hướng, buộc địch rút bỏ một loạt đồn bốt dọc sông Mê Công, lùi về bảo vệ thị xã A-tô-pơ và tuyến đường 16 nối A-tô-pơ vơi đường 23. Chiến thắng trên đã khai thông hành lang từ vùng tự do Nam Trung Bộ đến căn cứ Tây Nam A-tô-pơ. Phía đông bắc Campuchia, cuối năm 1949, những cán bộ và chiến sĩ quân tình nguyện Bình Định từ căn cứ bàn đạp A-tô-pơ bắt đầu gấp rút mở đường bắt liên lạc với lực lượng Ít-xa-rắc của Campuchia. Song song với đợt tiến quân lần thứ hai ở Hạ Lào, ta đã đưa một lực lượng do hai đồng chí cấp trung đoàn phụ trách, chuẩn bị chuyển sang Đông Bắc Campuchia qua hành lang Hạ Lào. Ở phía đông, một đoàn 40 cán bộ và chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam khác do đoàn phó Phan Phong dẫn đầu từ căn cứ bàn đạp Tây Nguyên theo đường 19 tiến vào đất bạn. Sau một thời gian gây cơ sở ở khu vực Siam Pang đông bắc tỉnh Stung treng, hai đơn vị này hợp nhất lại và chia thành ba bộ phận tỏa ra hoạt động ở ba khu vực: Siam Pang, Vôn Xay, Lâm Phát và phái một tổ công tác liên lạc với Trung ương Campuchia. Cùng với sự phối hợp chặt chẽ.

<span class='text_page_counter'>(29)</span> giữa lực lượng cách mạng bạn và ta, đến cuối năm 1950, mặt trận Khơ me Ít-xa-rắc đã xây dựng được 36 thôn ở Bô Keo, 15 xã ở Lâm Phát, dân ở Stung treng đã được quyền làm chủ. Để nhanh chóng giành thắng lợi ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, theo sự nhất trí giữa bạn và ta, tháng 12.1950, Tiểu đoàn 49 của Trung đoàn 803 được cử sang Hạ Lào và hai tiểu đoàn khác cũng được cử sang Đông Bắc Campuchia. Trong thời gian cuộc chiến xảy ra, có một đơn vị quân đội Lào về Cát Tài (Phù Cát) để nghỉ dưỡng và tập luyện. Từ năm 1947-1954, nhân dân thôn An Xuyên (Mỹ Chánh, Phù Mỹ) và Năng An (Ân Tín, Hoài Ân) đã nuôi dưỡng gia đình của lãnh tụ Pathét Lào là Hoàng thân Xu-pha-nuvông (cha, mẹ, vợ và 2 con). Nhiệm vụ phối hợp giúp đỡ cho chiến trường Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia của Liên khu V trong đó có quân đội và nhân dân Bình Định đạt kết quả toàn diện cả về quân sự và chính trị, vun đắp tình anh em trên bán đảo Đông Dương. Với tinh thần "giúp bạn là tự giúp mình" quân và dân Bình Định đã góp phần xứng đáng phối hợp với hai chiến trường cùng nhau giành thắng lợi trên địa bàn chiến lược quan trọng này. III. BÌNH ĐỊNH TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 1. Đánh bại cuộc hành quân Atlante của Pháp Sau thất bại ở chiến dịch biên giới, thực dân Pháp càng lún sâu vào thế suy sụp, phòng ngư, bị động. Để đối phó tình hình, tướng Đờ-lát-đơ-tat-xi-nhi được cử sang Đông Dương, làm tổng chỉ huy quân đội Pháp. Đờ-lat âm mưu thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", đẩy mạnh và thực hiện “bình định gấp rút và phản công quyết liệt". Ở Bình Định, từ 1951, thực dân Pháp ngày càng tăng cường đánh phá các thị trấn đông dân, cầu xe lửa, nhà ga như ở Chương Hoà, Bồng Sơn, Phù Ly, Nhà Đá, Phù Cát. Tại các vùng nông thôn rộng lớn như An Thái, Phú Mỹ, Phú Lạc, địch dùng bom na pan tàn phá nhà cửa, ruộng vườn. Ngoài ra chúng còn tung gián điệp vào Tam Bình, lập ổ vũ trang phản động (GOUM) ở Vĩnh Thạnh, cho 300 quân càn quét ở Bình Quang. Với những hành động trên, địch gây thiệt hại cho nhân dân trong tỉnh: 314 người chết và 15 người bị thương, 1.292 ngôi nhà bị phá huỷ, 450 ghe thuyền bị đốt, 300 con tru, bị, heo bị giết, 5 toa xe lửa và 100 thanh đường ray bị hỏng, 1 cầu xe hơi bị hỏng2. Tháng 4.1952, địch cho tàu chiến và ca nô đổ bộ lên Quy Nhơn, phá ghe thuyền, nhưng bị dân quân du kích và bộ đội địa phương chặn đánh, buộc chúng phải rút lui. Tháng 7.1952, địch đổ bộ xuống Bình Giang nhằm thăm dò lực lượng ta và cướp bóc tài sản của nhân dân. Nhưng với tinh thần cảnh giác cao, du kích và bộ đội chủ lực, trung đoàn 120 chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt nhiều tên địch, phá tan âm mưu đánh phá vùng tự do của ta. Bước vào năm 1953, cục diện trên chiến trường Đông Dương càng có lợi cho ta. Thực dân Pháp càng sa lầy vào cuộc chiến tranh, ngày càng bị động, lúng túng. Để cứu vãn tình thế, một mặt thực dân Pháp cầu cứu viện trợ tối đa của Mỹ, mặt khác cố tập trung lực lượng xoay chuyển tình thế. Tháng 5.1953, chính phủ Pháp cử tướng Nava sang Đông Dương thay Xalăng làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, thực hiện kế hoạch Nava. Theo kế hoạch này, ở Nam Trung Bộ, chúng tiến hành cuộc hành quân At-lăng (Atlante) chiếm vùng tự do. Để thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp tập trung một lực lượng cơ động lớn, tổ chức thành những binh đoàn cơ động mạnh gồm 40 tiểu đoàn, trong đó có binh đoàn cơ động số 10 từ Pháp sang và binh đoàn cơ động số 100 từ chiến trường Triều Tiên đến. Đồng thời, điều quân Pháp ở Bình Trị Thiên và Nam Bộ đến để thực hiện chiến lược đánh chiếm vùng tự do. Kế hoạch At-lăng chia làm ba bước: Bước1: Tập trung 22 tiểu đoàn để đánh chiếm Khánh Hoà, Phú Yên, Đắc Lắc..

<span class='text_page_counter'>(30)</span> Bước2: Đánh chiếm Quy Nhơn và tỉnh Bình Định bằng các cánh quân từ Phú Yên ra, từ An Khê xuống và từ biển đổ bộ lên. Bước3: Tập trung quân đánh chiếm Quảng Ngãi, hoàn thành mục tiêu đánh chiếm vùng tự do Nam Trung Bộ. Trước khi cuộc hành quân được tiến hành, cuối tháng 2.1954, địch sử dụng 3 toán quân gián điệp biệt kích hỗn hợp gồm 93 tên nhảy dù xuống Đá Trắng (Vĩnh An), Đồng Sim (Tây Phú), Bồ Bồ (Bình Tân) để thăm dò. Các toán biệt kích này đều bị du kích địa phương bám đánh, tiêu diệt và bắt gọn. Nắm vững được ý đồ của địch, Bộ Chính trị quyết định đưa quân chủ lực tiến công lên Tây Nguyên, giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương. Chấp hành chủ trương của Trung ương và Liên khu V, đầu tháng 1.1954, Tỉnh uỷ Bình Định chỉ thị cho các huyện phải huy động mọi nỗ lực cao nhất của dân, và quân địa phương, ra sức bố phòng, chiến đấu giữ vững vùng tự do, đồng thời chi viện đắc lực cho chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Lực lượng dân quân du kích xã thôn và bộ đội địa phương huyện được trang bị thêm vũ khí, bổ sung thêm quân số, vạch ra phương án tác chiến. Ngày 7.2.1954, chiến dịch Bắc Tây Nguyên giành thắng lợi lớn, giải phóng Kon Tum với 14.000 km 2 và 200.000 dân. Thừa thắng, cuối tháng 2.1954, ta đưa trung đoàn 803 (thiếu một tiểu đoàn) vào khu tam giác Pleiku - Biển Hồ, Cheo Reo làm cho địch hoang mang bị động, chuyển sang thế chống đỡ sự tấn công của ta. Nhằm cứu vãn sự thất bại ở Tây Nguyên, ngày 12.3.1954, thực dân Pháp cho 8 tiểu đoàn nòng cốt của binh đoàn số 10 đánh chiếm thị xã Quy Nhơn, làm bàn đạp cho các cuộc hành quân đánh chiếm một số nơi ở huyện Tuy Phước như: Lòng Sông, Trường Úc, Vân Hà, Phú Mỹ, Cầu Sông Ngang, Phú Tài... Trước đó ngày 11.3.1954, binh đoàn 41, 42 của địch từ Phú Yên chia làm hai cánh quân theo đường số 1 và số 6 tiến đánh ra Bình Định. Cả hai cánh đều bị du kích và bộ đội địa phương chặn đánh quyết liệt ngay từ khi chúng đặt chân lên địa phận Bình Định: giết và làm bị thương 530 tên, trong đó 300 tên bị sa hầm chông. Bị đánh liên tục, từ ngã ba Phú Tài, Pháp phải mất 12 ngày mới đến Diêu Trì. Số thương vong của địch rất lớn, gần 800 tên. 4 tiểu đoàn cơ động đổ bộ lên Bãi Xép (nam Quy Nhơn), bốn tiểu đoàn khác lên Phước Hải (bắc Quy Nhơn) cũng bị các chiến sĩ đại đội 215, 216 và du kích chặn đánh ở Gềnh Ráng (Khu 6) diệt hàng trăm tên. Ngày 20.3.1954, hai cánh quân Pháp ở Quy Nhơn và Cù Mông gặp nhau ở đoạn giữa Quy Nhơn và Diêu Trì. Ở khu vực Đông-Nam tỉnh, địch điều 4 trung đoàn, 230 xe quân sự, có 5 xe tăng, 4 tiểu đoàn công binh, 48 tàu chiến, 13 máy bay đánh chiếm Quy Nhơn, Lòng Sông, Cầu Đôi, Phú Mỹ, Phú Tài... Nhưng với thế chiến tranh nhân dân đã bày sẵn, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Ban chỉ huy tỉnh đội Bình Định, chỉ trong 3 ngày, bộ đội địa phương và du kích đã loại khỏi vòng chiến đấu 530 tên địch, trong đó có gần 300 tên chết vì sập hầm chông và mìn. Đặc biệt, đêm 3.4.1954, một bộ phận đặc công do đội trưởng Lục Đức Đèn chỉ huy và bí mật tập kích nhà hát Trung Hoa, diệt 200 sĩ quan và binh lính dịch đang trú quân ở đây. Du kích ở các xã Phước Hậu, Phước Long bao vây bắn tỉa địch ở Cầu Đôi, Chợ Dinh, ngã ba Diêu Trì giết hàng chục tên, luồn sâu vào thị xã Quy Nhơn diệt địch ở khu phố 1, khu phố 2. Ở phía Tây, quân Pháp dùng binh đoàn 11, 21, 100 và dù chiếm cầu Thượng An (đèo An Khê), đánh bom dọc theo đường 19, phối hợp với cánh quân ở Quy Nhơn để khai thông đường 19, nhưng không thành. Bị động và không còn khả năng tiếp tục thực hiện kế hoạch At-lăng, ngày 4. 4.1954, quân Pháp rút toàn bộ lực lượng ở Tuy Phước về cố thủ ở Quy Nhơn. Chúng rút đến đâu vòng vây du kích càng siết chặt đến đó. Tại Quy Nhơn, thực dân Pháp tự tổ chức móc nối với bọn phản động nội địa để đánh phá ta.Chúng đưa tên Việt gian Tạ Chương Phùng làm tỉnh trưởng bù nhìn, bắt 300 thanh niên ở Vân Hà, Quảng Vân, Phú Tài, huyện Tuy Phước đi lính, thực hiện âm mưu xáo trộn dân để dễ.

<span class='text_page_counter'>(31)</span> kiểm soát. Đồng thời, chúng cho máy bay đánh phá từ bắc Tuy Phước - An Nhơn, Hoài Nhơn, An Lão để chặn đường tiến công của ta. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, các lực lượng vũ trang Liên khu và tỉnh đã đánh trả quyết liệt cuộc hành quân, càn quét của địch. Chỉ hơn 3 tháng chiến đấu (từ 13.3 đến 18.6.1954), quân và dân Bình Định đã loại bỏ khỏi vòng chiến đấu 2.673 tên địch, trong đó có 1.400 tên bị giết, hơn 1.000 tên khác bị thương, 30 tên ra hàng, 51 tên bị bắt làm tù binh, thu 45 súng các loại, trong đó có 25 súng máy, đánh hỏng 6 xe quân sự (có 2 xe tăng bị mìn của du kích). Chiến dịch At-lăng nhằm thôn tính toàn bộ vùng tự do Liên khu V đã hoàn toàn bị thất bại. Việc đánh bại bước 2 của cuộc hành quân At-lăng nói lên tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân dân Bình Định, nhất là nhân dân Tuy Phước, Quy Nhơn. Khi địch đánh rộng ra Tuy Phước, các tổ sản xuất đã tranh thủ gặt hơn 2.700 mẫu ruộng lúa chín ở nam Tuy Phước, di chuyển 1.800 tấn lúa ra vùng an toàn. Về chiến đấu, tuy lực lượng của Liên khu chỉ một đại đội của tiểu đoàn 30 nhưng lực lượng vũ trang của tỉnh gồm tiểu đoàn 80, 3 đại đội địa phương và dân quân du kích, thực hiện với việc phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa ba lực lượng của cuộc chiến tranh nhân dân, nên đã phát huy tác dụng và hiệu quả tiêu diệt sinh lực địch. Các lực lượng đã đánh địch bằng những hình thức phục kích, tập kích, sử dụng triệt để toàn bộ các loại vũ khí thô sơ, mìn chông, đánh phía trước, phía sau và cả trong lòng địch, đánh đặc công... làm cho quân địch tuy đông gấp 10 lần, chiếm ưu thế tuyệt đối về hoả lực phi pháo và cơ động, nhưng vẫn bị thất bại. Kế hoạch Nava hoàn toàn bị phá sản, âm mưu phá hoại vùng tự do bị thất bại, chúng càng sa vào thế bị động, nhà cầm quyền Pháp hết hy vọng tìm ra thắng lợi quân sự ở Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng. 2. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến về mọi mặt, góp phần cùng với các chiến trường kết thúc chiến tranh Trên chiến trường Nam Trung Bộ, sau sự thất bại của chiến dịch At-lăng, thực dân Pháp dồn sức đẩy mạnh cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt hòng giành thế chủ động. Nhân dân Bình Định càng nhận thức rõ hậu phương đối với tiền tuyến ngày càng có ý nghĩa to lớn và do đó càng ra sức thi đua "Tất cả cho tiền chiến, tất cả cho chiến thắng". Bước vào Đông Xuân 1953-1954, Tỉnh ủy Bình Định động viên quân và dân ra sức đẩy mạnh hoạt động mọi mặt để góp phần vào thắng lợi. Tỉnh ủy đã thường xuyên kiểm tra đôn đốc công tác sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng theo hướng tăng thành phần trực tiếp chiến đấu và giảm thành phần gián tiếp để phù hợp với yêu cầu tác chiến. Năm 1953, lực lượng vũ trang đã tiến hành đợt chỉnh huấn chính trị vào tháng 4.1953 với tài liệu: "Quân đội nhân dân Việt Nam kháng chiến trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi" nhằm nâng cao lập trường chính trị, lập trường của giai cấp công nhân, tinh thần chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Sau đợt học tập về chính trị, lực lượng vũ trang lại bước vào học tập quân sự nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, nâng cao sức chiến đấu lên một bước. Với những biện pháp củng cố trên, nhất là qua chỉnh huấn chính trị, quân sự, chất lượng bộ đội tăng lên rõ rệt, đã quán triệt phương châm "du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong mọi điều kiện thuận lợi, tiêu diệt sinh lực địch đi đôi với bồi dưỡng lực lượng ta". Cuối năm 1953, tỉnh đội Bình Định chọn chiến sĩ trong các đơn vị, thành lập một phân đội đặc công, xây dựng thêm hai đại đội bổ sung cho khối chủ lực Liên khu, đào tạo cán bộ trung đội, tiểu đội để bổ sung cho các đơn vị của tỉnh. Nhờ vậy, lực lượng vũ trang tập trung được trưởng thành toàn diện, sức chiến đấu được nâng cao, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu về tác chiến trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954..

<span class='text_page_counter'>(32)</span> Công tác huy động dân công tiếp vận cho các chiến trường được xúc tiến một cách mạnh mẽ và thường xuyên. Lực lượng dân công được phiên chế thành tổ chức như lực lượng vũ trang từ xã lên huyện. Năm 1953, tỉnh đã huy động 104.000 dân công. Trong 6 tháng đầu năm 1954, Bình Định đã huy động 289.966 lượt dân công trong 7 đợt phục vụ chiến trường, đồng thời huy động 7 xe hơi, 150 ghe, 140 xe ngựa, 400 xe cộ, 100 xe đạp thồ, 139 ngựa thồ để chuyển 4.884 tấn muối, 7.314 tấn lúa gạo, 90 tấn chiến lợi phẩm cho chiến trường. Toàn tỉnh đã huy động 130.000 người phục vụ tiền tuyến, 290.000 người phục vụ chiến đấu bảo vệ hậu phương. Riêng lực lượng phụ nữ phục vụ chiến đấu trên 10.000 người. Không chỉ có nữ thanh niên, trung niên mà cả các mẹ, các em gái đều tình nguyện tham gia các đoàn dân công vận tải.Ở huyện Hoài Nhơn có trên 220.000 lượt người đi dân công tiếp vận trong 17 đợt, trong đó phụ nữ chiếm 30%. Việc đóng góp thóc, gạo và thực phẩm của Bình Định cho cuộc kháng chiến chiếm 60 % tổng số huy động lương thực toàn Liên khu. Hàng chục ngàn thanh niên khỏe mạnh của Bình Định đã bổ sung cho bộ đội chủ lực. Các xưởng quân giới đã cùng với hỏa xa, công chánh làm hàng chục cầu tạm, sửa chữa xe goòng để đảm bảo cho mạch máu giao thông vận chuyển vũ khí thuốc nổ ra chiến trường thông suốt. Riêng chiến dịch An Khê - Tây Nguyên có 32.000 lượt dân công phục vụ. Cùng với việc động viên sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, Tỉnh ủy đã tiến hành thực hiện chủ trương bồi dưỡng sức dân, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất của Đảng. Như lời của Hồ Chủ tịch: "Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật sự thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng cho nông dân". Tháng 4.1953, Liên khu ủy V quyết định phát động quần chúng nông dân đấu tranh đòi giảm tô triệt để. Chỉ trong hai vụ lúa tháng 3 và tháng 8.1953, địa chủ trả lại cho nông dân 4.500 tấn thóc và 6 triệu đồng. Cuộc đấu tranh thi hành chính sách giảm tô, giảm tức, chống bóc lột diễn ra quyết liệt, điển hình là cuộc đấu tranh với tên địa chủ Bùi Ngang ở Ân Tín (Hoài Ân). Từ Ân Tín (Hoài Ân), cuộc đấu tranh với địa chủ đã nhanh chóng lan ra các huyện Phù Cát, Tuy Phước và nhiều huyện khác (Hoài Ân có 396 cuộc, Tuy Phước có 378 cuộc, Phù Cát có 210 cuộc). Kết quả của chính sách giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất, địa chủ phải trả lại cho nông dân hàng ngàn tấn thóc, các khoản nợ lâu đời của nông dân đều bị xóa bỏ. Tính đến tháng 3.1954, toàn tỉnh Bình Định đã có 9.912 địa chủ giảm 96,9 tấn màu và 2.884 tấn lúa tô cho 16.712 tá điền. Trên 660 mẫu ruộng đất công bị địa chủ, cường hào chiếm hữu trái phép đều bị tịch thu chia cho nông dân. 119 mẫu ruộng đất của người bị án, 45,6 mẫu ruộng vắng chủ, 434 mẫu ruộng của Pháp nhưng vợ là người Việt Nam đứng tên đều bị tịch thu chia cho nông dân. Đợt cải cách ruộng đất năm 1953 đã đưa lại quyền lợi cho nông dân, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng. Nông dân phấn khởi, hăng hái tham gia kháng chiến. Tỉnh ủy cũng chỉ đạo công tác thuế nông nghiệp, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để đảm bảo nguồn thu chính cho ngân sách. Tuy nhiên, năm 1953, với mức thu 35.800 tấn/năm (vẫn chưa đủ định mức do Liên khu quy định là 45.000 tấn), nhưng mức thuế cao và cách thu có phần áp đặt, nên dẫn đến tình hình nhân dân sợ thuế, không muốn giảm tô, trả bớt ruộng đất được cấp cho nông hội, còn địa chủ không muốn thu tô, mà giao hẳn ruộng cho nông dân làm ăn chịu thuế. Thuế công thương nghiệp đạt khá. Từ thu 41,6 triệu đồng năm 1951 tăng lên 653 triệu đồng vào cuối tháng 11.1953. Mức thuế công thương nghiệp được định hợp lý, nên đã làm cho các tầng lớp công thương nghèo yên tâm buôn bán, sản xuất và tích cực tham gia thực hiện công tác thuế, góp phần vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Bước vào Đông Xuân 1953-1954, bên cạnh các hoạt động trên, các mặt khác cũng được tiếp tục phát triển..

<span class='text_page_counter'>(33)</span> Mạng lưới tuyên truyền đã bám sát cơ sở, với 1.714 tổ tuyên truyền làm nhiệm vụ vừa tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, vừa kết hợp với những hoạt động nghệ thuật, nên được quần chúng hoan nghênh. Hệ thống giáo dục được duy trì, và phát triển trường lớp thường xuyên, công tác quản lí ngành được cải tiến như mở lớp tu nghiệp cho thầy cô giáo ở từng huyện. Cứ đầu năm khai giảng hoặc cuối năm học lại có hội nghị liên hiệu trưởng để đánh giá công tác quản lý nhà trường gắn với công tác kháng chiến. Nhà trường đã tiến hành tự phê và phê bình để uốn nắn những lệch lạc trong giáo viên, nhằm thực hiện đúng đường lối giáo dục của Đảng trong kháng chiến. Phong trào vệ sinh yêu nước cũng phát triển sâu rộng trong nhân dân. Năm 1953, do thiên tai, nên bệnh tật xảy ra nhiều, có 29.469 người ốm đau. Ngành y tế đã tổ chức tiêm phòng dịch cho 50 xã với 314.000 người, đã tăng cường cán bộ y tế cho cơ sở. 79/84 xã có cán bộ y tế, 62/84 xã có nhà hộ sinh, đã vận động nhân dân trồng thuốc nam để chữa bệnh2. Việc kiện toàn bộ máy nhà nước cũng được chú ý. Một số ngành như: Công an, tòa án, thuế vụ, mậu dịch, kho thóc được kiện toàn tổ chức, đã cho thôi việc 386 cán bộ nhân viên, tuyển mới 308 người. Cấp huyện đã kiện toàn 26 ủy viên. Cấp xã cho thôi việc 582 thành viên Hội đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính, thay thế 249 người; đồng thời tỉnh cũng đã tiến hành sáp nhập cơ quan bình dân học vụ với giáo dục phổ thông, thông tin với tuyên huấn, nông dân với canh nông, thực hiện giảm biên chế đợt hai 1.601 người. Qua việc kiện toàn bộ máy nhà nước đã làm cho bộ máy gọn nhẹ hơn, chất lượng công tác được nâng cao. Mặt trận và các đoàn thể được củng cố. Tỉnh cũng đã mở hội nghị đại biểu các tôn giáo để giải thích chính sách tôn giáo của Đảng, thực hiện việc tự do tín ngưỡng, đồng thời chống lại bọn phản động lợi dụng tự do tôn giáo tín ngưỡng để phá hoại kháng chiến. Để tăng cường củng cố tổ chức Đảng, Tỉnh ủy liên tiếp mở nhiều lớp chỉnh huấn cho cán bộ và đảng viên, phương châm học tập là lấy" lí luận kết hợp với thực tiễn", "tự phê bình và phê bình". Ngoài ra, Tỉnh ủy Bình Định còn cử cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, huyện đi dự các lớp chỉnh huấn Đảng do Liên khu V mở. Cuộc chỉnh Đảng vào những năm cuối của cuộc kháng chiến là rất quan trọng. Nó đã nâng cao sức mạnh của Đảng, tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên vào kháng chiến nhất định thắng lợi. Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã thắng lợi rực rỡ. Kế hoạch Nava, trong đó có cuộc hành quân At-lăng của thực dân Pháp hoàn toàn bị thất bại. Quân và dân Bình Định đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do, chi viện đắc lực và kịp thời sức người, sức của cho tiền tuyến. Thắng lợi của quân và dân Bình Định đã góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ vào ngày 20.7.1954, lập lại hòa bình, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ anh dũng của nhân dân ta. Chín năm kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã trải qua ba thời kỳ đấu tranh cách mạng đầy cam go, nhưng vô cùng sôi nổi và mãnh liệt: - Mười sáu tháng (từ 8.1945 đến 12.1946) xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới, bảo vệ chính quyền cách mạng và chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. - Năm năm (1947-1952) xây dựng và bảo vệ vùng tự do, thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các chiến trường. - Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh (1953-1954) thực hiện chiến cuộc Đông Xuân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến về mọi mặt để giành thắng lợi hoàn toàn. Bình Định là một tỉnh có vị trí chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Ở đây có một hệ thống đường giao thông phong phú: đường chiến lược 19, đường sắt xuyên Việt và Quốc lộ 1, có thành phố cảng Quy Nhơn và sân bay. Những thế núi hiểm trở chẳng những có giá trị chiến thuật, chiến dịch mà cả về chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài..

<span class='text_page_counter'>(34)</span> Từ những yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", chiến trường Bình Định là địa bàn vừa thuận lợi cho chiến tranh du kích phát triển, vừa thuận lợi cho tác chiến tập trung của các binh đoàn chủ lực. Và cũng chính vì vị trí chiến lược, đặc điểm của địa bàn mà thực dân Pháp xem Bình Định là mục tiêu trọng điểm để tiến công đánh chiếm vùng tự do của ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên đất Bình Định là thắng lợi tổng hợp của nhiều yếu tố tạo thành, bắt nguồn từ đường lối chiến lược, phương châm, phương pháp cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Đảng, kết hợp sức mạnh của cả dân tộc với sức mạnh của thời đại trong cuộc chiến tranh nhân dân mang tính cách và bản sắc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Liên khu ủy khu V, chín năm kháng chiến đầy hi sinh, gian khổ, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã đạt được những kết quả đáng tự hào: Đó là đã đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững Bình Định là tỉnh tự do trong suốt thời gian kháng chiến, xây dựng, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội thành tỉnh có tiềm lực lớn mạnh của Liên khu V trong chiến tranh. Đảng bộ và nhân dân Bình Định cũng đã huy động một khối lượng khá lớn về nhân tài vật lực vừa cho công cuộc kháng chiến của tỉnh, vừa làm nhiệm vụ hậu phương đối với cả chiến trường Liên khu V; đồng thời Đảng bộ đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, Đảng viên kiên cường, xứng đáng với lòng tin của nhân dân. Những thành quả trên thể hiện Bình Định đã biết vượt qua biết bao nhiêu khó khăn gian khổ, vừa chiến đấu, vừa xây dựng để hoàn thành tốt nhiệm vụ như lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với đặc điểm là một tỉnh thuộc vùng tự do, Đảng bộ Bình Định đã biết tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, bảo đảm cuộc sống cho nhân dân để kháng chiến lâu dài, đồng thời biết động viên sức mạnh tổng hợp nhân tài vật lực cho tiền tuyến, làm tròn nhiệm vụ hậu phương của chiến trường Liên khu V và Tây Nguyên, chi viện cho Lào và Campuchia. Có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong quá trình kháng chiến được khẳng định một cách tuyệt đối trong việc giáo dục, đoàn kết, tổ chức, phát huy sức mạnh quần chúng về mọi mặt quân sự - chính trị - kinh tế. Nó đã được cụ thể hóa bằng những chủ trương, chính sách, việc làm cụ thể của tỉnh, sự sáng tạo trong cả quá trình kháng chiến. Các cấp ủy Đảng thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ vững mạnh cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức mà trước hết là xây dựng chi bộ cơ sở vững mạnh. Bài học quý giá được rút ra từ công tác xây dựng Đảng là bất kỳ ở thời kỳ nào và ở đâu, nếu Đảng biết bám sát dân, sống trong lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, bảo vệ, thì dù gian khổ mấy, cách mạng cũng giành được thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và giữ vững trọn vẹn vùng tự do của Đảng bộ và nhân dân Bình Định là một trang sử vẻ vang trong truyền thống yêu nước và cách mạng lâu dài của nhân dân Bình Định. CHƯƠNG XIII TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH THỜI KỲ 1945-1975 I. ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BÌNH ĐỊNH THỜI KỲ CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954). 1. Sự thay đổi các đơn vị hành chính và hình thành Ủy ban hành chính các cấp.

<span class='text_page_counter'>(35)</span> Trước năm 1945, tỉnh Bình Định có 3 phủ, 4 huyện, 27 tổng, 679 thôn làng . Năm 1943, Bình Định có diện tích 6.100km với dân số 780.330 người. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Quy Nhơn . Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật nhào ách thống trị của đế quốc, phong kiến, đem lại độc lập, tự do cho Nhân dân. Chính quyền của đế quốc phong kiến bị thủ tiêu, chính quyền cách mạng được thiết lập từ tỉnh đến huyện, từ các thôn xã đến buôn làng. Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời các cấp được hình thành. Những người tham gia vào chính quyền là những chiến sĩ cách mạng trung kiên, là những người hăng hái trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, là đại biểu của các dân tộc ít người, của tri thức,nhân sĩ , viên chức cũ yêu nước tiến bộ... Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh do đồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch. Sự hình thành hệ thống chính quyền cách mạng khắp toàn tỉnh là thắng lợi to lớn của phong trào cách mạng Bình Định. Và thật sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Song, bộ máy quản lý chính quyền đó đang còn là lâm thời. Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải củng cố nhà nước về mặt pháp lý và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Ngày 17-10-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số 51 về tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và tiếp theo là Sắc lệnh 63, ngày 22-11-1945 quy định tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính các cấp trong cả nước. Tỉnh Bình Định tiến hành bầu cử Quốc Hội ngày 23/12/1945 , bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vào tháng 3/1946 và Hội đồng nhân dân cấp xã tháng 6/1946. Để thiết lập nền hành chính phù hợp với chế độ mới và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền dân chủ nhân dân, theo Sắc lệnh 63 của Chính phủ, đầu năm 1946 Bình Định tiến hành bãi bỏ cấp phủ, cấp châu, tổng, hình thành hệ thống chính quyền 3 cấp: Tỉnh, huyện (thị xã), xã. Đồng thời để kiện toàn chính quyền cấp cơ sở, tỉnh chủ trương hợp xã lần thứ nhất, từ 679 làng thành 212 xã . Riêng miền núi có 165 làng thì nhập 138 làng thành 35 xã, còn 27 làng ở vùng cao hẻo lánh vẫn giữ nguyên. Đầu năm 1948 tiến hành hợp xã lần thứ hai, từ 212 xã nhập thành 84 xã thành lập 3 huyện miền núi là Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão (Huyện Vân Canh có 13 xã với 4056 dân. Huyện An Lão có 11 xã với 4059 dân. Huyện Vĩnh Thạnh có 11 xã với 4616 dân). Như vậy, đến năm 1948, tỉnh Bình Định có 10 huyện Mười huyện đó là: - Hoài Nhơn- An Nhơn- Phù Cát- Hoài Ân- Phù Mỹ- Tuy Phước- Bình KhêLúc đầu Trung ương quyết định ngày bầu cử Quốc Hội chung cả nước là ngày 23/12/1946. Nhưng một số nơi chuẩn bị chưa kịp nên phải hoãn đến ngày 06/1/1945. Bình Định và một số tỉnh chuẩn bị xong, nên được phép tổ chức bầu cử đúng ngày 23/12/1945. (4) Mười huyện đó là: (1). 2. (2). (3). (4). - Hoài Nhơn. - Tuy Phước. - An Nhơn. - Bình Khê. - Phù Cát. - Vân Canh. - Hoài Ân. - Vĩnh Thạnh. - Phù Mỹ. - An Lão.

<span class='text_page_counter'>(36)</span> Vân Canh- Vĩnh Thạnh- An Lão (7 huyện đồng bằng ven biển và 3 huyện miền núi), 01 thị xã và 119 xã. Đến năm 1952, theo quyết định số 1477 MN/TOC ngày 01-9-1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính miền. NamTrung bộ, thị xã Quy Nhơn chuyển thành xã đặc biệt trực thuộc tỉnh Bình Định. Cùng với sự thay đổi các đơn vị hành chính, bộ máy quản lý Nhà nước mới cũng được thiết lập. Sắc lệnh 63/SL ngày 22-11-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định rõ về tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính các cấp và sắc lệnh số 77/SL ngày 21-12-1945 quy định về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Hai sắc lệnh này nói rõ về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền ở địa phương. Theo sắc lệnh này, Hội đồng nhân dân được coi là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương do nhân dân bầu ra, quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời Hội đồng nhân dân bầu và bãi miễn các chức danh của Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân chỉ được tổ chức ở cấp tỉnh, thành phố, thị xã và cấp xã. Về cơ cấu Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh có từ 20 đến 30 ủy viên và 5 ủy viên dự khuyết. Hội đồng Nhân dân cấp xã có từ 15 đến 20 ủy viên chính thức, từ 5 đến 7 ủy viên dự khuyết. Nhiệm kỳ của tất cả Hội đồng nhân dân các cấp là 2 năm. Bên cạnh Hội đồng nhân dân là Ủy ban hành chính các cấp. Ủy ban hành chính là cơ quan hành pháp ở địa phương. Nó có nhiệm vụ quản lý hành chính ở địa phương, thi hành các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các cấp trên, thực hiện việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cải thiện đời sống cho nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự, củng cố chế độ mới... Sắc lệnh 63 quy định về cơ cấu nhiệm vụ của Ủy ban hành chính các cấp như sau: - Đối với cấp tỉnh, thành phố, Ủy ban hành chính gồm một Chủ tịch, một Phó chủ tịch, một thư ký, và hai ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Ủy ban hành chính cấp tỉnh có trách nhiệm lãnh đạo mọi công việc của Ủy ban hành chính thuộc quyền, chấp hành mọi mệnh lệnh, chính sách nghị quyết của cấp trên, hoạch định các công tác ở địa phương nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống cho dân ... Phó chủ tịch là người giúp việc cho Chủ tịch lãnh đạo mọi công tác của Ủy ban hành chính và thay mặt Chủ tịch giải quyết mọi việc khi Chủ tịch đi vắng. Ủy viên thư ký là người lãnh đạo Văn phòng Ủy ban hành chính. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch và Phó Chủ tịch, Ủy viên thư ký giải quyết mọi công việc hàng ngày của Ủy ban hành chính ... Để giúp việc cho Ủy ban hành chính cấp tỉnh, hệ thống các Ty, Sở được tổ chức quản lý theo ngành dọc cũng được thiết lập như: Ty Công an, Ty Tài chính, Ty Giáo dục, Ty Y tế, Ty Canh nông, Ty Giao thông Công chính, Ty Lao động và cứu tế xã hội ... - Đối với cấp huyện, Ủy ban hành chính gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, một thư ký và hai ủy viên dự khuyết. Nhiệm vụ của các chức danh cấp huyện cũng tương tự như cấp tỉnh. Ủy ban hành chính cấp huyện là cấp trung gian giữa tỉnh và xã, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính tỉnh và trực tiếp chỉ đạo sự hoạt động của Ủy ban hành chính các xã và thị trấn, chăm lo việc phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thực hiện các công trình thủy lợi, phát triển giao thông vận tải, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong huyện. - Đối với cấp xã, thị trấn, Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân xã bầu ra, gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, một thư ký, một ủy viên và hai ủy viên dự khuyết. Ủy ban hành chính xã là chính quyền cấp cơ sở, trực tiếp với dân. Ủy ban hành chính xã có nhiệm vụ thực hiện các nghị quyết, chính sách của cấp trên, quản lý hành chính ở địa phương mình, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế địa phương, giữ gìn an ninh trật tự, chăm lo đời sống của dân ... Ở Bình Định sau các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân xã, hệ thống Ủy ban hành chính các cấp được hình thành. Ủy ban hành chính tỉnh Bình Định năm 1946 do.

<span class='text_page_counter'>(37)</span> đồng chí Trần Quang Khanh làm chủ tịch. Các Ủy ban hành chính huyện và xã đều do các đồng chí cách mạng trung kiên đảm nhiệm. Sau Cách mạng tháng Tám, sự hình thành hệ thống Ủy ban hành chính các cấp ở địa phương và đi vào hoạt động theo định chế đã chứng tỏ chính quyền cách mạng ngày càng củng cố. Chính quyền cách mạng đã phát huy được sức mạnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sơ đồ hệ thống bộ máy nhà nước địa phương Bình Định năm 1946 như sau:. 2. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, sự chuyển đổi Ủy ban hành chính Ủy ban kháng chiến hành chính (1948-1954). Bất chấp thiện chí hòa bình của nhân dân ta thể hiện trong Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/09/1946, thực dân Pháp luôn tìm cách gây hấn, mở rộng chiến tranh hòng quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Những tháng cuối năm 1946, thực dân Pháp liên tiếp gây ra những cuộc xung đột vũ trang như cho quân chiếm đóng Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng, Hải Phòng ... và ngang ngược hơn là ngày 18/ 12/1946, chúng gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ Thủ đô. Không thể nào nhân nhượng được nữa, ngày 19/12/1946, Hồ Chủ Tịch thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi kháng chiến và phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Để phù hợp với tình hình mới, Đảng và Chính phủ đã kịp thời chuyển hướng tổ chức và xây dựng chính quyền từ Trung ương đến cơ sở. Ngày 20/12/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 01/SL về tổ chức bộ máy Nhà nước trong thời kỳ đặt biệt. Theo Sắc lệnh này, bên cạnh Ủy ban hành chính, thành lập Ủy ban kháng chiến các cấp. Đồng thời Sắc lệnh cũng quy định rõ thành phần, chức năng, nhiệm vụ của các Ủy ban này..

<span class='text_page_counter'>(38)</span> Chấp hành Sắc lệnh số 1 (ngày 20/12/1946) của Hồ Chủ tịch, đầu 1947, tỉnh Bình Định đã tiến hành thành lập Ủy ban kháng chiến và Ủy ban ủng hộ kháng chiến các cấp từ tỉnh cho đến huyện, xã. Ủy ban kháng chiến là cơ quan chính quyền Nhà nước chuyên lo về công việc kháng chiến và tổ chức cuộc kháng chiến ở địa phương. Ủy ban ủng hộ kháng chiến là tổ chức chính trị - xã hội với thành phần rộng rãi nằm trong Mặt trận liên Việt, làm nhiệm vụ động viên các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, ngoại kiều tham gia ủng hộ cuộc kháng chiến . Chiến tranh lan rộng, Ủy ban ủng hộ kháng chiến chuyển thành Ủy ban kháng chiến. Như vậy, năm 1947 ở Bình Định hình thành hai hệ thống Ủy ban: Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến các cấp . Trong tình hình khẩn trương của cuộc chiến tranh, sự hình thành Ủy ban kháng chiến các cấp bên cạnh hệ thống Ủy ban hành chính đã nói rõ tầm quan trọng của việc chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Song trong cùng một lúc tồn tại hai hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước là không tránh khỏi sự trùng lặp chồng chéo lên nhau trong công tác, đôi khi thiếu sự thống nhất giữa hai Ủy ban, nhất là đối với việc chỉ đạo các ngành, các cấp bên dưới. Nhận thấy sự bất cập trong hệ thống chính quyền có hai Ủy ban song song như trên, ngày 01/10/1947, chính phủ ra Sắc lệnh số 91/SL về hợp nhất Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến từ cấp tỉnh trở xuống thành Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính. Đến Sắc lệnh số 149/SL, ngày 29/03/1948 quy định bỏ chữ kiêm và Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính thành Ủy ban kháng chiến hành chính . Đầu năm 1948, Bình Định tiến hành hợp nhất hai hệ thống Ủy ban thành Ủy ban kháng chiến hành chính từ cấp tỉnh cho đến cấp xã. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh lúc này do ông Đinh Thành Chương, một nhân sĩ được cử làm Chủ tịch. Về cơ cấu của Ủy ban kháng chiến hành chính: - Đối với cấp tỉnh: có 7 ủy viên, trong đó gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, một ủy viên thư ký, một ủy viên quân sự và 3 ủy viên nhân dân. - Đối với cấp huyện: cũng tương tự như cấp tỉnh có 7 ủy viên. - Đối với cấp xã: Ủy ban kháng chiến hành chính có 7 ủy viên, gồm một chủ tịch, một phó chủ tịch, một ủy viên thư ký, một ủy viên quân sự và 3 ủy viên nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp từ tỉnh đến xã là thực hiện việc quản lý Nhà nước về mặt hành chính, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời lãnh đạo và chỉ đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ ... chống thực dân Pháp xâm lược. Có thể nói, lãnh đạo và chỉ đạo cuộc kháng chiến ở từng địa phương là nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp từ tỉnh đến xã. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Bình Định là tỉnh tự do hoàn toàn, là hậu phương chiến lược trực tiếp của chiến trường khu V, Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Vì vậy ở Bình Định đã tổ chức 3 lần bầu cử Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh và xã, chính quyền kháng chiến ở Bình Định ngày càng được xây dựng và củng cố, có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy sức mạnh của hậu phương phục vụ cho kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, các cấp chính quyền ở Bình Định đã thực hiện tốt các chủ trương kháng chiến của Chính phủ, ra sức phát triển kinh tế, văn hóa vùng tự do, xây dựng hậu phương vững mạnh, động viên kịp thời sức người, sức của cho tuyền tuyến ... (5). (6). (7).

<span class='text_page_counter'>(39)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×