Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

bai thu hoach mon duong loi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.96 KB, 13 trang )

BÀI THU HOẠCH TỰ HỌC
MƠN: ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VỀ CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Bài 8: Đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về quyền con người.
Vấn đề 1: Đồng chí phân biệt quyền con người và quyền công dân
I.

KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN:
- Nhân quyền, hay quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là những quyền tự
nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, tuy nhiên, định nghĩa của Văn
phịng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, theo đó:
“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác
dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sự bỏ mặc
(omission) làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con
người.”
Bên cạnh đó, nhân quyền cịn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm
sinh, vốn có của con người mà nếu khơng được hưởng thì chúng ta sẽ khơng thể sống như
một con người.
- Dân quyền, hay quyền công dân là quyền được làm cơng dân của một cộng đồng xã
hội, chính trị, hoặc quốc gia, là khả năng xử sự của mỗi công dân được Nhà nước quy định
trong Hiến pháp của mỗi quốc gia.
II.

SO SÁNH QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN:

1. Điểm giống nhau :
Quyền công dân và quyền con người là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưng
không đồng nhất. Nhân quyền và dân quyền đều là những quyền lợi mà mọi công dân đều
được hưởng và được bảo vệ( trừ những người khơng có quốc tịch). Trong đó quyền cơng
dân có nghĩa hẹp hơn so với quyền con người, về bản chất quyền công dân là những quyền


con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho cơng dân nước mình. Một số quyền
cơng dân cũng là quyền con người như:quyền được có nhà ở, quyền tự do kinh doanh buôn
bán, tự do ngôn luận, quyền được học tập, quyền được tham gia quản lí nhà nước và xã hôi,
quyền được bảo vệ về sức khỏe…
Ở Việt Nam quyền con người và quyền công dân ra đời và phát triển gắn liền với sự
ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lịch sử lập hiến nước nhà. Nó đc thể hiển 1
cách nhất quán trong cả 4 bản hiến pháp,ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân Việt Nam.Đất nước ngày càng phát triển,nhân quyền và dân quyền cũng ngày 1 được
mở rộng thể hiện sự tôn trọng của nhà nước với quyền lợi của nhân dân,nâng cao niềm tin
của nhân dân với đất nước.Sự quản lí của nhà nước không nhằm hạn chế các quyền và tự


do của con người mà mong muốn phát triển hoàn thiện hơn các quyền con người mà nhân
dân Việt nam đáng được hưởng đã ghi nhận trong các công ước quốc tế.
Một cá nhân( trừ những người không quốc tịch) về danh nghĩa đều là chủ thể của cả
hai loại nhân quyền và dân quyền nếu họ sinh sống trong quốc gia mà họ đăng kí quốc
tịch.Nếu đang sinh sống tại nước ngồi thì họ sẽ chỉ được hưởng những quyền con người
cơ bản như “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ngoài ra một số quyền
lợi đặc thù như bầu cử, ứng cử thì họ sẽ không được thừa nhận và bảo vệ.
2. Điểm khác nhau :
a. Về mặt chủ thể:
Chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại, bất kể
vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch...Chủ thể của quyền con người là mỗi con người mà ngay từ
khi họ được sinh ra thì tạo hố đã ban cho họ cái mà được gọi là “quyền sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách
bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi tồn cầu,
khơng phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể.
Cịn chủ thể của quyền cơng dân có thể là “các cá nhân đặt trong mối quan hệ với
nhà nước, dựa trên tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước
đó quy định tạo nên địa vị pháp lý của công dân”. Mặc dù chủ thể của quyền công dân được

hiểu là các cá nhân đặt trong quan hệ với nhà nước, được thể hiện trong tổng thể các quyền
và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân đó được nhà nước đó quy định, do vậy quyền cơng
dân chỉ mang tính chất quốc gia. Đối với những chủ thể không phải là công dân nước sở tại
hoặc không mang quốc tịch của một nhà nước nào thì họ vẫn có được những quyền hạn chế
của cơng dân hoặc phải thực thi những nghĩa vụ cũng hạn chế của công dân đối với xã hội,
nhà nước nơi họ sinh sống, cư trú.
b. Về cơ sở pháp lý:
- Quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, được ghi nhận trong
các công ước quốc tế về nhân quyền như Cơng ước quốc tề về xố bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc, Cơng ước quốc tế về xố bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công
ước quốc tế về quyền trẻ em,… Và trong Bộ luật quốc tế về quyền con người, Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền.
Theo điều 7, tun ngơn tồn thế giới về nhân quyền của liên hợp quốc 10/12/1948,
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được bảo vệ khơng có bất kì sự phân
biệt nào. Mọi người có quyền được bảo vệ hợp pháp để chống lại mọi sự phân biệt vi phạm
bản tuyên ngôn này và chống lại mọi lý do của một sự phân biệt như vậy.
Cịn quyền cơng dân gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định
và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, số lượng, chất lượng của
quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau. Điều 4, Chương I của Hiến


pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khẳng định vai trò "lãnh đạo Nhà nước
và xã hội" của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó khơng có tranh cử giữa các đảng phái.
Theo đó duy nhất có một Đảng Cộng sản hợp pháp hoạt động. Điều này đi ngược với đa số
các quốc gia khác trên thế giới, khi hầu hết các quốc gia đều có nhiều đảng phái để đảm
bảo quyền tự do lập hội.
Tuy nhiên, khơng có sự đối lập giữa quyền con người và quyền cơng dân trong quy
định của các nước. khó có thể phân định một cách thật sự rạch ròi quyền con người, quyền
công dân theo quan điểm quyền con người là quyền tự nhiên, quyền công dân là do pháp

luật quy định; hay quyền con người là do luật quốc tế quy định, quyền công dân là do pháp
luật quốc gia quy định.
c. Về mặt căn cứ phát sinh:
- Căn cứ phát sinh về quyền con người: có hai trường phái cơ bản đưa ra quan điểm trái
ngược nhau:
+ Thứ nhất, những người theo học thuyết về quyền tự nhiên thì cho rằng quyền con
người là những gì bẩm sinh vốn có mà mọi cá nhân khi sinh ra đều được hưởng.
+ Thứ hai, theo học thuyết về pháp lí, trong đó quyền con người khơng phải là bẩm
sinh vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xây dựng và pháp điển hóa thành
các quy định pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa.
Qua đây có thể thấy được, theo thuyết tự nhiên quyền con người có tính thống nhất
trong mọi hồn cảnh, mọi thời điểm thì quyền con người theo thuyết pháp lý lại mang tính
chất khác biệt tương đối về mặt văn hóa chính trị. Mặc dù vậy nhưng khơng thể phủ nhận
bất cứ học thuyết nào, bởi lẽ trong khi về hình thức hầu hết các văn kiện pháp luật đều thể
hiện quyền con người dưới hình thức pháp lí thì trong tun ngơn tồn thế giới về quyền
con năm1948 và một người văn kiện pháp luật ở một số quốc gia quyền con người được
khẳng định một cách rõ ràng là quyền tự nhiên vốn có khơng thể chuyển nhượng.
- Căn cứ phát sinh quyền công dân:
Khác với quyền con người, căn cứ phát sinh của quyền công dân là dựa trên cơ sở
quốc tịch.Tuy nhiên cách xác định quốc tịch của mỗi quốc gia có sự khác nhau. Có quốc
gia xác định quốc tịch theo huyết thống có quốc gia lại xác định theo nới sinh.Như vậy để
trở thành công dân của một nước cần phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật
nước đó quy định.. Quyền công dân xuất phát từ quyền con người – giá trị trị được thừa
nhận chung của nhân loại nhưng được nâng lên thành quyền của công dân và được quy
định trong hiến pháp của quốc gia được thừa nhận chung của nhân loại nhưng được nâng
lên thành quyền của công dân và được quy định trong hiến pháp của quốc gia.
d. Về tính chất:
- Quyền con người mang tính độc lập,tính phổ biến, phổ qt và có những giá trị chung
đối với toàn thể nhân loại: Điều 50 Hiến pháp 1992 nước ta ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và

xã hội được tôn trọng , thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và Luật.”


- Quyền cơng dân mang tính quốc gia: Để trở thành công dân của một nước, các cá nhân
bao giờ cũng phải có quốc tịch của nước đó. Tư cách công dân mang đến cho cá nhân một
địa vị pháp lý đặc biệt trong quan hệ với nước mà họ mang quốc tịch. Dựa trên những điều
kiện cụ thể của mình mà nhà nước quy định cho cơng dân những quyền và phải thực hiện
những nghĩa vụ nhất định. Nhưng bất luận thế nào thì các quyền và nghĩa vụ này cũng nói
lên một điều rằng, quyền cơng dân cũng như quyền con người đã được ghi nhận và bảo
đảm như thế nào, tiến bộ hay lạc hậu.
Nội hàm của khái niệm quyền con người rộng hơn khái niệm quyền cơng dân, hay nói
cách khác, quyền cơng dân khơng thể bao quát hết được quyền con người quyền con người
là nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con
người được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Cịn quyền cơng dân phản ánh, thể hiện là quyền con người, là những giá trị gắn liền với
một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo đảm thực hiện bằng pháp luật dựa trên
mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể. Dựa trên
những điều kiện cụ thể của mình mà nhà nước quy định cho công dân những quyền và phải
thực hiện những nghĩa vụ nhất định.
Quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới cũng thể hiện rõ trong số lượng đại biểu nữ
tham gia Quốc hội ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng. (Ví dụ, số đại biểu nữ
trong Quốc hội khoá I chiếm 2.5%; khoá II: 13.5%; khoá VIII: 18%; khoá IX: 18.84%;
khoá X: 26.22% và khoá XI là 27.31%)
e. Về cơ chế đảm bảo:
- Cơ chế đảm bảo quyền con người: Cơ chế bảo đảm là sự vận hành các thiết chế
quốc gia và quốc tế nhằm đảm bảo việc tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người
trên thực tế. Ngoài cơ chế chung như các ngành luật khác (theo quy định từ điều 39-42 hiến
chương LHQ) Luật quốc tế về quyền con người có một hệ thống các cơ chế bảo đảm việc
tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người khá rộng, từ cơ chế có tính tồn cầu, tính

khu vực, quốc gia. Bên cạnh cơ chế bảo đảm của Liên hợp quốc với hình thức thực hiện là
báo cáo quốc gia thành viên, tại các khu vực cũng đã ghi nhận vai trò của cơ chế bảo đảm
quyền con người, ví dụ tại châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi. Khơng chỉ duy trì cơ chế bảo đảm
bằng báo cáo quốc gia trong khuôn khổ Hội đồng nhân quyền UPR. Cơ quan Thanh tra
Quốc Hội với chức năng chủ yếu là giám sát sự công bằng và hợp pháp của bộ máy hành
chính cơng. Khơng chỉ giải quyết các vụ việc khi được yêu cầu, giống như các ủy ban
quyền con người quốc gia, ở nhiều nước, cơ quan này cịn có thẩm quyền chủ động tiến
hành điều tra những vi phạm quyền con người trên phạm vi rộng hoặc thu hút sự quan tâm
lớn của công chúng. Thêm vào đó, cơ quan này chủ yếu tập trung vào những vi phạm
quyền con người của các cơ quan và viên chức nhà nước, trong khi các ủy ban quyền con
người quốc gia quan tâm cả đến cả các vi phạm quyền con người của các cá nhân và chủ
thể tư nhân. Ngồi ra, cịn có một số cơ quan khác cũng có vai trị bảo vệ quyền con người
như: Ủy ban quốc gia về trẻ em, hội phụ nữ, Ủy ban dân tộc....


- Khác so với nhân quyền, cơ chế đảm bảo dân quyền hẹp hơn. Quyền cơng dân bó
hẹp trong mối quan hệ của một Nhà nước với cá nhân, được ghi nhận trong văn bản pháp lý
cao nhất. Mọi cá nhân của một nước mang quốc tịch của nước đó đồng thời là chủ thể của
quyền con người và quyền cơng dân. Việc thực hiện quyền cơng dân hay có thể nói là quy
định về quyền cơng dân tại các quốc gia khác nhau thì khác nhau bởi nó phụ thuộc vào chế
độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội
Vấn đề 2: Những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người
Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành,
phát triển các quan điểm của Đảng về quyền con người trong thời kỳ đổi mới, đã đề ra
những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người trong thời gian tới, đó là:
Các văn kiện trình Đại hội XIII xác định phải thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế
phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Do
đó, phải lồng ghép, tích hợp, tìm cách tiếp cận dựa trên quyền con người vào cách tiếp cận
chính trị – pháp lý trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, cho
phù hợp với thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm kịp thời ghi nhận, bảo vệ,

bảo đảm những quyền mới phát sinh, như quyền an ninh và an tồn thơng tin mạng, quyền
kinh doanh và thanh toán trên nền tảng internet, quyền giáo dục và sinh hoạt tơn giáo, văn
hóa trực tuyến, quyền riêng tư, nhất là trên mạng xã hội, quyền an toàn thân thể, danh dự,
nhân phẩm của trẻ em, quyền của nhóm LGBT…
Xác lập mối quan hệ giữa “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm quyền con người
và phát triển con người toàn diện. Mục tiêu phát triển con người toàn diện đương nhiên phải
xuất phát từ con người và “lấy con người làm trung tâm”. Nhưng nếu khơng có sự tham gia
chủ động, tích cực của người dân với tư cách là người là chủ – làm chủ thì khơng thể “dựa
vào dân” nhằm đạt được mục tiêu đó. Nói cách khác, việc “lấy con người làm trung tâm” là
tất yếu, nhưng nếu con người khơng được bảo đảm quyền của mình, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của cơng dân thì khơng thể “lấy dân làm gốc”, không thể phát huy được sức dân và xây
dựng được con người phát triển tồn diện.
Do đó, việc bảo đảm quyền con người là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa
khâu “lấy con người làm trung tâm” và phát triển con người toàn diện. Một giải pháp có
tính đột phá là đa dạng hóa hình thức, nội dung, phương pháp lồng ghép, tích hợp giáo dục
quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân để thực hiện phương châm lấy người
học làm trung tâm nhằm thúc đẩy giáo dục con người phát triển toàn diện từ nhà trường đến
ngồi xã hội.
Các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hồn
thiện thể chế thực hành dân chủ…, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân
dân”… Tuy nhiên, hiện nay trong phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ yếu mới tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp
quyền của Nhà nước mà hầu như chưa chú ý đúng mức đến việc xây dựng thể chế pháp


quyền của con người, của cơng dân với tính chất là các quan hệ nền tảng và có tính bình
đẳng với thể chế pháp quyền của Nhà nước. Do đó, để tiếp tục cụ thể hóa, hồn thiện thực
hành dân chủ, phải coi trọng việc bảo đảm trên thực tế thể chế pháp quyền có tính bình đẳng
của con người, của công dân và của Nhà nước trong thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa nói chung ở Việt Nam.

Tích cực, chủ động giải quyết những vấn đề quyền con người mới nảy sinh trong
thực tiễn. Chẳng hạn, vấn đề quyền con người được đề cập trực tiếp ngày càng nhiều hơn
trong các vụ khiếu kiện đông người, điểm nóng (thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân như hiện nay); vấn đề bảo vệ, bảo đảm quyền con người trong
hoạt động tư pháp, hay quyền con người của những nghi can, nghị phạm trong tạm giữ, tạm
giam (vì quyền của những người đã bị kết án cơ bản đã được thể chế hóa khá rõ và ổn định);
vấn đề xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia và sau khi đã gia nhập 7 công ước quốc tế cơ
bản về quyền con người, tiếp tục gia nhập 2 công ước cơ bản còn lại của Liên hiệp quốc về
quyền của những người lao động di trú, quyền của những người bị cưỡng bức đưa đi mất
tích
Tiếp tục xây dựng, hồn thiện thể chế pháp quyền trong hoạt động tư pháp nhằm
thực hiện công khai, minh bạch nghĩa vụ bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công
dân như các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Hoạt động tư pháp phải bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đấu tranh có hiệu
quả với mọi loại tội phạm và vi phạm”.
Tiếp tục chủ động, tích cực đối thoại, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Nhân dân, nhất là trong đội
ngũ cán bộ, đảng viên; mặt khác, phải tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy việc
thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người gắn với nâng cao hiệu quả
hội nhập quốc tế. Trong q trình đó, phải tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại
có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự
hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân
quyền; kiên quyết bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia – dân tộc và đấu tranh
ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can
thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Vấn đề 3: Qua 4 lần bùng phát đại dịch Covid 19 tại nước ta, đồng chí có nhận
xét, đánh giá gì về những chính sách của Việt Nam về thực hiện quyền con người.
Trải qua 4 lần bùng phát đại dịch Covid 19 ở nước ta, những chính sách của Việt
Nam về thực hiện quyền con người thể hiện rõ ở 4 nội dung sau:

1. Vai trò của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ quyền con người trong đại dịch
COVID 19


Bảo đảm quyền con người là một trong những việc đặt lên hàng đầu của Đảng và nhà
nước ta, và đã được cả thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, với COVID 19 thì cơng cuộc bảo vệ
quyền con người lại được thể hiện rõ nét hơn, Việt Nam được đánh giá là một trong những
quốc gia xử lý với đại dịch viêm đường hơ hấp cấp thành cơng nhất. Có thể thấy rằng, trong
bối cảnh đại dịch bùng phát một cách phức tạp ở các quốc gia trên thế giới, Đảng, Nhà nước
cùng tồn thể người dân đã có gắng hết mình về việc bảo đảm quyền con người, trong đó là
quyền được sống của chính người dân đang sinh sống và học tập tại Việt Nam (bao hàm cả
người nước ngồi), khơng chỉ vậy, những người Việt Nam đang làm việc và học tập tại nước
ngoài cũng được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm sâu sắc. Sự nỗ lực ở đây không chỉ là các
bộ, ban ngành, mà cịn là tồn thể nhân dân, với tinh thần đồn kết với sự lãnh đạo của
Đảng, việc nỗ lực của các cán bộ trong cơng tác phịng chống dịch, ngày đêm trăn trở để có
thể chữa khỏi cho những bệnh nhân hay khơng mà cịn cả một hệ thống ý thức của người
dân trong công tác này.
Bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương vào cuộc, đã thành lập Ban Chỉ đạo
phòng, chống dịch bệnh, Bộ Y tế là trái tim của cả nước. Các bộ ban ngành khác sẽ là hậu
phương vững chắc trong việc quản lý mọi hoạt động xâm nhập của dịch bệnh; cung cấp
lương thực thực phẩm, nhu yếu phẩm; luôn sẵn sàng đưa đồng bào về nước,... và luôn
không quên sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống trong mùa dịch. Bên cạnh đó, phải vận
động nhân dân thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, cũng như tuyên truyền dịch bệnh
phải nhanh chóng, kịp thời; khuyến cáo những người đi từ vùng dịch về phải thực hiện khai
báo y tế, cách ly, theo dõi sức khỏe, không tập trung đông người, đeo khẩu trang đúng quy
định. Đồng thời, cũng đã tạm dừng hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, xông hơi,
massage; thống nhất tạm dừng hoạt động văn hóa thể thao, vui chơi giải trí; tạm đóng cửa
các di tích lớn, các lễ hội ngày tết,... Trong đó, một biện pháp đảm bảo quyền con người đó
là việc tạm dùng cấp thị thực cho tất cả khách nước ngoài, hủy bỏ các chuyến bay từ nước
ngoài vào Việt Nam, đây là một trong những cách để tránh lây lan bởi lẽ sự bùng phát của

đại dịch tại các nước trong khu vực và quốc tế đang có nguy cơ gia tăng, khơng có dấu hiệu
dừng lại. Việt Nam sẵn sàng hy sinh lợi ích về kinh tế để phịng, chống dịch, bảo đảm sức
khỏe, tính mạng của người dân.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên tất
cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi
nhận, đánh giá cao. Quyền con người được phát huy là yếu tố quan trọng góp phần vào
thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam những năm qua.
Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta có những hành động hỗ trợ tích cực đối với bạn
bè quốc tế bằng việc cung cấp nhiều thiết bị, vật tư y tế. Với vai trò của Chủ tịch ASEAN
2020, thúc đẩy tình đồn kết, tương thân tương ái, Việt Nam đã tặng hai nước Lào,
Campuchia các trang thiết bị y tế gồm quần áo bảo hộ, khẩu trang y tế, khẩu trang kháng
khuẩn, hệ thống xét nghiệm cùng bộ xét nghiệm virus SARS-CoV-2, trị giá hơn 7 tỷ đồng
cho mỗi nước. Việt Nam tặng Indonesia 500 dụng cụ xét nghiệm; tặng Myanmar 50.000
USD để cùng chung sức phịng, chống COVID-19. Ngồi ra, trên tinh thần đối tác chiến


lược, bạn bè truyền thống, hỗ trợ lẫn nhau khi gặp khó khăn, Việt Nam đã dành một phần
nguồn lực: khẩu trang vải kháng khuẩn, quần áo bảo hộ, lương thực thực phẩm, đồng thời
cũng chia sẻ những kinh nghiệm, biện pháp đẩy lùi dịch bệnh đối với các quốc gia khác trên
thế giới. Những việc này không chỉ thể hiện được tinh thần Đảng và Nhà nước ta đối với
mối quan hệ ngoại giao mà còn thể hiện sự gắn bó và truyền thống tương trợ lẫn nhau, sự
đồn kết với các quốc gia khác trên thế giới.
Không phân biệt đối xử là một trong những nguyên tắc cốt lõi của luật nhân quyền
quốc tế. Việc kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị bệnh, chẳng những không phịng, chống
có hiệu quả dịch bệnh, mà cịn có thể làm trầm trọng thêm bệnh, nhất là nguy cơ có thể lây
lan ra cộng đồng, vì sự giấu bệnh của người mắc bệnh, do lo tiết lộ thông tin cá nhân của
người nhiễm bệnh sẽ bị cộng đồng xa lánh, kỳ thị và bị phân đối xử. Bị mắc COVID-19
không có nghĩa là người đó bị hạ thấp giá trị hơn bất kỳ ai khác. Với chủ trương nhân đạo,
Đảng và Nhà nước ln có những chính sách hỗ trợ quan tâm đến người nước ngồi ở Việt
Nam, dù có mắc bệnh hay khơng thì cũng được coi trọng như người dân sống tại Việt Nam

được bảo đảm sinh hoạt bình thường, an tồn và giám sát, chăm sóc y tế, hoặc có những
chuyến bay cho họ về Việt Nam và thực hiện cách ly theo quy định. Đối với khách du lịch
nước ngoài tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương khơng phân biệt đối xử đối
với khách du lịch và có biện pháp xử lý với trường hợp phân biệt đối xử, đồng thời thực
hiện nghiêm công tác khai báo y tế tại các cơ sở lưu trú và cơ sở kinh doanh dịch vụ có
người nước ngồi du lịch để bảo vệ sức khoẻ của người đó.
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước bảo đảm quyền về sức khoẻ cho người dân
trong đại dịch COVID 19
Ứng phó với đại dịch là vấn đề quan ngại gây căng thẳng cho người dân. Sự sợ hãi và
lo lắng về một căn bệnh mới và những diễn biến sẽ xảy ra như thế nào khi mắc căn bệnh
này. Không chỉ dừng lại ở việc hậu quả của căn bệnh gây ra, người dân còn chịu nhiều sức
ép từ việc cách lý giao tiếp xã hội, việc làm này có thể khiến mọi người cảm thấy bị cơ lập,
bị kỳ thị vì là bệnh nhân của Covid 19. Virus corona đã kéo theo nỗi sợ hãi, nhưng đó cũng
chính là tác nhân mạnh mẽ thúc đẩy sự thay đổi về bảo vệ và nâng cao sức khỏe của chính
bản thân của mỗi cá nhân, nhưng cũng là yếu tố giúp tăng thêm vai trò của Đảng và nhà
nước trong công cuộc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn này. Có thể thấy rằng, quyền
con người trong đại dịch bị ảnh hưởng khá nhiều, tuy nhiên, quyền con người mà bị ảnh
hưởng trực tiếp nhất là quyền về sức khỏe. Chính vì vậy, sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta
là làm sao có thể bảo đảm được quyền sống, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho
con người, đặc biệt là người Việt Nam sống trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Điều đó đang
được cộng đồng quốc tế cơng nhận; tồn thể nhân dân ủng hộ. Sự chăm lo sức khỏe của
người dân được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng, bởi
chỉ khi bảo đảm quyền về sức khỏe thì con người mới thực hiện được các quyền cơ bản
khác.
Việt Nam tham gia các Công ước, điều ước quốc tế về quyền con người, do đó Việt
Nam cần phải tuân thủ các quy định để bảo vệ quyền con người. Việc vi phạm quyền con


người trong sức khỏe cộng đồng, khơng chỉ góp phần làm trầm trọng thêm bệnh dịch mà đối
với nhiều người còn bị xâm phạm trực tiếp các quyền cơ bản của con người khác. Do đó,

địi hỏi phải có những chính sách của Đảng và Nhà nước để thực hiện một cách cơng bằng.
Vì vậy, việc áp dụng một số biện pháp ứng phó như cách ly xã hội, đóng cửa biên giới với
các nước, kiểm soát, cách ly bắt buộc với người nhập cảnh, đóng cửa trường học, hạn chế đi
lại, khai báo y tế, cách ly toàn xã hội, xử lý nguồn lây bệnh, ổ dịch, quản lý lây nhiễm chéo
tại cơ sở y tế, quản lý nguy cơ lây nhiễm ở các nhóm nguy cơ cao và trường hợp cần cách
ly, lên phác đồ điều trị do chưa có vắc xin phịng bệnh…là việc hết sức cần thiết, tuy có hạn
chế một số quyền con người như quyền tự do đi lại, quyền về việc làm, quyền tự do kinh
doanh,…Là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế khơng phải là thế mạnh, y tế chưa
hồn toàn hiện đại, nhưng với sự bảo vệ của Nhà nước đối với người dân có kế hoạch,
chuẩn bị, tỉ mỉ thì việc phịng chống dịch trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Kết hợp cùng với
đó là hành động của tồn dân trong việc phịng chống dịch. Với sự gồng mình hết sức của
những người đứng đầu đất nước, các sở ban ngành, thì việc truyền bá tư tưởng, cách nhận
thức cho người dân đã đạt được hiệu quả cao. Trong bối cảnh này, ở nhiều quốc gia trên thế
giới bệnh nhân phải tự chi trả mọi chi phí điều trị Covid-19 thì việc ban hành văn bản chữa
bệnh miễn phí được coi là một bước ngoặt trong q trình bảo đảm sức khỏe của người dân
mà khơng phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện được.
Khơng chỉ với bảo đảm quyền con người đối với người dân trong nước, những người
đang sinh sống và học tập tại nước ngoài cũng được nhà nước quan tâm. Do tình hình dịch
bệnh diễn ra phức tạp ở nước ngồi, nên nhiều cơng dân vì nhiều lý do khơng thể trở về. Vì
vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp tác động, chuẩn bị các chuyến bay đón
những cơng dân này về nước khơng chỉ bằng nhiệm vụ chính trị mà cịn là trái tim của con
người Việt Nam “Thương người như thể thương thân”. Việc làm này gặp rất nhiều thách
thức lớn vì nhiều yếu tố khách quan, cũng khơng vì đó mà bỏ qua làm lơ, Đảng và nước
luôn đáp ứng nhu cầu về nước của bà con và cũng là đáp ứng quyền con người của cơng dân
Việt Nam ở nước ngồi. Hay chỉ là những người dân gốc Việt trước đó khơng có cái nhìn tốt
đẹp về Đảng và Nhà nước ta thì nay họ đã nhìn nhận được thấu bên trong cái tình người của
dân tộc Việt Nam chúng ta. Thêm vào đó, lịng nhân nghĩa, sự tận tâm, hết lịng của các bác
sỹ đã lay động những bệnh nhân nước ngoài mắc Covid-19 được điều trị tại Việt Nam, với
ví dụ điển hình là bệnh nhân số 91, phi cơng người Scotland, người đã nhiều lần được cứu
khỏi tay tử thần hay là các bệnh nhân nước ngoài khác khi được phỏng vấn cũng bày tỏ lời

cảm ơn sâu sắc tới chính quyền ở Việt Nam. Qua đó, Việt Nam đã bảo đảm tính mạng,
quyền được sống khơng chỉ của cơng dân Việt Nam, mà giúp đỡ các quốc gia khác thực
hiện trách nhiệm tương tự với công dân của họ.
3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
người dân trong đại dịch COVID 19
Tiếp cận thông tin là việc, đọc, xem, nghe, ghi chép, chụp thông tin. Trên thế giới,
quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận ở các văn kiện quốc tế, khơng nằm ngồi quy luật
đó, Việt Nam đã pháp điển hóa quyền này thơng qua Luật tiếp cận thơng tin, bởi lẽ một đại


dịch tồn cầu, tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận thơng tin liên quan đến COVID 19 để
có thể có những giải pháp và nghĩa vụ trong việc phịng chống dịch bệnh. Trong đó, việc
cung cấp thơng tin được công khai rộng rãi từ các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản
hành chính có giá trị áp dụng chung, thông tin phổ biến hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế
độ, chính sách đối với những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước. Theo
Bộ Thông tin và Truyền thông, hơn 60% người dân Việt Nam sử dụng internet, thời gian sử
dụng internet lên tới 7 giờ/ngày. Hầu hết người sử dụng internet tại Việt Nam đều sử dụng
mạng xã hội, khi có tới 60 triệu người dùng facebook, 40 triệu người dùng zalo. Đến nay,
hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và
hơn 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng cả
tiếng Việt và 26 thứ tiếng dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản làng xa xơi. Theo
thống kê như vậy thì, việc tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam càng ngày được nâng
cao cả về số lượng cũng như chất lượng
Ngay từ đầu Việt Nam ln có chủ trương cơng khai tồn bộ tình hình dịch bệnh từ
số ca nhiễm, số ca tử vong, số ca nghi nhiễm được cập nhật liên tục hàng giờ đến toàn thể
người dân thông qua các phương tiện truyền thông (các văn bản giấy được phát ở các tổ dân
phố, các báo mạng chính thống, mạng xã hội, mạng viễn thơng thơng qua hình thức tin
nhắn), để có thể nắm được thơng tin, tránh tình trạng giấu dịch dẫn đến hệ quả hết sức
nghiêm trọng, Việt Nam cũng triển khai các kênh thông tin để tiếp nhận ý kiến và đưa ra các
biện pháp để phòng ngừa dịch bệnh cho người dân. Trong quá trình thực hiện chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan nhà nước có thể phải cung cấp một số
thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, q trình di chuyển của những
người bị lây nhiễm COVID 19 nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà khơng cần có
sự đồng ý của người này. Việc cung cấp thông tin rõ ràng, minh bạch cũng thể hiện phần
nào quyền con người đối với người dân trong nước. Bên cạnh đó, kể từ khi có thơng tin dịch
bệnh Covid - 19 xảy ra tại Trung Quốc, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư,
Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo, huy động sự vào cuộc của tồn hệ thống
chính trị, sự tham gia của tồn dân chẳng hạn như chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng
tại Công văn số 79-CV/TW ngày 30/01/2020; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị
số 05/CT-TTg ngày 28/01/2020 về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do
chủng mới của vi rút Corona gây ra; Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 31/01/2020 về việc tăng
cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp mới của dịch bệnh viêm
đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra; Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày
01/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc cơng bố dịch Covid - 19 trong đó có nêu tên
dịch bệnh, thời gian xảy ra dịch; địa điểm và quy mơ xảy ra dịch, ngun nhân, tính chất,
mức độ nguy hiểm của dịch, đường lây, các biện pháp phòng, chống dịch, các cơ sở khám,
chữa bệnh; Chỉ thị số 13/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch COVID-19
trong tình hình mới; Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện
đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid – 19, và rất nhiều các chỉ đạo của Bộ Y tế cũng như
của các cơ quan liên quan ở trung ương và từng địa phương. Các văn bản đều được phổ biến


rộng rãi đối với người dân, đặc biệt ở các trang báo chính thống của quốc gia cũng như các
trang thơng tin điện tử.
Ngồi ra, việc bảo đảm quyền tiếp cận thơng tin cịn được âm nhạc hóa để thể hiện
tinh thần “Chống dịch” qua các bài hát “Ghen Cô Vy” và nhiều các bài hát được sáng tác,
những câu chuyện về hy sinh bản thân để chống dịch đều được lan truyền đến khắp cả nước
thậm chí là bạn bè quốc tế, thể hiện được tinh thần đoàn kết của cả dân tộc.
Mặt khác quyền tiếp cận thông tin càng trở lên phổ biến hơn thì càng có nhiều
phương thức truyền bá thơng tin, chính vì vậy có nhiều thơng tin về dịch bệnh khơng chính

xác, xun tạc, ảnh hưởng xấu đến quyền tiếp cận thông tin của công dân gây ra hoang
mang cho dư luận. Chẳng hạn như: xuyên tạc về việc không đủ lương thực thực phẩm cung
cấp, số người chết do nhiễm covid, có phương pháp tự điều trị tại nhà,… Chính vì những
thơng tin thất thiệt này đã dẫn đến việc người dân hoang mang lo lắng và thiếu hiểu biết lại
đi cung cấp những thơng tin sai lệch cho nhiều người khác. Trước tình hình này, dưới sự chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước, đã có những biện pháp xử lý phù hợp nhằm góp phần giữ vững
ổn định an ninh chính trị, trật tự, an tồn xã hội. Cùng với đó, các cơ quan thực thi pháp luật
có những biện pháp tăng cường rà soát, xử lý nghiêm túc, cương quyết đối với những cá
nhân cố tình phát tán thơng tin sai sự thật trên mạng xã hội, gây hoang mang lo sợ cho
người dân.
Phần trên bài viết đã phân tích, để bảo vệ sức khỏe của con người, việc cơng bố bí
mật về sức khỏe cũng như quá trình di chuyển của người bệnh là đúng theo pháp luật, tuy
nhiên nó lại xâm phạm quyền giữ bí mật thơng tin sức khỏe của người bệnh gây ra nhiều hệ
lụy, trước hết là cho người bệnh và sau là cho sức khỏe và mơi trường sống của cộng đồng.
Tuy nhiên, trước tình hình rất cấp bách vấn đề sức khỏe của tất cả mọi người đặt lên hàng
đầu, việc giữ bí mật thơng tin sức khỏe có phần bị ảnh hưởng. Có thể thấy rằng, nếu việc lộ
thông tin một cách công khai thì có thể gây thiệt hại về kinh tế cho chính người mắc bệnh
(về q trình cơng tác, về quản lý đơn vị,…), hoặc tạo cho chính bản thân chính những
người đó một tâm lý hoang mang, lo sợ, thậm chí bị trầm cảm và ảnh hưởng đến tiến trình
điều trị bệnh. Đặc biệt, trong thời gian vừa qua bệnh nhân số 17 là một ví dụ điển hình làm
hoang mang dư luận và chính bệnh nhân này cũng phải gánh chịu những chỉ trích của cộng
đồng người Việt Nam và chính bản thân nữ bệnh nhân này lại tố cáo ngược lại chính quyền
của Việt Nam. Tuy nhiên, những thông tin được đăng tải chỉ là những thông tin chưa chính
thống, bắt nguồn từ những tài khoản cá nhân nặc danh. Vì vậy, để bảo đảm và hạn chế tối đa
nhất về thông tin về sức khỏe của công dân, Đảng và Nhà nước có chỉ đạo cần phân biệt
những thơng tin cơng khai nào là cần thiết; có thể thấy thông tin của họ chỉ đưa ra những
phạm vi di chuyển để có thể khoanh vùng tiếp xúc của dịch bệnh nhằm bảo đảm quyền con
người.
Có thể nói, minh bạch thơng tin là một điểm cộng tích cực mà Chính phủ Việt Nam
đã thành cơng trong giai đoạn vừa qua, thơng qua đó giúp tạo dựng niềm tin và huy động sự

đồng lịng của tồn dân trong ứng phó với đại dịch này.


4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền an sinh xã hội trong đại
dịch COVID 19
An sinh xã hội là một quyền của con người được công nhận trong Hiến pháp Việt
Nam năm 2013. An sinh xã hội, bao gồm bảo vệ sức khỏe xã hội, vừa là mục tiêu cuối cùng
vừa là công cụ để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững của nước ta. Vì vậy, để
phát triển được kinh tế thì phải bảo đảm được vấn đề an sinh xã hội cho người dân. Trong
bối cảnh chống dịch, thực hiện cam kết “khơng ai bị bỏ lại phía sau”, an sinh xã hội được
nhà nước quan tâm, nên ngày 10/4/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết hỗ trợ trực tiếp
cho người dân gặp khó khăn do dịch bệnh, với gói hỗ trợ chống dịch 62 nghìn tỷ đồng, và
liệt kê các nhóm đối tượng được hưởng hỗ trợ: người nghèo, cận nghèo, người có cơng, lao
động có hợp đồng bị nghỉ việc không lương, lao động tự do, khơng có việc làm… Vì vậy,
chính sách đặt con người ở vị trí cao nhất trong cơng cuộc phịng, chống dịch Covid-19 ở
Việt Nam đang được coi trọng.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg đã quy định điều
kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục hỗ trợ 6 nhóm đối tượng: người lao động tạm hỗn thực hiện
hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương; hộ kinh doanh; người lao động bị
chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp
thất nghiệp; người lao động không giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm; người có
cơng với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; người
sử dụng lao động được hỗ trợ vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động. Thực
hiện Quyết định của thủ tướng, Bộ lao động và thương binh xã hội cũng khẳng định việc hỗ
trợ hướng tới bảo đảm đúng đối tượng trong thời gian sớm nhất, không để chậm trễ và việc
hỗ trợ phải được công khai, minh bạch. Cùng với việc dành mọi nguồn lực để chống dịch,
Chính phủ ngay lập tức đẩy mạnh đầu tư công nhằm xây dựng những cơng trình thiết yếu
phát triển kinh tế, tạo việc làm; giảm mạnh lãi suất điều hành, giãn, hỗn thuế để “tiếp máu”
cho doanh nghiệp… Chính phủ cũng triển khai gói an sinh xã hội, nhằm hỗ trợ người yếu
thế, doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 gây ra; khơng để người dân nào thiếu đói.

Chính sách này cũng góp phần dưỡng sức, tái sản xuất sức lao động, là động lực tiếp tục
phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian tới.
Hiện nay mặc dù tình hình dịch bệnh ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp đặc biệt ở
các tỉnh như Bắc Giang, Bắc Ninh và gân đây nhất là TP Hồ Chí Minh…, Đảng, Nhà nước
nhấn mạnh người dân là trung tâm, mọi quyền lợi của người dân được bảo đảm, không một
ai bị bỏ lại phía sau. Việc áp dụng các biện pháp chống dịch lúc này là rất cần thiết, không
được lơ là chủ quan kèm theo đó là nỗ lực phát triển kinh tế để người dân được đầy đủ, ấm
no, không ai rơi vào tình trạng thiếu thốn về cơ sở vật chất. Qua đó, phải nhìn nhận rằng,
Đảng và Nhà nước đã và đang nâng cao tinh thần của Công ước quốc tế về quyền con người
và lấy đó làm mục tiêu chính cho q trình duy trì sự bền vững của toàn dân tộc./.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×