PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.
Lý do chọn đề tài:
Là địa phương có diện tích nhỏ nhất, nhưng Bắc Ninh là một trong
những tỉnh có nhiều làng nghề nhất cả nước. Tồn tỉnh có hơn 61 làng nghề, trong
đó có 31 làng nghề truyền thống, thu hút gần 80 nghìn lao động, tiêu biểu như:
làng nghề tái chế giấy Phong Khê, đúc nhơm chì Văn Mơn, sản xuất sắt thép tái
chế Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làm bún Khắc Niệm...
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Ninh phát triển từ lâu đời, đa dạng về
ngành, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
Từ cảnh khó khăn của một làng nghề làm giấy dó thủ cơng, Phong
Khê (thuộc phường Phong Khê, tỉnh Bắc Ninh) đã trở thành đầu tàu về phát triển
kinh tế của tỉnh Bắc Ninh. Phong Khê nối tiếng là nơi sản xuất và tái chế giấy lớn
nhất miền Bắc, mỗi năm đóng góp vào ngân sách địa phương khoảng 50 – 60 tỷ
đồng.
Tuy nhiên, tình trạng ơ nhiễm mơi trường trong làng nghề đang ở
mức “báo động đỏ” gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sinh hoạt, sản
xuất của người dân nơi đây: khơng chỉ là khói bụi độc hại thải ra môi trường hàng
ngày, rác thải tràn ngập đường làng ngõ xóm, thậm chí các ao hồ đặc biệt là dịng
sơng Ngũ Huyện Khê chảy qua địa phương đang phải chịu một lượng lớn nước
thải độc hại chưa qua xử lý, dẫn đến tình trạng chất lượng mơi trường càng ngày
càng tồi tệ. Bên cạnh đó, sản xuất tại làng nghề cịn thủ cơng, cơng nghệ lạc hậu,
hiệu quả sử dụng ngun liệu, nhiên liệu cịn thấp, hóa chất độc hại được sử dụng
hàng ngày nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm; ý thức của người dân trong bảo
vệ môi trường và sức khỏe còn chưa cao. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức
khỏe và đời sống của người lao động làng nghề cũng như môi trường sống của
các khu lân cận.
Trước phản ánh về tình trạng ơ nhiễm nặng nề ở phường Phong Khê,
TP Bắc Ninh do nhà máy sản xuất giấy gây ra, ông Lưu Xuân Hùng, Chi cục
trưởng Bảo vệ môi trường (Sở TN&MT tỉnh Bắc Ninh) cho biết, làng nghề giấy
Phong Khê là 1 trong 5 cơ sở thuộc danh mục cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng
phải xử lý. Với tất cả các lý do nêu trên, việc giải quyết tình trạng ơ nhiễm mơi
trường làng nghề giấy Phong Khê là rất quan trọng. Để có cơ sở giải quyết tình
trạng này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những vấn đề còn tồn tại xung quanh việc sản
xuất và tái chế giấy ở Phong Khê, Bắc Ninh.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài của chúng tôi nhằm những mục tiêu sau:
-
Nêu lên thực trạng môi trường (mức độ ô nhiễm), đời sống của người dân
trong khu vực bị tác động bởi quá trình sản xuất và tái chế giấy ở Phong
-
Khê.
Chỉ ra các vấn đề còn tồn tại ở địa phương trong cơng cuộc giải quyết tình
-
trạng ơ nhiễm mơi trường.
Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa nguồn gây ô
nhiễm môi trường nhưng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất cho các cơ sở.
1.3.
Giới hạn nghiên cứu:
- Địa điểm: nghiên cứu được
-
Ninh
Thời gian:
tiến hành tại làng nghề giấy Phong Khê, Bắ
1.4.
Nội dung nghiên cứu:
- Phân tích hiện trạng sản xuất và tái chế giấy của làng nghề
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề
- Xác định các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
1.5.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp kế thừa:
Thu thập các tài
liệu khoa học, các tạp chí khoa học, đề tài
nghien cứu, số liệu về vấn đề nghiên cứu.
Tham khảo, kế thừa các tài liệu, các đề tài đã được tiến hành
-
trước đó có liên quan đến khu vực nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích: từ các cơ quan, tờ báo,
bài nghiên cứu có độ tin cậy.
PHẦN 2: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ GIẤY
PHONG KHÊ, BẮC NINH.
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Làng nghề truyền thống là gì?
Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại đa số bộ phận dân
1.1.
số làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời, được lưu
giữ qua nhiều thế hệ (kiểu cha truyền con nối) hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục
năm.
1.2.
-
1.3.
Đặc điểm làng nghề thủ công truyền thống:
Tồn tại ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với nơng nghiệp
Thường sử dụng nguyên liệu tại chỗ
Công nghệ sản xuất thường thô sơ, đơn giản, lạc hậu với kỹ thuật thủ công
là chủ yếu
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao động thủ cơng
Sản phẩm mang tính đơn chiếc, có tính mĩ thuật cao, đậm đà bản sắc dân
tộc
Thị trường tiêu thụ sản phẩm thường mang tính địa phương, tại chỗ, nhỏ
hẹp
Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu ở quy mơ hộ gia đình, một số làng nghề
đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân.
Mơi trường là gì?
Theo Luật bảo vệ mơi trường của Việt Nam năm 2005 chương 1,
điều 1 xác định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân
tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Một định nghĩa rõ ràng hơn: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố
tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến
các hoạt động sống của con người như: khơng khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội
loài người và các thể chế.
Chức năng của môi trường:
1.4.
-
Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật. Trong quá trình tồn tại
và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về khơng khí, độ ẩm, nước,
nhà ở... cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác. Tất cả các nhu cầu này đều
do môi trường cung cấp. Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con
người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở
-
từng thời kì.
Mơi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá,
tre, nứa, tài nguyên sinh vật. Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung
cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã
-
hội.
Mơi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá
trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Các tài nguyên sau khi hết hạn
sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải. Các chất thải này
bị các q trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh
quay trở lại phục vụ con người. Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải
của mơi trường là có giới hạn. Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra
mất cân bằng sinh thái và ơ nhiễm mơi trường.
1.5.
-
Ơ nhiễm mơi trường là gì:
Theo Luật Bảo vệ Mơi trường của Việt Nam:
"Ơ nhiễm mơi trường là sự làm thay đổi tính chất của mơi trường, vi
phạm Tiêu chuẩn mơi trường".
-
Theo từ điển OXFORD: Ơ nhiễm mơi trường được hiểu là sự có mặt của
các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong mơi trường mà mơi
trường khó chấp nhận.
Phân loại ơ nhiễm mơi trường:
1.6.
-
Ơ nhiễm mơi trường khơng khí:
Ơ nhiễm mơi trường khơng khí là hiện tượng làm cho khơng khí sạch thay
-
đổi thành phần và tính chất dưới bất kỳ hình thức nào.
Có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại đến sức khỏe con
-
người và mơi trường xung quanh.
Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá
trình. Những hoạt động của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, có
sự thay đổi bất lợi trong mơi trường khơng khí thì được xem là ơ nhiễm
mơi trường khơng khí.
(Theo giáo trình “Ơ nhiễm môi trường” - Trường đại học Nông Lâm - Thái
Nguyên )
-
Ơ nhiễm mơi trường nước:
Ơ nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hóa học
-
- sinh học của nước.
Các chất lạ xuất hiện ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại
với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.
(Hoàng Văn Hùng giáo trình ơ nhiễm mơi trường - Trường đại học Nơng
Lâm - Thái Ngun)
-
Ơ nhiễm mơi trường đất:
Ơ nhiễm đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất
gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông
nghiệp và những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp
-
lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất
do sự lắng đọng của các chất gây ơ nhiễm khơng khí lắng xuống đất.
-
Ô nhiễm tiếng ồn:
Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau được tổng hợp trong
-
sự cân bằng biến động.
Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh được phát ra không
-
đúng lúc, đúng chỗ.
Mỗi thành phần có vai trị riêng trong việc gây ồn. Nó khác nhau với những
người khác nhau, ở những chỗ khác nhau và trong thời điểm khơng giống
-
nhau.
Ơ nhiễm tiếng ồn như một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi
làm ảnh hưởng đến con người và môi trường sống của con người bao gồm
đất đai, cơng trình xây dựng và động vật nuôi ở trong nhà. (Theo giáo trình
ơ nhiễm mơi trường - Trường đại học Nơng Lâm - Thái Ngun).
-
Suy thối mơi trường:
Là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trường: mất nơi
-
cư trú an toàn, cạn kệt tài nguyên, xả thải q mức, ơ nhiễm.
Ngun nhân gây suy thối mơi trường rất đa dạng: Sự biến động của tự
1.7.
nhiên theo hướng khơng có lợi cho con người, sự khai thác tài ngun q
mức cho phép, do mơ hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế, sự
gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng...
1.8.
-
Các khái niệm chất thải rắn:
Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các
hoạt động kinh tế - xã hội của mình ( bao gồm các hoạt động sản xuất, các
-
hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng ).
Chất thải rắn sinh hoạt: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ
-
gia đình, nơi cơng cộng.
Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói, lưu giữ
-
tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom.
Lưu giữ chất thải rắn: là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian
nhất định trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
-
Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát
sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng
-
hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.
Xử lý chất thải rắn: là q trình sử dụng các giải pháp cơng nghệ, kỹ thuật
làm giảm, loại bỏ các thành phần có hại hoặc khơng có ích trong chất thải
-
rắn và tái chế lại các thành phần có ích.
Chơn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với các
yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp.
Chương 2: Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tái chế
giấy Phong Khê, Bắc Ninh và đề xuất giải pháp.
2.1.
Thực trạng môi trường làng nghề tái chế giấy Phong Khê, Bắc Ninh:
Hiện nay, Bắc Ninh có 6 làng nghề được liệt kê trong danh sách ô
nhiễm trầm trọng: làng nghề tái sản xuất giấy Phong Khê (TP. Bắc Ninh); làng
bún Khắc Niệm (xã Khắc Niệm, TP Bắc Ninh); làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá
(Yên Phong); làng nghề đúc đồng Đại Bái (Gia Bình); làng nghề tái chế thép Đa
Hội (thị xã Từ Sơn); làng đúc đồng Quảng Bố (Lương Tài). Tuy nhiên, sự phát
triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của nhiều làng nghề ở Bắc Ninh đã dẫn đến tình trạng
ơ nhiễm mơi trường ngày càng nghiêm trọng tại khu vực.
Công nghệ sản xuất giấy các loại ở Phong Khê có nhiều biến động từ
khi hình thành cho đến thời điểm hiện tại. Trước đây, Phong Khê sản xuất giấy dó
là chính (nguồn cung cấp giấy cho làng tranh Đông Hồ). Hiện nay, sản phẩm của
Phong Khê rất đa dạng: giấy dó, giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã, giấy bao
gói, bìa cát tong (chủ yếu được làm từ giấy phế liệu). Theo số liệu của UBND
phường Phong Khê (tháng 8/2015), địa phương hiện có 95% hộ dân làm nghề,
với 203 DN trên địa bàn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và tái chế giấy sinh
hoạt. Tuy nhiên, chỉ có một vài cơ sở áp dụng cơng nghệ xử lý nước thải, còn lại
hầu hết đều thải trực tiếp ra ngồi mơi trường làm cho mơi trường bị ô nhiễm
nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái của địa phương cũng như cuộc
sống của người dân khu vực lân cận.
Hình 2.1. Doanh Nghiệp và cơ sở sản xuất giấy trong làng nghề Phong Khê
từ 2010-2016
(Nguồn: Đinh Cơng Tuấn, Tạp chí VHNT số 353)
Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy số doanh nghiệp và số cơ sở
sản xuất giấy đang ngày càng tăng lên trong giai đoạn từ năm 2010-2016 (tăng
33 doanh nghiệp và 69 cơ sở). Nghề giấy đã khẳng định sức hút đối với các
doanh nghiệp cả trong nưuớc và ngồi nước; góp phần tạo việc làm cho nhiều
lao động địa phương; duy trì, phát triển và nâng cao hơn nữa chất lượng sản
phẩm giấy.[1]
Theo số liệu của cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh, mỗi ngày làng
nghề tái chế giấy Phong Khê thải ra môi trường khoảng 4.500 - 5.000 m3 nước
thải chứa lượng độc tố cao gấp hàng chục lần, thậm chí là hàng trăm lần tiêu
chuẩn cho phép. Cụ thể là: hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn từ 4,5 - 11 lần;
hàm lượng COD cao hơn từ 8 - 500 lần; hàm lượng Pb cao hơn 5,5 lần… Hơn
nữa, trong q trình sản xuất, các loại hố chất như phèn, nhựa thông, phẩm
màu... được pha lẫn vào trong nước; cộng với việc người dân thải ra một cách bừa
bãi, thiếu ý thức, dẫn đến việc những con mương quanh làng bị ô nhiễm, nồng
nặc mùi hôi thối. [2, 3]
Đường vào làng nghề giấy Phong Khê (huyện Yên Phong) đầy
những ổ gà, ổ voi do hàng trăm chuyến ô tô chở giấy phế liệu qua lại mỗi ngày.
Từ đầu làng đến cuối phố, xe cộ chở hàng nườm nượp, khói bụi xám xịt bầu trời.
Người dân còn khổ sở bởi khói thải từ các nhà máy. Họ ln phải đóng kín cửa để
tránh khói và bụi bay vào nhà. Máy móc của các nhà máy liên tục hoạt động gây
nên tiếng ồn rất khó chịu. Trong làng, những khối bìa, giấy vụn đang chờ được tái
chế chất cao ngất. Khắp làng nồng nặc mùi hóa chất, tạp chất thải ra trong q
trình sản xuất. Bụi giấy và khói than ở khắp nơi. Suốt chiều dài khoảng 2km từ
địa phận xã Phú Lâm (huyện Tiên Du) đến phường Phong Khê (TP Bắc Ninh),
dịng sơng Ngũ Huyện Khê chỉ một màu đen đặc, được ví von như “Thị Vải 2”
hay “dịng sơng chết” bởi tình trạng ơ nhiễm trầm trọng của nó. Dọc hai bên bờ,
hàng trăm nhà máy giấy thường xuyên hoạt động, ống khói xả lên trời, đường ống
nước thải xả thẳng ra sông, tạo ra một hiện tượng kinh hồng. Kết quả phân tích
đã chỉ ra: hầu hết các chỉ số ô nhiễm môi trường trong mẫu bùn ở đáy sông Ngũ
Huyện Khê, đoạn đi qua làng nghề Phong Khê đều cao hơn so với đoạn trước khu
vực làng nghề từ 1 - 2 lần, có đoạn vượt từ 6,8 - 8 lần.
Lâu nay người dân ở khu vực ngày đêm phải sống khổ sở vì nhiều
loại ơ nhiễm chồng chất: từ bầu khơng khí đến nguồn nước. Tình trạng xuống cấp
và ô nhiễm của dòng sông Ngũ Huyện Khê đang ảnh hưởng nặng nề đến cuộc
sống của người dân quanh khu vực. Thậm chí nguồn nước ngầm cịn xuất hiện
váng và có mùi tanh khó chịu khiến người dân lo sợ, nhưng họ vẫn phải nhắm
mắt sử dụng vì khơng có sự lựa chọn khác. Nguồn nước sinh hoạt của người dân
bị ô nhiễm nặng, đồng ruộng không thể trồng trọt, ao hồ khổng thể nuôi trồng
thủy sản và mất chức năng điều tiết.
Nguồn nước ơ nhiễm cịn là mầm mống cho nhiều bệnh tật phát sinh.
Từ trẻ con cho đến người lớn trong làng thường xuyên bị mắc các bệnh về đường
hơ hấp như ho, viêm phổi… Có một thực tế đau lòng: “Tỷ lệ người dân địa
phương bị mắc bệnh hơ hấp lên đến 40% và bệnh ngồi da hơn 30%, cao gấp
nhiều lần so với địa phương lân cận”. Theo thống kê, tỷ lệ người mắc bệnh trong
vùng cao hơn hẳn so với các địa phương khác và cao hơn rất nhiều so với những
năm trước. Số ca ung thư trung bình từ 10-13 người/năm (ước tính trung bình mỗi
tháng có một ca).
Để giải quyết tình trạng ơ nhiễm môi trường ở Phong Khê, tháng
3/2013 UBND tỉnh đã khởi công xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tập trung tại
làng nghề này với tổng kinh phí là 397 tỷ đồng (từ nguồn kinh phí hỗ trợ từ Trung
ương, ngân sách của tỉnh và nguồn vốn đóng góp của các doanh nghiệp, nhân dân
trên địa bàn). Đến tháng 7/2016, cơng trình đã hồn thành và đưa vào sử dụng
giai đoạn 1 với công suất xử lý đạt 5.000 m3 nước thải/ngày. Giai đoạn 2, nhà
máy sẽ nâng công suất lên 10.000 m3/ngày nhằm đáp ứng toàn bộ lượng nước
thải của làng nghề và một số khu vực lân cận.
2.2.
Những vấn đề tồn tại xung quanh ngành tái chế giấy ở Phong Khê,
Bắc Ninh:
Vấn đề 1: Công nghệ sản xuất giấy cịn rất lạc hậu, quy mơ nhỏ,
phân tán.
Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi nền công nghiệp tái chế
giấy được chú trọng, đã có nhiều dự án bột và giấy cao cấp được khởi công
hay cấp chứng nhận đầu tư, báo hiệu sự phát triển cân bằng cho ngành này.
Nhưng thực tế trên cũng cảnh báo đầu tư thiếu bền vững do khơng có định
hướng chiến lược phát triển, dẫn đến việc các doanh nghiệp sản xuất hết sức tự
phát. Địa phương nào cũng xây dựng dự án giấy, hầu hết có quy mơ nhỏ, đầu
tư phân tán. Thậm chí trong một gia đình, có tới ba cơ sở sản xuất mà khơng có
sự liên minh, liên kết với nhau.
Trong q trình sản xuất, chỉ có khâu xeo giấy là do máy móc thiết
bị, cịn lại các khâu khác như nạp nhiên liệu, vận chuyển sản phẩm… vẫn là
thủ cơng; cịn q trình vận hành chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Công nghệ sử
dụng vẫn rất thô sơ, dễ áp dụng ở quy mô vừa và nhỏ, với loại sản phẩm khơng
u cầu có chất lượng cao, phù hợp với trình độ kỹ thuật của người dân. Cũng có
một số cơ sở đã mạnh dạn đầu tư nhập thiết bị công nghệ của Trung Quốc, thuê
các chuyên gia điều hành máy móc tạo ra sản phẩm có chất lượng như giấy
Duplex, Krapt, giấy in, giấy viết học sinh…, nhưng số lượng còn rất khiêm tốn.
Hầu hết hệ thống máy móc thiết bị sử dụng thuộc loại cũ (đã qua thanh lý của các
cơ sở sản xuất công nghiệp), không đồng bộ, tự chế lắp. Hơn nữa, nguyên liệu sử
dụng chủ yếu là các loại giấy tái chế nên nơi đây còn là nơi tập kết các loại giấy
cũ.
hiệu quả sản xuất không cao, tiêu tốn nhiều năng lượng và nguyên
liệu, vấn đề vệ sinh công nghiệp không được chú ý.
1.
Ủy ban nhân phường Phong Khê, TP Bắc Ninh (2016), Quy hoạch phát
2.
3.
triển kinh tế xã hội phường Phong Khê giai đoạn 2010-2020, Bắc Ninh.
Bắc Ninh (2010), Báo cáo hiện trạng môi trường, Bắc Ninh.
Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2015), Báo cáo hiện trạng môi
trường năm 2015, Bắc Ninh.
4.