Lời mở đầu
Trong giai đoạn 2010- 2015, một vấn đề bức thiết gây chấn động địa cầu đã
xảy ra đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Nó bắt nguồn từ cuộc
khủng hoảng tài chính Mỹ từ cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền
lên toàn bộ nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển. Kết quả là các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều
khía cạnh. Một trong những giải pháp mà chính phủ các nước đưa ra để cứu
vãn tình thế này và khắc phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích cầu
nhằm kích thích nền kinh tế phát triển, thốt khỏi tình trạng suy thối. Chính
phủ Việt Nam cũng hành động như vậy. Sau thời gian hội nhập với nền kinh
tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ và thách
thức to lớn. Để đối phó với khủng hoảng kinh tế giai đoạn năm 2010-2015
chính phủ việt nam đã dùng nhiều biện pháp để đẩy mạnh nền kinh tế bị ảnh
hưởng xấu do khủng hoảng của việt nam. Giai đoạn này là giai đoạn chính
phủ đây mạnh các gói kích cầu đặc biệt là chính sách tài khóa
Vì để giúp các bạn hiểu dõ hơn về chính sách này nên nhóm 5 chúng tơi đã
thự hiện đề tài: Phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam
( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 20102015
Nội dung
I. Khái niệm của chính sách kích cầu
Chính sách kích cầu là một chính sách của nhà nước đưa ra, thường được sử
dụng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hoặc suy thối, đang cần vực dậy. Đặc
biệt chính sách này hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng thái bẫy
thanh khoản, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất đã
q thấp.
Chính sách kích cầu đơi khi cịn được gọi là chính sách Keynes vì biện pháp
này tác động tới tổng cầu.
Hai giả thuyết của Keynes bao gồm:
Thứ nhất, suy thoái bắt đầu từ năng lực dư thừa của nền sản xuất . Biểu hiện
của nú là : yếu tố đầu vào không được sử dụng hết, thất nghiệp, máy móc bỏ
bê, hàng hóa ế thừa. Hiện tượng dư cung khiến giá cả giảm nhưng lại càng
không khuyến khích người mua, dẫn đến suy thối.
Thứ hai, chính phủ có khả năng chi tiêu tồn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập
của mình. Trong khi đó các khu vực khác lại chi tiêu ít hơn vì họ có khuynh
hướng tiết kiệm. Trong điều kiện suy thối thì các doanh nghiệp ko muốn
chuyển khoản tiết kiệm này sang đầu tư.
Từ giả thuyết thứ nhất, ông cho rằng nền kinh tế bị suy thối vì tạm thời
khơng có đủ cầu cho cung đang dư thừa. Từ giả thuyết thứ hai, ông cho rằng
chính phủ mới có khả năng chi tiêu mạnh tay – dựa trên ý chí của mình –
ngay cả khi nền kinh tế đang suy thối.
Từ đó ơng đề xuất một phương án: dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và
tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy
đình đốn vì thiếu sức mua, kích thích tổng cầu.
Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất
hiện tại
của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá
cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất
nghiệp tăng cao gây ra.
Nếu khơng nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy
hiểm đẩy suy giảm kinh tế vào vịng xốy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến
cắt giảm thu nhập (thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó
khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động,
đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy. Do vậy mục
đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm
Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là
hiệu
trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama),
một gói
kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí.
- Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì
những biện
pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay
trong nền kinh
tế.
- Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:
Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:
• Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu
thơng
qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vịng.
• Mức độ “rị rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vịng của
tác
động lan tỏa.
Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có
mức tiêu dùng
cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa. Do
vậy, nếu
kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu
quả và công
bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế
thường gặp.
- Nguyên tắc số 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được
cải thiện.
Ngun tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:
• Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu
• Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để khơng làm ảnh hưởng tới tình hình ngân
sách trong dài hạn.
II. Chính sách tài khóa trong gói kích cầu
Một trong những gói kích cầu của chính phủ Việt Nam , một cánh tay đắc lực
trong việc điều chỉnh kinh tế của chính phủ chính là chính sách kích cầu
1. Khái niệm
Chính sách tài khóa là một cơng cụ của chính sách kinh tế vĩ mơ được Chính
phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụnghiệu quả các nguồn lực tài
chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
2.Mục tiêu:
- Ngắn hạn: Tăng trưởng sản lượng, ổn định giá, giảm tỷ lệ thất nghiệp và
cân bằng cán cân thanh tóan.
- Dài hạn: Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn
3. Công cụ , phân loại chính sách kích cầu
3.1 Các cơng cụ của chính sách tài khóa:
Hai cơng cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ
thống thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của
chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế:
- Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế
- Kiểu phân bổ nguồn lực
- Phân phối thu nhập
3.1.1 Thuế:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục
đích cơng cộng. Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt
thuế với các hình thức huy động tài chính khác.
3.1.2 Chi tiêu chính phủ:
Chi tiêu của chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc
thực hiện các mục tiêu chungtồn xã hội. Chi tiêu chính phủ bao gồm hai loại:
chi tiêu công cộng (hoặc gọi là các khoản chi thường xuyên) và chi đầu tư xây
dựng cơ bản.
3.2 Phân loại chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa liên quan đến tác độngtổng thể của ngân sách đối với
hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở
rộng, và thu gọn
3.2.1Chính sách trung lập:
Là chính sách cân bằng ngân sách, khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu
nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hồn tồn được cung cấp do nguồn thu
từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các
hoạt động kinh tế.
3.2.2 Chính sách mở rộng:
Là chính sách tăngcườngchi tiêu của chính phủ (G > T) thơng qua chi tiêu
chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2.
Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách
ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.
3.2.3 Chính sách thu hẹp:
Là chính sách trongđó chi tiêu của chính phủ ít đi thơng qua việc tăng thu từ
thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân
sách
Gói kích cầu của tổng thống Barack Obama Sáu tháng trước, cùng với việc nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy yếu, Tổng thống Obama và Quốc hội Mỹ đã tung
ra gói kích cầu khổng lồ trị giá 787 tỷ USD. Với cái nhìn dài hạn, tổng thống Obama cho rằng gói kích thích khổng lồ này chỉ là bước khởi đầu trong nỗ lực vực dậy
nền kinh tế thoát khỏi cơn khủng hoảng tài chính tồi tệ mà ơng thừa hưởng từ thời Tổng thống Mỹ George W. Bush Cụ thể với một món tiền lớn như thế này, kế
hoạch kích thích 787 tỷ USD của ơng Obama được chia làm hai mảng: 500 tỷ USD chi ra cho kế hoạch mở rộng xây dựng các cơng trình cơng cộng, nửa còn lại
dùng cho kế hoạch cắt giảm thuế. - 500 tỷ USD được chia nhỏ như sau: 115 tỷ USD sẽ được sử dụng cho các tiểu bang và các chính quyền cấp địa phương phục
vụ cho lĩnh vực y tế, 100 tỷ USD sẽ được chi vào cải thiện cơ sở giáo dục, đào tạo ngành nghề, 80 tỷ USD sẽ được chi vào hệ thống đường cao tốc và đường sắt,
70 tỷ USD dùng cho lĩnh vực năng lượng và bảo vệ môi trường, gần 60 tỷ USD dành cho các tiểu bang và chính quyền địa phương chi tiêu trong lĩnh vực công
cộng, 50 tỷ USD dùng cho cứu trợ người thất nghiệp, 20 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. - Phần còn lại cũng được chia nhỏ thành: 116,2
tỷ USD sẽ được dùng để bổ sung cho những cá nhân hoặc gia đình có mức thu nhập hàng năm thấp hơn 75.000 USD hoặc 150.000 USD, 69,8 tỷ USD để cắt giảm
“mức thuế thay thế thấp nhất” cho giai cấp tư sản dân tộc, 32 tỷ USD dùng để cắt giảm các mức thuế doanh nghiệp. Ngồi ra, phần cịn lại còn được dùng cho miễn
giảm thuế trẻ em, những người mua nhà và mua xe ... Số tiền lớn như thế này được Chính phủ Mỹ chi ra chủ yếu nhằm khôi phục lại niềm tin của các doanh nghiệp
cũng như các nhà đầu tư cho chính phủ, thúc đẩy nhu cầu trong December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA
KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 29 nước, kiến tạo thêm các cơ hội việc làm mới, thúc đẩy GDP tăng trưởng. Và theo tính tốn, khi cắt giảm 1 USD thuế thì có thể
tăng thêm 1,7 USD GDP, trong khi Gói kích cầu của tổng thống Bush Ngày 15/02/2008, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã chính thức ký duyệt, đưa vào thực hiện
kế hoạch kích thích kinh tế cả gói, theo đó sẽ hồn thuế cho người dân, cơng ty và khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư, nhằm góp phần thúc đẩy nền
kinh tế Mỹ đang tăng trưởng chậm, ngăn chặn nguy cơ suy thoái của nền kinh tế. Gói kích cầu trị giá 168 tỷ USD được thực hiện trong 2 năm và sẽ bổ sung trực
tiếp cho ngân sách trong nước đang bị thâm hụt. Trên 152 tỷ USD sẽ được đưa vào ngân sách năm 2008, số cịn lại sẽ được rót vào năm 2009. Theo kế hoạch của
gói kích cầu này, các cá nhân và cặp vợ chồng sẽ được hoàn trả 600 USD và 1.200 USD cộng thêm 300 USD cho mỗi người con của họ. Những cá nhân có tổng
thu nhập từ 75.000 USD/năm trở lên hay các cặp vợ chồng có tổng thu nhập trên 150.000 USD sẽ được nhận ít hơn, và được hồn trả cịn tùy theo thu nhập của họ
vượt ngưỡng nói trên bao nhiêu. Những cá nhân và cặp vợ chồng khơng đóng thuế nhưng có mức thu nhập ít nhất 3.000 USD/năm sẽ được nhận lần lượt 300 USD
và 600 USD. Về phía cơng ty, khi mua trang thiết bị mới họ sẽ được khấu trừ ngay 50% chi phí. Các doanh nghiệp nhỏ sẽ được các cơ quan thuế vụ cắt giảm chi
phí trên diện rộng lớn hơn. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện đối với khoảng 128-130 triệu người. December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 28 Chính quyền Bush đã trình quốc hội thơng qua gói tài chính 700 tỷ dollar nhằm kích thích
tiêu dùng như trợ giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp, phát triển cơ sở hạ tầng, qua đó vực dậy nền kinh tế.
ình ổn thị trường tài chính. Năm 2010 và các năm tiếp theo, kinh tế thế giới nói chung và kinh tế châu Á nói riêng được dự báo khả quan hơn, điều này sẽ tác động
tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian nền kinh tế thế giới khủng hoảng sẽ rất khó
khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an tồn. Việc bán tháo chứng khốn khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất khơng cao, do tính
thanh khoản và quy mơ của thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khốn và q trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong
các năm tới. Việc huy động vốn thơng qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dịng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh
nghiệp lên cao. Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn
định. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao. Với lãi suất tồn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi
suất VND vẫn ở mức cao, có thể dịng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thối vốn,
dịng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND. Việc phát December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾLUẬT --- ĐHQG TP.HCM 26 hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng cao. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch
phát hành 1 tỷ USD và Vinashin có kế hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào năm 2009. Tuy nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính,
việc thực hiện kế hoạch nêu trên sẽ gặp phải những trở ngại đáng kể trong thời gian tới. Dòng kiều hối từ trước đến nay vẫn là một dòng ngoại tệ tương đối ổn định,
ngay cả trong thời kỳ kinh tế toàn cầu có khó khăn. Trong một vài năm trở lại đây, dòng kiều hối về Việt Nam tăng mạnh, với mức doanh số 8 tỷ - 10 tỷ USD/năm.
Ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư vào kinh doanh, một phần khơng nhỏ của dịng kiều hối này được đầu tư vào chứng khoán và bất động sản - những lĩnh
vực hiện nay khơng cịn "nóng" như trước. Hơn nữa, một phần lớn nguồn kiều hối về Việt Nam lại từ nước Mỹ, nơi tăng trưởng kinh tế đang sa sút và tình trạng thất
nghiệp gia tăng. Điều này khiến cho dòng kiều hối trong các năm tới có thể cũng sẽ suy giảm. d. Về tăng trưởng kinh tế Những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu
trên của khủng hoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước ta trong năm 2008. Dự kiến tốc độ tăng trưởng
GDP trong năm 2008 chỉ đạt khoảng 6,7%, thấp hơn chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là 7%.Với những tác động ban đầu của khủng hoảng tài chính thế giới đến
đầu tư nước ngồi, thương mại tài chính tiền tệ,... trong thời gian vừa qua, cũng như phạm vi ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế thế giới như đã phân tích ở
trên, nền kinh tế nước ta cũng sẽ cịn gặp khó khăn trong năm 2009 và các năm tiếp theo. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, biến động của kinh tế toàn cầu
sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng GDP của Việt Nam. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm trong năm 2009, những thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, Nhật Bản,
EU và một số khu vực có nguy cơ bị thu hẹp, đồng thời thu hút đầu tư, cả gián tiếp và trực tiếp của chúng ta cũng sẽ bị giảm sút.. Năm 2010 và các năm tiếp theo,
kinh tế thế giới và khu vực châu Á được dự báo December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --ĐHQG TP.HCM 27 khả quan hơn. Điều này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Dự báo tăng trưởng kinh tế của nước ta sẽ phục hồi sau
năm 2009, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ và cao hơn năm 2008. 2.2. Chính sách kích cầu của các quốc gia 2.2.1. Chính sách kích cầu của một số nước có tính tham
khảo đối với Việt Nam a. Chính sách kích cầu của Mỹ Nội dung của gói kích cầu Với việc Trung Quốc tung ra gói kích cầu trị giá 586 tỷ USD được chia làm 10
hướng khuyến khích và đặt trọng tâm lớn hơn cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, các Doanh nghiệp tư nhân, đầu tư mạnh vào nông thôn để tạo việc làm. Trung
Quốc coi đây như một cuộc canh tân kinh tế lớn nhằm đối phó với khủng hoảng tồn cầu. Và với gói kích thích về cầu đầu tư trong nước trị giá 586 tỷ USD không
giống với bất kỳ các nước phương Tây (tương đương 4000 tỷ NDT) trong vịng 2 năm thì mục tiêu của Trung Quốc là hạn chế những bất lợi của môi trường kinh tế
quốc tế. Gói kích cầu này nhằm ba mục tiêu cơ bản là duy trì tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu và mở rộng nhu cầu nội địa song song với thúc đẩy mở rộng thị trường
xuất khẩu ra nước ngồi. Phần lớn gói kích cầu của Chính phủ Mỹ tập trung vào hoạt động tiêu dùng, dưới dạng trợ cấp, chăm sóc y tế… Trong khi đó, gói kích cầu
của Trung Quốc ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Trong December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH
CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 33 thập kỷ trước, Trung Quốc đã xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho
các thành phố lớn nhất của mình, tới nay, họ sẽ xây cơ sở hạ tầng tương tự cho các thành phố nhỏ hơn. Gói kích cầu này nằm trong chính sách kinh tế vĩ mơ linh
hoạt, thận trọng đi liền với chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nới lỏng thích hợp để ứng phó với tình hình kinh tế thế giới phức tạp hiện nay. Theo kế
hoạch thì gói giải pháp kích cầu sẽ giải quyết việc làm cho 16 triệu người, trong tổng số 25 triệu người có nguy cơ thất nghiệp. Tốc độ tăng tiêu dùng sẽ nâng lên
0,7% so với mức tăng cùng kỳ, tốc độ tăng giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng thêm 5,3% so với mức tăng cùng kỳ và tốc độ tăng trưởng GDP tăng thêm 2,4%
so với mức tăng cùn Hạn chế - Khơng phát huy được hết tác dụng của gói kích cầu Trong một bài diễn văn tại Singapore ngày 7/7/2009, cố vấn kinh tế cho Tổng
thống Obama-ông Laura Tyson nhấn mạnh rằng gói kích cầu được thơng qua vào tháng 2/2009 có quy mơ q nhỏ so với ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế và
cũng thừa nhận chính phủ đã đánh giá thấp đợt suy thối này. Trong buổi đó có nhiều quan điểm ủng hộ cho việc phải đưa thêm kế hoạch để có thể kích thích kinh
tế bởi nguyên nhân hết sức đơn giản là người tiêu dùng Mỹ đã chuyển từ tiêu dùng sang tiết kiệm trong nỗ lực cứu khả năng tài chính đang yếu kém của họ. Như
vậy có thể thấy là mặc dù gói kích cầu đã có hiệu lực nhưng sự phát huy tác dụng của nó thì vẫn chưa rộng rãi. Trong lúc này khi mà mọi người vẫn chưa nhận
được sự trợ giúp trong việc tiêu dùng thì mọi người chuyển sang tiết kiệm nhiều hơn thì nền kinh tế Mỹ vẫn chưa thể phục hồi được vì mọi người tiêu dùng càng cao
thì mới là nhân tố chính giúp nền kinh tế phát triển. - Thâm hụt ngân sách Với con số 787 tỷ USD không phải là con số nhỏ. Để có được con số này thì chính phủ Mỹ
đã phát hành ra các loại trái phiếu chính phủ. Theo các số liệu thống kê thì tính cho đến hết năm 2009 con số thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ sẽ từ 1500 đến
2000 tỷ USD, số thâm hụt ngân sách này đều dựa vào sự bù lỗ từ chiến dịch phát hành trái phiếu của chính phủ. Năm 2008, chính phủ Mỹ đã phát December 28,
2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 31 hành 1500 tỷ trái phiếu chính phủ. Năm
2008 và 2009, Mỹ tổng cộng đã phát hành 3500 tỷ trái phiếu chính phủ. Con số này bằng số trái phiếu đã phát hành của 27 năm (trước năm 2007) cộng lại. Quý
I/2009, Mỹ phát hành 500 tỷ trái phiếu chính phủ, con số này vượt xa so với con số phát hành của 1 năm trước đó. Bởi sau khi tổng thống Obama đưa ra gói kích
cầu thì con số thâm hụt ngân sách ngày càng tăng cao. Đây cũng là một nhân tố bất lợi cho sự phát triển lâu dài của kinh tế Mỹ. Theo IMF, tỷ lệ thâm hụt ngân sách
trên GDP sẽ tăng 10,6% trong giai đoạn từ 2007 đến 2010 nhưng hoàn toàn không phải do các biện pháp cần thiết để đối phó với khủng hoảng. Tỷ lệ nợ cũng tăng
như thời chiến, nhỏ hơn Chiến tranh thế giới II nhưng lớn hơn thời nội chiến và Chiến tranh thế giới I. Nhưng đây khơng phải lần đầu Mỹ có tỷ lệ nợ tăng mạnh trong
thời bình. Lần đầu tiên có chuyện này là dưới thời Cộng hòa những năm 1981 - 1992 khi kinh tế học trọng cung ra đời. Có vấn đề này là do việc dân chúng mất niềm
tin vào việc cuối cùng chính phủ sẽ kiểm sốt được thâm hụt ngân sách. Có ít nhất hai lý do cho sự nghi ngờ này là thứ nhất chiến tranh rồi cũng phải kết thúc, trong
khi thâm hụt trong thời bình thì khơng; thứ hai thì thời hậu chiến dễ cắt giảm thâm hụt, còn cắt giảm thâm hụt thời bình lại khó hơn nhiều bởi đồng xu nào chi ra thì
ln có một nhóm vận động hành lang đằng sau nó. Cho tới bây giờ thì chính quyền Tổng thống Obama và Quốc hội Mỹ dường như vẫn chưa sẵn sàng December
28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 32 cho những hành động về gói kích cầu
khác, một phần vì nếu tiếp tục mở rộng thâm hụt ngân sách liên bang thì nó sẽ đồng nghĩa với vấn đề phải đánh thuế cao trong tương lai và có thể là tăng lãi suất
tiền gửi một khi các nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ khơng cịn lòng tin. Nhưng lúc này mà cứ lo về vấn đề thâm hụt ngân sách thì các chính quyền bang và địa
phương phải cắt giảm chi tiêu và sa thải người làm khắc nghiệt, như thế thì lại ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế Mỹ. Tuy nhiên vấn đề thâm hụt ngân sách đó
là vấn đề của dài hạn mà nền kinh tế Mỹ phải giải quyết, cịn trong ngắn hạn thì tìm cách để bổ sung cho nền kinh tế những liều thuốc bổ để phát triển bởi một khi cỗ
máy vận hành lại tốt thì lúc đó sẽ có thể giải quyết được tình trạng thâm hụt ngân sách b. Chính sách kích cầu của Trung Quốc Các tác động tích cực của những
gói kích cầu trên Từ khi gói kích cầu có hiệu lực thì cho đến nay, mặc dù khoảng cách để nước Mỹ có thể phục hồi lại nền kinh tế như ban đầu thì vẫn cịn xa, nhưng
theo lời của Phó Tổng thống Mỹ J. Biden phát biểu ngày 3/9/2009 cho biết gói kích cầu trị giá 787 tỷ USD mà Tổng thống Obama đã ký duyệt hồi tháng 2 đang phát
huy tác dụng tích cực, đồng thời đã thay đổi quỹ đạo vận hành của nền kinh tế Mỹ. Theo báo cáo của Nhà Trắng đưa ra cuối tháng 10/2009 cho biết Chính phủ Mỹ
đã sử dụng được 160 tỷ USD từ quỹ kích thích kinh tế, ngồi kế hoạch kích cầu chung trị giá 787 tỷ USD, để tạo ra và giữ lại 640.329 việc làm tính đến hết tháng
9/2009. Con số chính xác này dựa vào các báo cáo của những nơi đã tiếp nhận gói kích cầu của chính phủ. Đồng thời theo kết quả thăm dị ý kiến do Gallup/USA
Today thực hiện gần đây thì khoảng 57% số người được hỏi cho rằng gói kích thích 787 tỷ USD phát huy ít hiệu quả. Chỉ 18% trong số họ cho biết gói chi tiêu đã cải
thiện đời sống bởi chính phủ đã cắt giảm thuế và trợ cấp thất nghiệp, cịn 60% nói rằng họ nghi ngờ khả năng gói kích thích sẽ giúp ích cho nền kinh tế trong những
năm tới. Nhà Trắng nói rằng số lượng việc làm được giữ lại hiện nay hoặc được tạo mới nhờ gói kích cầu cịn lớn hơn thế, có thể vượt qua con số 1 triệu chỗ làm vì
160 tỷ USD mới bằng khoảng một nửa số tiền đã chi ra từ đó đến nay và vì người dân, được thuê làm việc nhờ December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA
VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 30 vào gói kích cầu khi tiêu đồng tiền kiếm được lại tạo ra việc làm tiếp theo cho
người khác. Đồng thời theo các nhà kinh tế độc lập tính rằng gói kích cầu đã tạo ra và giữ lại được từ 650.000 đến 1.200.000 công ăn việc làm khắp nước Mỹ trong
quý 3/2009. Theo số liệu mà chính phủ Mỹ công bố, mặc dù kinh tế Mỹ trong quý II đã giảm 1%, nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với mức giảm 6,4% của quý I. Điều
này cho thấy gói kích cầu của chính phủ Mỹ đã một phần có hiệu lực. đó khi đầu tư 1 USD vào lĩnh vực xây dựng có thể khiến tăng trưởng kinh tế Mỹ thêm 2,5
USD. Tuy nhiên liệu với gói kích cầu khổng lồ trị giá 787 tỷ USD này có thể vực dậy nền kinh tế của Mỹ thì cho đến bây giờ nó vẫn cịn là câu hỏi ngỏ bởi theo một
kết quả điều tra của Mỹ công bố ngày 29/07/2009 cho thấy, gói kích thích kinh tế của Tổng thống Barack Obama và những người thuộc Đảng Dân chủ đang ngày
càng chịu nhiều sự nghi vấn. Nhược điểm Mặc dù Trung Quốc là một trong những quốc gia đưa nền kinh tế tồn cầu ra khỏi suy thối nhưng chiến lược của Chính
phủ Trung Quốc hàm chứa nhiều rủi ro. Cơn lũ tiền tệ đổ vào nền kinh tế đang tràn tới các thị trường chứng khoán và bất động sản, thổi bùng những quả bong bóng
mới. Và sự tích tụ các món nợ xấu, các dự án vơ tích sự có thể kìm hãm đà tăng trưởng và tài chính cơng. Ngồi ra, sự phụ thuộc của nền kinh tế vào đầu tư và tín
dụng của chính phủ có nghĩa là bất kỳ sự trục trặc nào về chính sách cũng có thể làm trật đường ray cơng cuộc gặt hái niềm tin. Chính phủ Trung Quốc đang cố
gắng điều chỉnh kế hoạch kích cầu để làm giảm rủi ro bong bóng. Trong lúc giá nhà đất ở Mỹ tuột dài, thì ở Trung Quốc đang tăng với tốc độ 10%/năm, đủ nhanh để
nhiều người kỳ vọng vào một đợt bùng nổ bất động sản mới. Sự gia tăng kỷ lục của quỹ dự trữ ngoại tệ chính thức của Trung Quốc đã lên tới 2132 tỷ đơ la Mỹ vào
cuối tháng 6. Nó được thúc đẩy một phần bởi sự hồi sinh dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài, nhằm kiếm lợi từ tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc. Các nhà kinh tế
học dự tính khoản “tiền nóng” như vậy đã lên tới 30-50 tỉ đơ la Mỹ trong q 2 vừa qua. December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E |
Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 36 Cùng trong thời gian này, Trung Quốc phải tính tới những chi phí dài hạn. Cũng giống như các nước khác
đang làm với nỗ lực kích cầu của mình, Trung Quốc đang vay mượn từ sự tăng trưởng tương lai để hỗ trợ nền kinh tế hơm nay. Nhưng món nợ cơng khai mà chính
quyền gánh lấy qua việc hỗ trợ các món vay của ngân hàng và tài trợ các dự án ở địa phương đã lớn hơn nhiều lần so với khoản thâm hụt ngân sách chính thức là
3% GDP năm nay. Điều đó làm cho Bắc Kinh cịn rất ít tài chính để kích thích kinh tế thêm nữa khi họ thấy rõ rằng cho vay và đầu tư không thể kéo dài bước đi
cuồng nhiệt của họ. 2.2.2. Chính sách kích cầu của Việt Nam a. Khái quát về chính sách kích cầu ở Việt Nam Chính sách kích cầu ở Việt Nam được đưa ra trong
giai đoạn nền kinh tế thế giới có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất hiện từ đầu năm 2008 và chính thức bùng nổ vào cuối quí 32008 với sự kiện phá sản của Leman Brother ngày 15-9-2008. Cuộc khủng hoảng này đã kéo theo sự suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia phát triển cũng như đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Với nền kinh tế có mức độ hội nhập ngày cảng sâu đối với quốc tế, Việt Nam không tránh khỏi những ảnh hưởng nặng nề của
khủng hoảng kinh tế như đã nói ở phần trên. Trước đó, trong giai đoạn 2007 – 2008, Việt Nam đã phải trải qua một thời kì lạm phát cao, lãi suất có lúc cao đến mức
kỉ lục ( 21%) gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng xấu đến an sinh xã hội. Trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp có hiệu quả (8 nhóm
giải pháp) nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững đồng thời giữ được tốc độ tăng trưởng khá năm 2008
(khoảng 6.7%). Cuối năm 2008, tổng hợp tình hình trong nước cũng như thế giới, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy
giảm kinh tế và thực hiện các kế hoạch kinh tế – xã hội giai đoạn 2008 – 2009. Trong đó, mục tiêu kinh tế của Việt Nam đặt ra trong năm 2009 là GDP tăng 6,5%,
xuất khẩu tăng 13%, đầu tư toàn xã hội đạt 39,5% GDP, lạm phát dưới 15%, thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) 4,82% GDP. December 28, 2009 CHÍNH SÁCH
KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 37 Tuy nhiên, do tình hình có nhiều biến đổi, đến nửa cuối tháng 62009, các mục tiêu này đã được điều chỉnh. Theo Nghị quyết Quốc hội ngày 19-6-2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế được điều chỉnh giảm xuống còn 5%, xuất khẩu
chỉ tăng 3%, CPI tăng dưới 10%, tổng vốn đầu tư tồn xã hội lại khơng điều chỉnh trong khi thâm hụt NSNN được điều chỉnh lên 7% GDP. Để thực hiện các mục tiêu
nêu trên, ngày 11-12-2008, Chính phủ đã có Nghị quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm
an sinh xã hội. Trong đó có 5 nhóm giải pháp chính như sau: - Giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu. - Giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu
dùng. - Giải pháp về chính sách tài chính – tiền tệ. - Giải pháp bảo đảm Ưu điểm Kinh tế Trung Quốc đã tận dụng lần khủng hoảng và suy thối kinh tế tồn cầu
này như một cơ hội để vươn cao hơn. Theo số liệu do Cục Thống kê Trung Quốc công bố sáng 22/10/2009 cho thấy GDP của Trung Quốc trong quý III tăng 8,9% so
với cùng kỳ năm ngoái. Báo cáo cũng cho thấy sản lượng công nghiệp cũng như doanh số bán lẻ của nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới này tăng mạnh trong tháng 9.
Theo như dự báo thì kinh tế Trung Quốc có thể đạt tốc độ tăng trưởng 8,5% trong năm 2009. Xuất khẩu cũng đã phục hồi về mức của đầu năm 2008. Trong khi dự
trữ ngoại hối đạt mức cao chưa từng có là 2300 tỷ USD. Chương trình kích cầu cảu Chính phủ Trung Quốc tạo ra một giai đoạn mới và mạnh mẽ trong hoạt động
xây dựng cơ sở hạ tầng . Những thành cơng này xuất phát phần nhiều từ chính sách kích cầu. Trong khi nhiều quốc gia phản ứng mạnh đối với khủng hoảng để bảo
vệ những điểm yếu trong nền kinh tế của mình. Đối với Trung Quốc thì khác, Chính phủ đã tận dụng cơ hội thời khủng hoảng này để đưa nền kinh tế tiến xa hơn.
Trong khi nhiều quốc gia bước vào thời khủng hoảng với rất ít sự chuẩn bị, Chính phủ các nước đã chi tiêu quá nhiều và chịu mức thâm hụt ngân sách cao nên khi
tăng chi tiêu để cứu nền kinh tế thì thâm hụt càng phình ra to hơn. Cịn với Trung Quốc thì hồn tồn khác, sự thặng dư ngân sách và trước đó đã tăng lãi suất để
hạ nhiệt tăng trưởng. Các ngân hàng của Trung Quốc cũng đã hạn chế cho vay tiêu dùng và ghìm bớt tốc độ tăng December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU
CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 35 trưởng tín dụng . Cho nên khi mà khủng hoảng xảy ra thì Chính phủ Trung
Quốc có thể áp dụng các chính sách thơng thường để kích thích tăng trưởng trở lại, như hạ lãi suất, tăng chi tiêu chính phủ, nới lỏng tín dụng, kích thích người tiêu
dùng chi tiêu… Gói kích cầu của Trung Quốc lần này đã ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Trong
những thập kỷ trước, Trung Quốc đã xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho các thành phố lớn nhất của mình thì nay họ xây dựng các cơ sở hạ tầng ở những thành
phố nhỏ hơn. Vậy ưu điểm của chính sách kích cầu của Trung Quốc là mặc dù những chính sách ấy khơng q đặc sắc, khơng mới nhưng họ đã biết tính tốn, lên
danh mục những chỗ nào cần phải tác động vào rất cụ thể. g kỳ. Trong 4000 tỷ NDT thì có 1180 tỷ NDT đầu tư chính phủ tức là trong quý IV năm 2008 sẽ giải ngân
khoảng 100 tỷ NDT, năm 2009 khoảng 500 tỷ NDT và năm 2010 khoảng 580 tỷ NDT. Số vốn kích cầu này sẽ chia theo hai hướng đầu tư: - Một là đầu tư cơng ích
vào các cơng trình dân sinh, y tế, giáo dục, cơng trình xã hội, chủ yếu là từ nguồn 1180 tỷ NDT được huy động từ ngân sách của trung ương và các tỉnh. - Hai là đầu
tư vào cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như hệ thống mạng lưới điện. Quy mô dự án mạng lưới điện thì rất lớn. Đầu tư của Chính phủ thì rất ít vì hạng mục này sẽ giao
cho công ty lưới điện Trung ương đảm trách. Bản thân công ty không cần tiền mà chỉ cần kế hoạch và hỗ trợ của Chính phủ để thực hiện dự án này. Với loại đầu tư
thứ hai này thì tiền đầu tư từ ngân sách chỉ chiếm từ 1-2% tổng đầu tư dự án đó. Các Doanh Nghiệp có thể vay vốn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu cơng ty để
huy động vốn. December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 34 Gói giải pháp
kích cầu này khơng phân biệt đối tượng là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, thậm chí cịn khuyến khích và đặt trọng
tâm lớn hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ sẽ dựa vào tình hình thực tế cả ở trung ương và ở địa phương, theo đó thì
các dự án dân sinh nằm trong quy hoạch, hoặc đã lên kế hoạch đầu tư mà chưa thực hiện được thì sẽ được ưu tiên thực hiện trước. Cách làm này sẽ ngăn ngừa
khả năng do khẩn cấp đầu tư sẽ có quyết định, phương hướng đầu tư vội vàng, thiếu chuẩn xác. an sinh xã hội. - Hoãn thời điểm thi hành Luật Thuế thu nhập cá
nhân. Trong các giải pháp này, Chính phủ chủ trương đẩy mạnh giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu Dùng tiền ngân sách, trái phiếu và vốn ODA kích cầu
là một phần trong gói giải pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng trong bối cảnh nhiều nền
kinh tế lớn trên thế giới lâm vào suy thoái. Đã có nhiều kiến nghị đề xuất các giải pháp kích cầu theo những góc độ khác nhau. Làm
thế nào để sử dụng những giải pháp kích cầu đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất đang là bài tốn rất khó, cần được nghiên cứu
nhiều mặt để có lời giải tối ưu nhất.
1 - Một số tiêu chí đối với sự lựa chọn đối tác kích cầu
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế - xã hội là thước đo đầu tiên trong phân bổ gói kích cầu. Biểu hiện của tiêu chuẩn hiệu quả, một mặt, tăng của
cải vật chất hữu ích cho xã hội, tăng GDP cho nền kinh tế quốc dân, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho doanh
nghiệp và nhất là cho người dân; mặt khác, có tác dụng lan tỏa nhanh, thúc đẩy các cân đối vĩ mô, giảm nhập siêu, giảm bội chi ngân sách,
tạo tiền đề cho cải cách thể chế, xóa bỏ độc quyền của một số doanh nghiệp, thực hiện công bằng xã hội, tái cơ cấu nền kinh tế phù hợp với
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Thứ hai, kích cầu phải có trọng tâm, trọng điểm, khơng rải mành mành theo lối bình quân chủ nghĩa, phân tán, manh mún.., nhưng cũng
khơng để xảy ra tình trạng “nước chảy chỗ trũng” hoặc tái diễn tình trạng “xin - cho”, “chạy” dự án để được ưu tiên vốn hoặc lãi suất kích cầu.
Theo yêu cầu này, các lĩnh vực trọng tâm cần ưu tiên kích cầu là những lĩnh vực có độ lan tỏa nhanh và lĩnh vực sử dụng nhiều lao động,
ngành và vùng nghèo, yếu thế, luôn gặp khó khăn vì thiếu vốn nhưng nhiều tiềm năng phát triển. Với tiêu chí này, trọng tâm ưu tiên kích cầu
hiện nay là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo Trung tâm Nghiên cứu kinh
tế và chính sách (Trường đại học Kinh tế thuộc Đại học quốc gia Hà Nội), 3 lĩnh vực có độ lan tỏa nhanh là: chế biến lương thực, thực phẩm,
chế biến hàng hóa tiêu dùng và chế biến nguyên liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu.
Thứ ba, kích cầu phải phát huy tác dụng nhanh. Gói kích cầu mang tính ngắn hạn nên tiêu chí thời gian phát huy tác dụng rất quan trọng.
Nếu thời gian để triển khai các dự án kích cầu càng dài thì ý nghĩa và tác dụng của kích cầu càng giảm.
Thứ tư, hiệu quả của gói kích cầu của Chính phủ phải đến được từng người dân, không phân biệt giàu nghèo, nhưng trước hết là các đối
tượng bị tổn thương nhiều trong khủng hoảng kinh tế, tầng lớp dân nghèo, yếu thế ở khu vực nơng thơn, lao động thất nghiệp.
Thứ năm, kích cầu được triển khai đồng bộ trên cả 2 góc độ sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất và dịch vụ làm tăng cung sản phẩm, còn tiêu
dùng của người dân và Nhà nước tăng cầu hàng hóa và dịch vụ. ở Việt Nam, vai trò của sản xuất và tiêu dùng trong cơ cấu GDP rất quan
trọng, nên muốn tăng trưởng kinh tế bền vững nhất thiết phải quan tâm đến cả 2 mặt sản xuất và tiêu dùng.
2 - Một số giải pháp kích cầu hiện nay ở nước ta
Trên thực tế, bất cứ một giải pháp kích cầu tầm vĩ mô nào cũng xoay quanh 2 trục sản xuất và tiêu dùng, đều có những ưu điểm và nhược
điểm, thậm chí trong nhiều trường hợp người ta khơng thể chọn lựa cái tốt nhất mà bắt buộc phải chọn lựa giải pháp ít xấu hơn. Dưới đây,
chúng tơi xin đề xuất một số suy nghĩ bước đầu về giải pháp thuộc 2 nhóm kích cầu sản xuất và kích cầu tiêu dùng nhằm giải quyết “đầu vào”
và “đầu ra” của sản phẩm hàng hóa gắn với lao động, việc làm và thu nhập của dân cư trong thời kỳ suy giảm kinh tế tồn cầu.
Về nhóm kích cầu sản xuất
Một là: Tập trung mọi nguồn lực tài chính đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, mở rộng dịch
vụ theo hướng tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Nguồn lực quan trọng nhất là vốn để đầu tư cho các ngành kinh
tế, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất, kinh doanh dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ. Do vậy, kích cầu bằng giải pháp đầu tư trực tiếp và
gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất ngân hàng là giải pháp quan trọng hàng đầu của Nhà nước. Trong kích cầu đầu tư, nguồn tiền sẽ được
trích từ ngân sách nhà nước về xây dựng cơ bản hằng năm, trái phiếu Chính phủ và vốn ODA. Khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh
nghiệp tham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng kết cấu hạ tầng, giao
thông vận tải, điện, xi-măng...
Hai là: Triển khai sớm chủ trương hỗ trợ lãi suất 4%/ năm của Chính phủ đối với các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại.
Hỗ trợ lãi suất vốn vay trong chương trình kích cầu nên ưu tiên cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tạo thêm nhiều việc làm,
thu hút nhiều lao động đang thất nghiệp hoặc lao động dư thừa ở khu vực nông thôn vốn đang thiếu việc làm nghiêm trọng do tác động trực
tiếp của suy thối kinh tế tồn cầu.
Để làm được mỗi ki-lơ-met đường, vốn đầu tư có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỉ đồng. Chính vì quy mơ lớn như vậy nên
nhiều chun gia kinh tế đã cho rằng, đẩy mạnh việc đầu tư phát triển đường giao thơng nói riêng, hay kết cấu hạ tầng nói chung là giải pháp
kích cầu hiệu quả vào lúc này. Hiện nay, có tới 80% nguyên vật liệu để làm đường đều được sử dụng trong nước. Đồng thời, hàng nghìn lao
động và nhiều ngành hàng dịch vụ khác cũng sẽ được huy động.
Các doanh nghiệp toàn quyền quyết định vốn vay để sản xuất, kinh doanh sao cho hiệu quả nhất (tức cũng có lợi cho nền kinh tế). Nhà
nước chỉ hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay nằm trong danh mục được hỗ trợ (hoặc nằm ngồi danh mục khơng được hỗ trợ) trong ý nghĩa là
giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính với mục tiêu khuyến khích họ tiếp tục duy trì sản xuất, kinh doanh.
Ba là: Tập trung cao độ cho những ngành và lĩnh vực yếu thế nhưng cịn nhiều tiềm năng phát triển tồn diện, tăng trưởng cao, hấp thụ
vốn nhanh, trước hết là nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Tăng cường và ưu tiên kích cầu cho nơng nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cũng là một hướng cần
ưu tiên cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất tín dụng. Khu vực nơng thơn, nơng nghiệp, thủy sản chiếm hơn 70%
dân số và lao động xã hội. Đây cũng là khu vực ít chịu tác động trực tiếp của cc khủng hoảng kinh tế tồn cầu, nên nếu được ưu tiên đầu
tư thỏa đáng sẽ có bước phát triển mới, không chỉ tăng nhanh nông sản hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, tăng giá trị GDP
bù đắp phần nào cho sự giảm sút từ cơng nghiệp và dịch vụ, mà cịn tạo thêm chỗ làm mới để thu hút lao động thất nghiệp (khoảng 600
nghìn người) từ thành phố, từ các khu cơng nghiệp trở về nơng thơn làm việc.
Các cơng trình cần ưu tiên là: xây dựng nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn như đường giao thông, điện, các cơng trình thủy lợi lớn, hệ
thống kênh mương, cơng trình chống úng, ngập, hệ thống đê sông, đê biển, hỗ trợ ngư dân mua sắm tàu thuyền đánh bắt thủy sản xa bờ,
nuôi trồng thủy sản xuất khẩu, hỗ trợ nâng cấp các trạm, trại thực nghiệm, trợ cấp các doanh nghiệp xuất khẩu nơng sản, nhập khẩu phân
bón vật tư nông nghiệp, thức ăn cho chăn nuôi để tăng nhanh chất lượng và giảm giá thành nông sản hàng hóa nói chung, nơng sản xuất
khẩu nói riêng. Thực tế tình hình năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009 cho thấy, tập trung cho nông nghiệp cả về vốn và cơ chế, chính sách là
giải pháp kinh tế có hiệu quả cao để nước ta đứng vững trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2008, trong khi GDP của công
nghiệp và dịch vụ giảm mạnh so năm 2007 thì GDP của khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tăng 3,8% so với 3,4% của năm 2007.
Sản xuất trồng trọt cả năm được mùa khá toàn diện, nhất là sản xuất lúa. Sản lượng lúa cả năm đạt 38,6 triệu tấn, tăng 2,5 triệu tấn so với
năm 2007. Nếu tính cả 4,5 triệu tấn ngơ, sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 43,63 triệu tấn tăng 3,1 triệu tấn (7,5%) so năm 2007
và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Lương thực bình quân nhân khẩu năm 2008 đạt 491 kg, tăng 4,6% so năm 2007 (469,5kg) dù dân số
tăng thêm 1,2 triệu người. Kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản năm 2008 vẫn đạt trên 15,5 tỉ USD.
Bối cảnh năm 2009 tuy có nhiều yếu tố tác động khó lường, song triển vọng sản xuất nông nghiệp Việt Nam tiếp tục phát triển và tăng
trưởng ổn định. Dự báo tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn đạt trên 5,5%. Sản lượng lương thực sẽ đạt cao hơn năm 2008
do giá lương thực, thực phẩm thế giới vẫn đứng ở mức cao, nhu cầu gạo thế giới vẫn tăng bất chấp khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng.
Khủng hoảng kinh tế có thể kéo theo khủng hoảng về cung - cầu lương thực, thực phẩm, tăng hộ nghèo, dân cư sẽ giảm tiêu dùng hàng xa
xỉ, tăng cầu lương thực, thực phẩm thiết yếu. Bằng chứng là 2 tháng đầu năm nay, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đạt gần 1 triệu tấn,
tăng 103,6% về lượng và tăng 13,2% về kim ngạch so năm 2007. Với xu hướng này, cả năm Việt Nam có thể xuất khẩu trên 5 triệu tấn gạo.
Đối với một nước nông nghiệp như nước ta, để hạn chế tác động của khủng hoảng kinh tế tồn cầu, duy trì tăng trưởng kinh tế, phát triển
bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, nông dân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa
X về nơng nghiệp, nơng dân và nơng thôn là cơ hội để nông nghiệp tăng tốc, nông dân có điều kiện tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp.
Kết quả bước đầu của sản xuất nông nghiệp 2 tháng đầu năm 2009 cho thấy, tuy công nghiệp và dịch vụ suy giảm, nhưng tốc độ tăng trưởng
của nông nghiệp vẫn ổn định. Vụ lúa đông - xuân ở đồng bằng sông Cửu Long được mùa và được cả giá... Sản lượng lương thực cả năm có
khả năng đạt trên 44,2 triệu tấn, tăng hơn 1 triệu tấn so năm 2008.
Để biến triển vọng thành hiện thực, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường đầu tư vốn, khoa học - công nghệ và mở rộng thị
trường xuất khẩu nơng sản thơng qua gói kích cầu của Chính phủ. Mọi giải pháp kích cầu trong nơng thơn đều phải nhằm mục đích chủ yếu:
phát triển nơng nghiệp hàng hóa sạch, bảo vệ mơi trường sinh thái, tạo việc làm mới và tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng.
Bốn là: Tăng cường sự phối hợp của các bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong chỉ đạo, triển khai các biện pháp kích cầu của
Chính phủ cho sản xuất, dịch vụ. Các giải pháp trước mắt là: Các bộ, ngành quan liên quan rà sốt lại tồn bộ các văn bản pháp luật hiện
hành về đầu tư, sửa đổi những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư kích cầu. Đối với các cơng trình, dự án sử dụng nguồn
vốn ngân sách nhà nước, cần tiếp tục giải ngân số vốn còn lại của năm 2008. Đối với các dự án, cơng trình quan trọng, cấp bách nhưng
chưa bố trí được nguồn vốn, trong đó có dự án tái định cư các khu kinh tế, các bộ, ngành, địa phương, các chủ đầu tư khẩn trương hoàn
thành các thủ tục đầu tư để xử lý nguồn vốn, kể cả việc tạm ứng ngân sách nhà nước để thực hiện. Nghiên cứu, ban hành các văn bản pháp
quy mới nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, các
dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết việc làm, các dự án cơng trình có quy mơ
lớn... tiếp cận nguồn vốn giải phóng mặt bằng lãi suất kích cầu của Chính phủ...
Về nhóm kích cầu tiêu dùng
Kinh nghiệm các nước cho thấy, kích cầu tiêu dùng là một trong 2 nhóm giải pháp quan trọng để hạn chế tác động của suy thối kinh tế.
Nhóm giải pháp đó được thực hiện bằng nhiều giải pháp cụ thể đem lại lợi ích tức thời cho người dân cũng như tạo “đầu ra” cho sản xuất,
dịch vụ. ở các nước phát triển, kích cầu tiêu dùng được thực hiện bằng các giải pháp: miễn giảm thuế cho người nghèo, cho người nghèo
vay mua nhà trả góp với lãi suất ưu đãi, bồi hoàn thuế thu nhập cá nhân, giảm giá hàng tiêu dùng.. ở các nước đang phát triển, các giải pháp
kích cầu tiêu dùng cũng rất đa dạng và thiết thực đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Trợ giá dân cư mua hàng hóa gia dụng, giảm giá
hàng hóa, dịch vụ, du lịch, vui chơi, giải trí, mở rộng hệ thống bán lẻ hàng hóa.
Năm 2009, Chính phủ Trung Quốc chi 20 tỉ nhân dân tệ (2,9 tỉ USD) hỗ trợ nông dân mua hàng điện tử gia dụng. Đây là một phần của kế
hoạch kích cầu trong nước với mục tiêu đạt mức doanh thu 150 tỉ NDT (22 tỉ USD) từ bán hàng điện tử gia dụng ở khu vực nông thơn. Khủng
hoảng tài chính tồn cầu đã ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu khiến Trung Quốc phải hướng trọng tâm tiêu thụ hàng hóa vào thị trường
trong nước, đặc biệt là khu vực nông thôn. Để đạt được mục tiêu chuyển hướng này, thời gian qua, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định trợ
giá cho nông dân và nâng cấp hệ thống bán lẻ ở vùng nông thôn. Trong năm 2009, Trung Quốc có kế hoạch lập thêm 150.000 cửa hàng bán
lẻ, xây dựng 1.000 trung tâm phân phối hàng hóa và 200 khu chợ bán bn nhằm hồn thiện hệ thống bán hàng tại khu vực nông thôn, tạo
điều kiện cho người nông dân mua được các sản phẩm đạt chất lượng và đúng giá. Hiện tại, Trung Quốc đó có 260.000 cửa hàng bán lẻ trên
toàn quốc. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống bán hàng ở khu vực nơng thơn, Trung Quốc ước tính sẽ tạo được trên 1 triệu việc làm mới cho
người lao động.
Ở Việt Nam, tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình ln được Đảng và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển theo
xu hướng nhanh và bền vững. Tuy nhiên, trong khi sức cầu tiêu dùng của dân cư đang ở mức rất thấp bởi tâm lý lo ngại về suy thoái kinh tế
diễn ra khắp mọi nơi, càng dẫn đến việc người dân găm giữ các tài sản có giá, tiết kiệm chi tiêu. Hệ quả là, dù hàng hóa có rẻ đến mấy,
doanh số và sản lượng bán ra của nhiều doanh nghiệp thương mại vẫn không tăng. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 2008 chỉ tăng 6,5%
(đã trừ yếu tố trượt giá do lạm phát), 2 tháng đầu năm 2009 cũng tăng rất chậm. Thực tế và khả năng chấp nhận chi trả của người dân cũng
thấp và sức mua này vẫn còn một khoảng cách khá xa so với tiềm năng thị trường. Vì vậy, kích cầu tiêu dùng hiện nay ở nước ta có thể và
cần thiết phải có các giải pháp thích hợp:
Một là: Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành liên quan cần thực hiện các biện pháp phát triển mạng lưới phân phối, mở rộng hệ
thống bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu, vùng xa để tạo điều kiện thuận lợi cung cấp các mặt hàng vật tư tiêu dùng
thiết yếu. Tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt hàng điện, than, nước sạch, cước vận chuyển xe buýt.. nhưng bảo
đảm nguyên tắc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và doanh nghiệp. Xây dựng đề án phát triển hệ
thống phân phối các mặt hàng thiết yếu, trong đó tập trung các mặt hàng lương thực, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi-măng và thuốc chữa
bệnh; chống gian lận, đầu cơ, gây mất ổn định thị trường. Tăng cường các biện pháp quản lý thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa...; xử lý
nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là kinh doanh trái phép, trốn thuế, liên kết độc quyền...
Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các đợt hạ giá bán hàng hóa và dịch vụ du lịch, vận tải hành khách, hàng hóa để kích thích tiêu
dùng, liên tục trong năm, không phân biệt ngày lễ hay ngày thường.
Hai là: Để kích cầu tiêu dùng một cách thiết thực đối với toàn xã hội, nên chăng cần nghiên cứu lùi thời hạn thực hiện Luật Thuế thu nhập
cá nhân, tạm thời miễn thuế VAT đối với một số hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước. Giải pháp này tuy có ảnh hưởng nhất định đến
giảm nguồn thu ngân sách nhà nước, song lại có tác dụng tích cực đối với yêu cầu kích thích sản xuất và tăng sức mua của dân cư, kích cầu
tiêu dùng nhanh và hiệu quả. Việc hỗ trợ lãi suất 4%/năm của Chính phủ đang triển khai có thể giúp kéo được phần nào giá thành sản phẩm
của nhiều hàng hóa, dịch vụ xuống thấp. Song, sức mua của người dân lại phụ thuộc lớn vào thu nhập thực tế của họ, ngân sách gia đình
nên miễn giảm thuế cũng là một giải pháp tương tự như tăng tiền lương tối thiểu có tác dụng kích thích tiêu dùng trong bối cảnh chưa thực
hiện cải cách tiền lương.
Ba là: Nghiên cứu kích cầu tiêu dùng khu vực nhà nước. Chính phủ cũng nên là một đối tượng tiêu dùng để kích cầu tiêu dùng. Tiêu dùng
của xã hội luôn gắn chặt với tiêu dùng của Chính phủ. Bởi vậy, trong giai đoạn khó khăn, chi tiêu của Chính phủ càng cần thiết, có thể sẽ tạo
ra cơng ăn việc làm, kéo theo nhiều ngành hàng dịch vụ phát triển theo, nhiều cơng trình hạ tầng được xây dựng. Tựu trung là đẩy mạnh
được nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cho nhiều lĩnh vực, điển hình là xi-măng, sắt thép, vận tải, lương cho người lao động... Chính phủ cần tăng
thẩm quyền quyết định đầu tư trong việc thực thi quyền chỉ định thầu, hoặc đấu thầu đối với từng loại công trình: giáo dục, y tế, phúc lợi xã
hội, giao thơng nơng thơn, chương trình xóa đói, giảm nghèo, an ninh quốc phòng...
Bốn là: Tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ đến những thị trường cịn tiềm năng, những mặt hàng Việt Nam có thế
mạnh như nông sản với giá cả hợp lý trong giai đoạn hiện nay. Song song với kích cầu tiêu dùng trong nước, cần mở rộng thị trường xuất
khẩu ra thị trường các nước ít chịu ảnh hưởng của suy thối kinh tế như Trung Quốc, các nước châu á, châu Phi, Trung Đơng... Trung Quốc
là thị trường lớn, lại có trên 1.000 km đường biên giới chung với Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu năm 2008 hơn 1.000 tỉ USD, trong đó có
4.536 triệu USD từ Việt Nam (xuất khẩu sang Việt Nam là 15,65 tỉ USD). Năm 2009, Trung Quốc đặt kế hoạch đạt tăng trưởng kinh tế 8%,
gói kích cầu gần 600 tỉ USD. Vì vậy, theo dự báo tác động của khủng hoảng kinh tế đối với Trung Quốc không nghiêm trọng như các nước
Âu - Mỹ. Năm 2008 nhiều mặt hàng Việt Nam đã chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc, như cao su hơn 1 tỉ USD, than đá 742 triệu USD, dầu thô
603 triệu USD, máy vi tinh và linh kiện 274 triệu USD. Nhu cầu các mặt hàng này hiện vẫn còn rất cần với Trung Quốc và Việt Nam lại có
nhiều tiềm năng. Các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là hàng cơng nghiệp mà Việt Nam có khả năng sản xuất với giá cạnh
tranh. Do đó phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc theo hướng tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm nhập khẩu bằng sản xuất
và tiêu dùng hàng công nghiệp trong nước để giảm nhập siêu (năm 2008 Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc trên 11,1 tỉ USD) là giải pháp
quan trọng để góp phần ổn định kinh tế vĩ mơ như tiêu chí kích cầu của Chính phủ. Mở rộng thị trường xuất khẩu gạo sang Phi-lip-pin, In-đônê-xi-a cũng là giải pháp có tính khả thi vì nhu cầu lương thực của những nước này năm 2009 dự báo sẽ tăng so 2008. Giải pháp để mở
rộng thị trường xuất khẩu, giảm nhập khẩu là các ngành, doanh nghiệp sản xuất trong nước cần nhanh chóng đổi mới mẫu mã, quy trình
cơng nghệ, ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học - kỹ thuật để tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, giảm chi phí trung gian, từ đó tăng
sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Năm là: Sớm triển khai chương trình của Chính phủ về “Xây dựng nhà ở xã hội giai đoạn 2009 - 2015”. Đây cũng là một hướng ưu tiên
kích cầu cả sản xuất cũng như tiêu dùng của dân cư cần được quan tâm trong hỗ trợ lãi suất tín dụng và giải quyết quỹ đất và các thủ tục
hành chính. Nhu cầu nhà ở đối với những người có thu nhập trung bình và thấp cịn rất lớn trong khi điều kiện hiện nay lại rất thuận lợi do giá
vật liệu xây dựng giảm, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công thấp. Với giá khoảng 500 - 600 triệu đồng/căn hộ như dự kiến của Bộ Xây
dựng, chắc chắn đối tượng mua nhà sẽ tăng lên và sức mua của thị trường nhà sẽ tăng theo, thị trường bất động sản nói chung sẽ sơi động,
thu hút mạnh tiền nhàn rỗi của dân cư. Đây tuy là giải pháp kích cầu tiêu dùng nhưng lại có tác động trực tiếp đến kích cầu sản xuất vật liệu
xây dựng, cơ khí, tạo hàng triệu việc làm mới cho xã hội, nhất là lao động thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế gây ra, đồng thời giải quyết
được một phần nhu cầu nhà ở cho các hộ nghèo, cán bộ, cơng chức nhà nước có thu nhập thấp. Đây là thời cơ tốt để thực hiện chính sách
đầu tư xây dựng nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp, các cơng trình nhà ở xã hội trên phạm vi cả nước.
Source: Tạp chí Cộng sản
Author: PGS.TS. Minh Hồi
EmailSavePrintWrite Commnet
Relation news
Important advances after two years entering WTO
[05/05/2009 00:00]
Commercial banks rushing to push interest rates over 9%
Exports tumble 15 points
[05/05/2009 00:00]
[05/05/2009 00:00]
Cần tính tới kịch bản phục hồi kinh tế
[05/05/2009 00:00]
Giá vàng, giá dầu đồng loạt leo thang mạnh
[05/05/2009 00:00]
dùng vì như thế sẽ tháo gỡ được “nút thắt” của nền kinh tế hiện tại đồng thời có thể