ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU VIỆT
VAI TRß CủA LựC LƯợNG CÔNG AN NHÂN DÂN
TRONG PHòNG, CHốNG THAM NHũNG,
Từ THựC TIễN CÔNG AN TỉNH HảI DƯƠNG
LUN VN THC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU VIỆT
VAI TRß CủA LựC LƯợNG CÔNG AN NHÂN DÂN
TRONG PHòNG, CHốNG THAM NHũNG,
Từ THựC TIễN CÔNG AN TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Lut Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hữu Việt
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG VÀ
VAI TRỊ CỦA LỰC LƢỢNG CƠNG AN NHÂN DÂN TRONG
PHỊNG, CHỐNG THAM NHŨNG .............................................................8
1.1.
Hành vi tham nhũng và phòng, chống tham nhũng ....................... 8
1.1.1. Khái niệm tham nhũng và tác hại của tham nhũng .............................. 8
1.1.2. Tác hại của hành vi tham nhũng ........................................................ 14
1.2.
Vị trí, vai trị của cơng an nhân dân trong phòng, chống
tham nhũng ....................................................................................... 17
1.2.1. Khái quát về vị trí và vai trị của cơng an nhân dân ........................... 17
1.2.2. Khái quát chung về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng.............. 20
1.2.3. Vai trò của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham
nhũng thông qua hoạt động trong xử lý kỷ luật ................................. 25
1.2.4.
Vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham
nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý hình sự đối với hành vi
tham nhũng ......................................................................................... 28
1.2.5. Vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong trong phịng, chống
tham nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý dân sự đối với hành
vi tham nhũng ..................................................................................... 33
1.3.
Các yếu tố ảnh hƣởng thực hiện vai trò của lực lƣợng cơng an
nhân dân trong phịng, chống tham nhũng.................................... 35
1.3.1. Yếu tố pháp luật ................................................................................. 35
1.3.2. Yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ........................................... 36
1.3.3. Yếu tố con ngƣời ................................................................................ 38
1.3.4. Yếu tố về cơ sở vật chất, khoa học – công nghệ ................................ 39
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 40
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN VAI TRÒ
CỦA LỰC LƢỢNG CƠNG AN NHÂN DÂN TRONG PHỊNG,
CHỐNG THAM NHŨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG ...... 42
2.1.
Các quy định của pháp luật của Việt Nam về phòng, chống
tham nhũng ....................................................................................... 42
2.1.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham
nhũng ở Việt Nam .............................................................................. 42
2.1.2. Các hành vi tham nhũng theo quy định pháp luật Việt Nam ............. 44
2.1.3. Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp kỷ luật nhà nƣớc ............ 47
2.1.4. Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp hình sự ........................... 48
2.1.5. Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp dân sự............................. 52
2.2.
Các quy định của pháp luật về vai trị của lực lƣợng cơng an
nhân dân trong phịng, chống tham nhũng.................................... 53
2.2.1. Vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham
nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý tham nhũng bằng biện
pháp kỷ luật ........................................................................................ 53
2.2.2. Vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham
nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý hình sự ................................ 56
2.2.3. Vai trị của lực lƣợng công an nhân dân thông qua hoạt động
trong xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp dân sự .................... 64
2.3.
Thực trạng tham những và thực tiễn thực hiện vai trị của lực
lƣợng Cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng ........................................................... 65
2.3.1. Thực trạng tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng ........................ 65
2.3.2. Thực hiện vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phòng,
chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng .................................. 67
2.3.3. Các nguyên nhân của một số hạn chế trong thực hiện vai trị của
lực lƣợng cơng an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên
địa bàn tỉnh Hải Dƣơng ...................................................................... 73
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 82
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LỰC LƢỢNG
CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG XỬ LÝ HÀNH VI THAM
NHŨNG ............................................................................................. 83
3.1.
3.1.1.
3.1.2.
3.1.3.
3.1.4.
Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trị
của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống nhũng ....... 83
Hồn thiện các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý đối
với hành vi tham nhũng thuộc thẩm quyền của Công an ................... 83
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trị của lực lƣợng
cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng trong trƣờng
hợp xử lý kỷ luật ngƣời có chức vụ, quyền hạn ................................. 85
Hồn thiện các quy định của pháp luật về vai trị của lực lƣợng
cơng an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng bằng biện
pháp hình sự ....................................................................................... 87
Hồn thiện các quy định của pháp luật về vai trị của lực lƣợng
cơng an nhân trong phòng, chống tham nhũng bằng biện pháp
dân sự.................................................................................................. 93
Các giải pháp khác nhằm nâng cao vai trò của lực lƣợng Cơng
an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng trên địa bàn
tỉnh Hải Dƣơng ................................................................................. 94
3.2.1. Kiện tồn lực lƣợng cơng an tham gia phòng, chống, xử lý hành
vi tham nhũng ..................................................................................... 94
3.2.2. Hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và cơng nghệ có liên
quan đến cơng tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng ................ 97
3.2.3. Nâng cao ý thức pháp luật của toàn thể cán bộ, cơng chức, các cơ
quan nhà nƣớc trong phịng, chống tham nhũng ................................ 97
3.2.4. Nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo điều kiện để quần chúng nhân
dân tham gia phát hiện và đấu tránh với hành vi tham nhũng ......... 100
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3................................................................................ 102
3.2.
KẾT LUẬN .................................................................................................. 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 106
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phịng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà
Đảng và Nhà nƣớc ta đang quyết tâm thực hiện nhằm từng bƣớc đẩy lùi tham
nhũng. Trong cuộc đấu tranh phịng, chống tham nhũng, lực lƣợng cơng an
nhân dân là một trong những lực lƣợng nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham
nhũng. Trong những năm qua, các đại án tham nhũng đƣợc đƣa ra ánh sáng và
xử lý ln có đóng góp quan trọng, có tính quyết định của lực lƣợng công an
nhân dân, đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta cùng quần chúng nhân dân tin tƣởng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, đấu tranh phòng,
chống tham nhũng đã bộc lộ một số vƣớng mắc làm giảm hiệu quả phát hiện,
xử lý tham nhũng của lực lƣợng công an nhân dân. Hiện nay vẫn chƣa có
Nghị định quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi tham nhũng.
Ngồi ra, các quy định về thời hạn giải quyết tố giác tội phạm, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố còn quá ngắn chƣa phù hợp với tính chất phức tạp
của các vụ án tham nhũng. Tƣơng tự nhƣ vậy, các quy định về thời hạn điều
tra cũng quá ngắn không đủ để làm rõ triệt để sự thật khách quan trong các vụ
án tham nhũng. Đồng thời, những vƣớng mắc trong các quy định về giám
định cũng ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả xử lý hành vi tham nhũng.
Bên cạnh đó, những yếu tố khác nhƣ quân số mỏng, năng lực của một
bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế, cơ sở hạ
tầng, phƣơng tiện kỹ thuật, cơng nghệ cịn nhiều hạn chế và những hạn chế
khác cũng ảnh hƣởng đến đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Thực tiễn phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng của
lực lƣợng công an còn vƣớng mắc về pháp luật, hạn chế trong phối hợp giữa
1
các lực lƣợng. Xuất phát từ thực tiễn đó học viên lựa chọn đề tài: “Vai trị của
lực lượng Cơng an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, từ thực tiễn
Công an tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có một số cơng trình nghiên cứu về tham nhũng và các
tội phạm tham nhũng, nhƣ:
Viện Khoa học Thanh tra (2011), Tài liệu bồi dưỡng về phòng, chống
tham nhũng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật: Đây là tài liệu bồi
dƣỡng cho các giáo viên trƣờng đại học, cao đẳng và trung học các kiến thức
về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng. Cuốn sách này đã làm rõ và có
hệ thống những vấn đề cơ bản về tham nhũng; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về phòng, chống tham nhũng; các giải pháp
phòng, chống tham nhũng.
Nguyễn Văn Giang (2018), Nhận diện tham nhũng trong công tác cán bộ,
Tạp chí Cộng sản, (911): Bài viết này đƣa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về việc nhận diện đúng tham nhũng trong công tác cán bộ. Từ đó, tác giả đƣa ra
một số đề xuất nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng trong cơng tác cán bộ.
Trần Huy Đức (2019), Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận án tiến sĩ luật học,
Học viện Khoa học xã hội: Luận án đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
tôi phạm tham nhũng và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự
về tội phạm tham nhũng ở Đà Nẵng. Qua đó, luận án đã đƣa ra một số giải
pháp nhƣ: bổ sung thêm các tội danh vào nhóm tội phạm tham nhũng; hoàn
thiện các quy định nhắm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó, luận án
cũng đề xuất một số giải pháp khác nhƣ tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng.
2
Bùi Đình Tiến, Tham nhũng trong cơng ước tội phạm có tổ chức
xun quốc gia và vấn đề hồn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà
nƣớc và Pháp luật, (6). Bài viết tập trung phân tích và so sánh các quy định
về tội phạm tham nhũng trong khu vực cơng tại Cơng ƣớc chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp quốc với các quy định tƣơng ứng
trong Bộ luật hình sự của nƣớc ta. Từ đó, bài viết đƣa ra một số định hƣớng
nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự của nƣớc ta về
các tội phạm tham nhũng.
Nguyễn Thanh Bình (2017), Phịng chống tham ơ, tham nhũng thời Lê
sơ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (5). Bài viết đã phân tích và làm rõ
các quy định trong bộ Quốc triều hình luật về phịng, chống tham nhũng. Từ
đó, bài viết đúc rút ra một số bài học kinh nghiệm cho cơng tác phịng, chống
tham nhũng ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Theo đó bài cho rằng cần phải
coi tham nhũng là loại tội phạm nguy hiểm nhất và cần phải đƣợc ngăn chặn,
trừng trị kip thời và nghiêm khắc.
Nguyễn Thị Thanh Dung (2019), Kinh nghiệm phịng, chống tham
nhũng của Hàn Quốc, Tạp chí Lý luận Chính trị, (1): Bài viết phân tích một
số kinh nghiệm quý báu của Hàn Quốc trong phòng, chống tham nhũng, nhƣ:
cam kết chính trị mạnh mẽ, quyết liệt của Chính phủ; thành lập cơ quan
phịng chống tham nhũng hiệu lực, hiệu quả; hành chính cơng vụ minh bạch,
tinh gọn, hiệu quả; nhiều cải cách nhƣ cải cách chế độ tiền lƣơng; cải cách
trong mua sắm công,…
Cầm Thị Lai (2018), Kinh nghiệm từ sách lược phòng, chống tham
nhũng của Trung Quốc, Tạp chí Lý luận chính trị, (12).: Bài viết phân tích
những sách lƣợc phịng, chống tham nhũng rất quyết liệt của Trung Quốc: (1)
làm cho không dám tham nhũng; và (2) làm cho không cần tham nhũng.
3
Đồng thời cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu về xử lý hành vi
tham nhũng:
Trần Đức Hiển & Vũ Thanh Tùng (2015), Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng của lực
lượng công an nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, (24): Đây là một trong số ít bài
viết trực tiếp về vấn đề phát hiện và xử lý tham nhũng. Trong bài này, các tác
giả cũng đã chỉ ra những kết quả đạt đƣợc trong công tác phát hiện, điều tra
và xử lý tham nhũng. Tuy nhiên, khơng thể phủ nhận những khó khăn, vƣớng
mắc, nhất định. Các tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của những khó
khăn này, nhƣ: sự tinh vi, xảo quyết của các đối tƣợng có hành vi tham
nhũng; nhiều vƣớng mắc của pháp luật gây khó khăn cho cơng tác phát hiện,
điều tra và xử lý tham nhũng.
Hải Đăng, Những khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong
giải quyết một số vụ án tham nhũng, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số chuyên
đề Thực hiện Luật giám định Tƣ pháp: Bài viết này chỉ ra những khó khăn
vƣớng mắc trong cơng tác trƣng cầu giám định, tiếp nhận trƣng cầu giám
định; khó khăn, vƣớng mắc trong thực hiện giám định; khó khăn vƣớng mắc
trong sử dụng kết quả giám định. Tác giả bài viết cũng chỉ ra những nguyên
nhân của thực trạng này. Trong đó, phần lớn là do còn thiếu nhiều quy định
của pháp luật. Từ đó, tác giả đƣa ra một số kiến nghị, đề xuất.
Trƣơng Minh Mạnh, Đỗ Thành Trƣờng (2015), Giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát, (24).: Bài
viết chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng:
trong nhiều trƣờng hợp mặc dù xác định đƣợc số tiền, tài sản bị tham ô, chiếm
đoạt nhƣng không thu hồi đƣợc; việc thu hồi tài sản thực sự chƣa hiệu quả.
Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là các quy định của pháp luật còn
thiếu đồng bộ; các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự chƣa bao quát hết
đƣợc các khả năng trong thực tiễn;…
4
Các cơng trình này cung cấp những kiến thức lý luận nhất định, cũng
nhƣ cũng chỉ ra đƣợc một số tồn tại, vƣớng mắc trong thực tiễn xử lý hành vi
tham nhũng. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có cơng trình nào nghiên cứu
chun sâu về vai trị của lực lƣợng công an nhân dân trong xử lý hành vi
tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Hải Dƣơng. Vì vậy, luận văn “Vai trị của lực
lƣợng cơng an trong phịng, chống tham nhũng từ thực tiễn Công an tỉnh Hải
Dƣơng” là vấn đề có tính thời sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có mục đích là nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò
của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng, đánh giá
thực tiễn thực hiện vai trị của lực lƣợng cơng an nhân trong phòng, chống
tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng, từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của lực lƣợng cơng an nhân trong phịng,
chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Về lý luận: Luận văn phải làm rõ đƣợc các vấn đề lý luận về vai trị của
lực lƣợng cơng an nhân trong phòng, chống tham nhũng: trong xử lý kỷ luật,
xử lý hình sự, dân sự đối với ngƣời có hành vi tham nhũng.
Về thực tiễn: Luận văn làm rõ những kết quả đạt đƣợc và những tồn tại
trong thực hiện vai trị của lực lƣợng cơng an nhân trong phịng, chống tham
nhũng. Đồng thời, luận văn chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại này.
Luận văn đƣa ra một số giải pháp nhằm hồn thiện pháp luật; nâng cao
vai trị của cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về vai
trị của lực lƣợng cơng an nhân trong phịng, chống tham nhũng và thực tiễn
thực hiện vai trò của lực lƣợng cơng an nhân trong phịng, chống tham nhũng
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
5
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng, về
thời gian: Từ năm 2011 cho đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác –
Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và đƣờng lối, chính sách của Đảng Cộng sản
Việt Nam về phịng, chống tham nhũng và xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Để triển khai đƣợc các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp,
phƣơng pháp thống kê và một số phƣơng pháp khác.
6. Tính mới và những đóng góp của luận văn
Luận văn có một số tính mới và đóng góp nhƣ sau:
Về lý luận: Luận văn làm rõ đƣợc một số vấn đề lý luận về: (1) vai trị
của lực lƣợng cơng an nhân trong phịng chống tham nhũng thông qua hoạt
động trong xử lý kỷ luật đối với hành vi tham nhũng; (2) Vai trò của lực lƣợng
cơng an nhân trong phịng, chống tham nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý
hình sự đối với hành vi tham nhũng; (3) Vai trò của lực lƣợng cơng an nhân
trong phịng, chống tham nhũng thơng qua hoạt động trong xử lý dân sự đối với
hành vi tham nhũng; và (4) Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả thực hiện vai
trị của lực lƣợng cơng an nhân trong phòng, chống tham nhũng.
Về thực tiễn: Luận văn chỉ ra đƣợc những kết quả đạt đƣợc trong thực
tiễn thực hiện vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân trong phòng, chống
tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. Đồng thời luận văn cũng chỉ ra
những mặt tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại này.
Luận văn đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật và một số giải pháp nâng cao vai trị của lực lƣợng cơng an
nhân dân trong phòng, chống tham nhũng.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có kết cấu 03 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tham nhũng và vai trò của lực
lƣợng cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện vai trò của lực lƣợng cơng
an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trị của lực lƣợng cơng an nhân dân
trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG VÀ
VAI TRỊ CỦA LỰC LƢỢNG CƠNG AN NHÂN DÂN
TRONG PHỊNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1. Hành vi tham nhũng và phòng, chống tham nhũng
1.1.1. Khái niệm tham nhũng và tác hại của tham nhũng
1.1.1.1. Khái niệm tham nhũng
Tham nhũng là hiện tƣợng xã hội – pháp lý phát sinh trong xã hội có
nhà nƣớc, và có tính phổ biến ở mọi quốc gia, thời đại với những tính chất,
quy mơ khác nhau. Tuy vậy, về tham nhũng có các quan niệm khác nhau
“Tham nhũng là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Vụ lợi là hành vi mƣu cầu lợi ích vật chất, tinh
thần cho riêng mình mà ngƣời có chức vụ, quyền hạn để đạt đƣợc hoặc giành
đƣợc thông qua hành vi tham nhũng” [8, tr. 27]. Theo Trần Huy Đức thì:
…bản chất của tham nhũng đƣợc nhìn nhận từ các góc độ chính
trị, đạo đức, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý, quản lý nhà nƣớc...
mà trong một tổng thể phản ánh nó là hiện tƣợng xã hội tiêu cực
bao gồm tổng thể những hành vi có hại cho chính trị, kinh tế, văn
hóa, đạo đức, pháp luật; là những hành vi đi ngƣợc với các chuẩn
mực và giá trị xã hội; là những hành vi xã hội không mong muốn
và lên án, muốn khắc phục, loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội;
những hành vi này đƣợc kiểm sốt bởi ý chí của chủ thể thực hiện
là ngƣời có chức vụ, quyền hạn; những hành vi có tính phổ qt
(ở đâu có quyền lực thì ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng và khi
phổ biến, chúng trở thành tệ nạn xã hội và tồn tại bên cạnh các tệ
nạn xã hội khác) [7, tr.30-31].
8
Ở đây tác giả đƣa ra cách nhìn khá tồn diện về tham nhũng từ những
góc nhìn khác nhau, nhƣng chƣa đƣa ra định nghĩa về tham nhũng.
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, khi giải tích từ ngữ, định
nghĩa “Tham nhũng là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 1 Điều 3).
Nhƣ vậy, chủ thể của hành vi tham nhũng chỉ có thể là ngƣời có chức
vụ, quyền hạn. Ngƣời có chức vụ, quyền hạn là ngƣời do bổ nhiệm, do bầu cử,
do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hƣởng lƣơng hoặc
không hƣởng lƣơng, đƣợc giao thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ nhất định và có
quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ đó, bao gồm: a)
Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sĩ quan, quân nhân chun nghiệp, cơng
nhân, viên chức quốc phịng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ
quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân
công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c) Ngƣời đại diện phần
vốn nhà nƣớc tại doanh nghiệp; d) Ngƣời giữ chức danh, chức vụ quản lý trong
doanh nghiệp, tổ chức; đ) Những ngƣời khác đƣợc giao thực hiện nhiệm vụ,
công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ đó.
Bản chất của tham nhũng xuất phát từ xung đột lợi ích giữa lợi ích
riêng của ngƣời có chức vụ, quyền hạn (bao gồm lợi ích của ngƣời này hoặc
lợi ích của ngƣời khác) với lợi ích chung. Đối với cán bộ, công chức nhà nƣớc
và những ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nƣớc, thì xung đột
lợi ích ở đây thể hiện ở xung đột lợi ích giữa cá nhân cơng chức đó với lợi ích
của nhà nƣớc. Ví dụ, lợi ích của Nhà nƣớc là thu thuế để bảo đảm nguồn thu
cho ngân sách, trong khi đó vì mong muốn đƣợc hƣởng một khoản tiền hối lộ
từ doanh nghiệp thuộc đối tƣợng quản lý, công chức ngành thuế đã tiếp tay,
hƣớng dẫn doanh nghiệp trốn thuế. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã bắt đầu
thừa nhận tham nhũng trong khu vực tƣ, đó là hiện tƣợng quản lý trong các
9
doanh nghiệp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Vì vậy, xung đột lợi ích
giữa ngƣời quản lý doanh nghiệp với doanh nghiệp chính là xung đột giữa lợi
ích cá nhân của ngƣời quản lý doanh nghiệp với lợi ích của doanh nghiệp. Khi
thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao, ngƣời có chức vụ, quyền hạn thối hố, biến
chất đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giải quyết xung đột lợi ích thay vì tận
tuỵ, mẫn cán và trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhƣ vậy, ngƣời có chức vụ,
quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đƣợc giao để phục vụ lợi ích riêng.
Lợi ích riêng ở đây có thể là lợi ích của chính ngƣời có chức vụ, quyền hạn,
lợi ích của cá nhân hoặc lợi ích của tổ chức khác. Ngƣời quản lý của một tổ
chức hối lộ để có đƣợc đặc lợi cho tổ chức mình là ví dụ về lợi ích riêng. Lợi
ích trong trƣờng hợp này khơng phải là lợi ích của cá nhân ngƣời có chức vụ,
quyền hạn mà lợi ích của tổ chức.
Có thể thấy rằng hành vi tham nhũng là hành vi trái pháp luật của
ngƣời có chức vụ, quyền hạn. Hành vi này có tính chất vụ lợi. Nghĩa là, ngƣời
có chức vụ, quyền hạn sử dụng quyền lực cho mục đích cá nhân. Đồng thời
hành vi này trái với chuẩn mực đạo đức của ngƣời có chức vụ, quyền hạn.
Theo nghiên cứu của GS.TS. Phạm Hồng Thái và Phạm Thị Giang thì trong
số các tiêu chí để đánh giá đạo đức cơng vụ thì có tiêu chí: tính trung thực,
khơng thiên vị, vụ lợi trong hoạt động cơng vụ [28, tr.3]. Tiêu chí này có thể
mở rộng ra khu vực tƣ, theo đó ngƣời có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý tổ chức
nhƣ doanh nghiệp, tổ chức xã hội, … cũng phải trung thực, không thiên vị, vụ
lợi khi thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao. Nhƣ vậy, hành vi lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để vụ lợi là hành vi trái với chuẩn mực đạo đức, trái pháp luật của
ngƣời có trách nhiệm, quyền hạn.
Vấn đề đặt ra là tham nhũng có phải là hành vi vi phạm pháp luật
không? Về mặt lý luận không phải tất cả hành vi vi phạm đạo đức nào cũng là
hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi nào đó có thể gây ra hoặc đe doạ gây
10
ra thiệt hại cho xã hội nhƣng nếu chƣa đƣợc pháp luật quy định thì khơng coi
là vi phạm pháp luật [38, tr.420]. Hành vi tham nhũng gây tổn hại đến trật tự
pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, đặc biệt lợi ích
của nhà nƣớc. Vì vậy, hành vi tham nhũng là hành vi gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại đáng kể cho cá nhân, tổ chức, nhà nƣớc, xã hội.
Có thể thấy, bài học kinh nghiệm ở các nƣớc Mỹ La tinh và Châu Phi
cho thấy tham nhũng thƣờng dẫn đến trì trệ, bất ổn và nghèo đói. Vì vậy, các
nhà làm luật luôn khẳng định rõ trong luật, tham nhũng bị cấm đoán. Do vậy,
tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật luôn đi sau
thực tiễn, vì vậy dù nỗ lực nhƣng các nhà làm luật khó có thể bao qt hoặc
dự đốn đƣợc tất cả các hành vi tham nhũng trong cuộc sống. Vì vậy, vẫn có
thể cịn tồn tại những khoảng trống mà ngƣời có chức vụ, quyền hạn có thể lợi
dụng để vụ lợi mà khơng có cơ sở pháp lý đầy đủ để xác định đây là hành vi
vi phạm pháp luật.
Từ những vấn đề trên, có thể hiểu, tham nhũng là hành vi trái pháp luật
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt
được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất khơng chính đáng, xâm phạm
đến lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội.
1.1.1.2. Phân loại hành vi tham nhũng
Việc phân loại về hành vi tham nhũng, có nhiều cách khác nhau, dựa
vào lĩnh vực cơng, tƣ ngƣời ta phân biệt: tham nhũng trong khu vực công,
tham nhũng trong khu vực tƣ, dựa vào lĩnh vực của quản lý nhà nƣớc phân
biệt: tham nhũng trong lĩnh vực chính trị - hành chính; tham nhũng trong lĩnh
vực kinh tế, văn hóa – xã hội v.v Trên cơ sở quy định của pháp luật, có những
hành vi tham nhũng sau:
Đƣa hối lộ: Là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đƣa tài sản,
tiền hoặc cam kết chia tỷ lệ phần trăm trong hợp đồng hoặc chia sẻ lợi ích tài
11
sản với ngƣời có chức vụ, quyền hạn khác để ngƣời này thực hiện một hoặc
một số hành vi vì lợi ích của cơ quan, tổ chức của ngƣời đƣa hối lộ. Đƣa hối
lộ cũng có thể xảy ra ở cả khu vực nhà nƣớc và khu vực ngoài nhà nƣớc.
Nhận hối lộ: Ngƣợc lại với đƣa hối lộ thì nhận hối lộ là hành vi của
ngƣời có chức vụ, quyền hạn nhận tài sản, tiền hoặc chấp nhận cam kết tỷ lệ
phần trăm trong hợp đồng hoặc chia sẻ lợi ích tài sản với ngƣời có chức vụ,
quyền hạn khác để hoặc cho hành vi vì lợi ích của ngƣời đƣa hối lộ hoặc
ngƣời thứ ba. Nhận hối lộ cũng có thể xảy ra ở cả khu vực nhà nƣớc và khu
vực ngồi nhà nƣớc.
Tham ơ tài sản: Trong khu vực nhà nƣớc, đây là hành vi của ngƣời có
thẩm quyền quản lý tài sản của nhà nƣớc, tổ chức hoặc doanh nghiệp của nhà
nƣớc (gọi chung là tài sản của nhà nƣớc) chiếm đoạt tài sản của nhà nƣớc.
Hành vi tham ơ cũng có thể xuất hiện trong khu vực ngoài nhà nƣớc.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi: Hành
vi này khác với hành vi tham ô ở điểm: Hành vi tham ô là chiếm đoạt tài sản
nghĩa là chuyển quyền sở hữu tài sản từ Nhà nƣớc hoặc tổ chức sang ngƣời
tham ơ. Trong khi đó hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép
tài sản vì vụ lợi khơng chuyển quyền sở hữu mà sử dụng tài sản Nhà nƣớc
cho mục đích cá nhân hoặc mục đích của ngƣời khác. Ví dụ, sử dụng xe
cơng để đƣa gia đình đi tham quan, du lịch; hành vi sử dụng tài sản công để
cho thuê nhằm tạo quỹ đen để chia chác giữa những ngƣời có thẩm quyền
quản lý tài sản cơng…
Giả mạo trong cơng tác vì vụ lợi: Hành vi giả mạo là hành vi tạo ra
thông tin, sự kiện hoặc bất kỳ hành vi nào che giấu hoặc làm sai sự thật. Nhƣ
vậy hành vi che giấu hoặc làm sai sự thật trong thi hành cơng vụ đƣợc coi là
giảo mạo trong cơng tác vì vụ lợi. Trong thực tiễn hành vi giả mạo trong công
tác bao gồm: (1) sửa chữa, làm sai lệch nội dung, thông tin, tài liệu, giấy tờ;
12
(2) làm hoặc cấp giấy tờ hoặc tài liệu giả; (3) giả mạo chữ ký của ngƣời có
thẩm quyền hoặc ngƣời có liên quan.
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ
chiếm đoạt tài sản: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành
vi của một ngƣời vƣợt quá quyền hạn của mình chiếm đoạt tài sản của ngƣời
khác. Việc chiếm đoạt tài sản có thể thơng qua thủ đoạn uy hiếp tinh thần, lừa
dối ngƣời khác. Ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng vị trí, quyền lực
của mình đe doạ hoặc lừa dối để ngƣời khác chuyển giao tài sản cho mình. Ví
dụ, một cơng chức nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về văn
hố yêu cầu doanh nghiệp trên địa bàn do mình quản lý nộp tiền để không bị
yêu cầu di dời các biển quảng cáo…
Nhũng nhiều vì vụ lợi: Đây cũng là một trong những hành vi xảy ra
trên thực tiễn. Trên thực tế, đặc biệt ở các cơ quan giải quyết u cầu của
cơng dân, nhƣ cơ quan hành chính, tồ án, vẫn có hiện tƣợng, một số cán bộ,
cơng chức cố ý không làm đúng bổn phận, trách nhiệm của mình mà tìm mọi
cách vịi vĩnh, địi cơng dân có u cầu cơng việc phải đáp ứng những địi hỏi
khơng chính đáng mới giải quyết.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng đối với ngƣời khác để trục
lợi: Đây là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn vì lợi ích cá nhân mà gây
ảnh hƣởng đến ngƣời có chức vụ, quyền hạn khác để ngƣời này thực hiện
hành vi theo u cầu của mình. Thơng thƣờng, ngƣời có chức vụ, quyền hạn
tác động đến ngƣời khác để ngƣời này thực hiện một hành vi có lợi cho mình
hoặc ngƣời khác. Ví dụ, ơng A là Giám đốc Sở đã lợi dụng vị trí của mình tác
động đến ngƣời đồng cấp khác để ngƣời này bổ nhiệm con của ơng A lên vị
trí trƣởng phịng.
Các hành vi khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi: Nhƣ hành vi
bao che cho ngƣời khác vi phạm pháp luật; không làm đúng nhiệm vụ, quyền
13
hạn đƣợc giao, lơ là, thiếu trách nhiệm, bỏ mặc vi phạm xảy ra. Ví dụ, trên
thực tế có hiện tƣợng một số cán bộ, công chức cấp cơ sở để cho ngƣời dân
lấn chiếm vỉa hè để kinh doanh, buôn bán, đổi lại các hộ kinh doanh sẽ nộp
tiền định kỳ cho những cán bộ, công chức này.
1.1.2. Tác hại của hành vi tham nhũng
Tham nhũng có tác hại nghiêm trọng trên ba phƣơng diện: kinh tế,
chính trị và xã hội.
Tác hại kinh tế của tham nhũng
Tham nhũng trong khu vực nhà nƣớc gây thiệt hại rất lớn cho nhà
nƣớc, đất nƣớc và dân tộc. Tham nhũng trong khu vực kinh tế nhà nƣớc gây
kiệt quệ tài nguyên, thâm hụt ngân sách. Trong những năm cuối thế kỷ 20,
đầu thế kỷ 21 ở nƣớc ta đã xảy ra nhiều vụ tham nhũng kinh tế lớn gây thiệt
hại hàng chục, hàng trăm, hàng tỷ và thậm chí hàng chục tỷ đồng.
Trong những năm gần đây bắt đầu xuất hiện lợi ích nhóm. Các nhóm
lợi ích liên kết với nhau (giữa cán bộ, cơng chức thối hố, biến chất với
doanh nghiệp sân sau) làm lũng đoạn nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế. Chính
sách cổ phần hố của Đảng và Nhà nƣớc ta rất đúng đắn nhƣng khơng ít
nhóm lợi ích lợi dụng để chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của Nhà nƣớc thông
qua việc bán cổ phần với giá rẻ mạt. Ngồi ra, liên minh giữa nhóm cán bộ,
cơng chức thối hố, biến chất với nhóm kinh doanh khơng lành mạnh đã tạo
ra sự bất bình đẳng trên thị trƣờng cạnh tranh. Những doanh nghiệp sân sau
hoặc đƣợc sự bảo kê của những cán bộ, công chức “sâu mọt” này đã chiếm
hết những khu đất vàng, những lĩnh vực hoặc hoạt động màu mỡ, tiềm năng.
Khơng ít những doanh nghiệp có đƣợc những lợi thế nhƣ vậy nhƣng do năng
lực yếu kém nên làm ăn thua lỗ gây thất thoát tài sản, tài nguyên của Nhà
nƣớc và nhân dân. Trong khi, các doanh nghiệp làm ăn chân chính thì gặp
mn vàn khó khăn để vƣơn lên trên thị trƣờng.
14
Trong thực tế, với sự bao che, bỏ qua của khơng ít cán bộ, cơng chức,
nhiều chủ thể kinh doanh làm ăn phi pháp, trốn thuế, cung cấp sản phẩm, dịch
vụ kém chất lƣợng gây thiệt hại cho ngƣời tiêu dùng,…
Tham nhũng cũng dẫn đến một tâm lý đáng lo ngại trong mơi trƣờng
kinh doanh, đó là tâm lý cố gắng kết thân để tạo ra sự bảo trợ của ngƣời có
chức vụ, quyền hạn để từ đó “đục nƣớc béo cị”, lợi dụng sơ hở của chính
sách để làm lợi mà không tập trung thực sự vào phát triển kinh tế, công nghệ,
việc làm, … Nhƣ vậy, tham nhũng cũng góp phần tạo ra sự trì trệ. Một nhóm
giàu lên chóng mặt trong khi nền kinh tế khơng thực sự phát triển.
Tham nhũng cũng làm cho các nhà đầu tƣ trong và ngồi nƣớc nản
lịng. Với thực trạng,“chi phí bôi trơn”, “doanh nghiệp sân sau”,… sẽ làm cho
các nhà đầu tƣ, kinh doanh nản lòng. Các nhà đầu tƣ sẽ không lựa chọn hoặc
rời bỏ Việt Nam nếu nhƣ vẫn tiếp tục tồn tại tình trạng tham nhũng nhƣ hiện
nay. Các nhà đầu trong nƣớc sẽ không mặn mà với các lĩnh vực kinh tế cơ
bản nhƣ sản xuất, khoa học và cơng nghệ vì ngại tình trạng “doanh nghiệp sân
sau” cũng nhƣ sự nhũng nhiễu của khơng ít cán bộ, công chức ở các địa
phƣơng. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nền kinh tế trì trệ.
Tác hại chính trị của tham nhũng
Sự tác động xấu của tham nhũng đối với kinh tế sẽ làm mất uy tín của
Đảng và Nhà nƣớc ta. Mặc dù đƣờng lối và chính sách của Đảng và Nhà nƣớc
ta sáng suốt và đúng đắn, tuy nhiên do một bộ phận không nhỏ cán bộ, cơng
chức thối hố, biến chất tham nhũng, lãng phí làm ảnh hƣởng nghiêm trọng
đến uy tín của Đảng trƣớc nhân dân. Khủng hoảng niềm tin nếu không đƣợc
giải quyết triệt để và mạnh mẽ sẽ dẫn đến sự mất niềm tin của nhân dân.
Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch trong và ngồi nƣớc khơng
ngừng tìm mọi cách để lơi kéo nhiều bộ phận nhẹ dạ, cả tin trong nhân dân
rêu rao, nói xấu và chống phá các thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân
15
ta. Một trong những nội dung mà chúng sử dụng chống phá chế độ là tham
nhũng. Chúng xuyên tạc rằng tham nhũng là bản chất của chế độ chúng ta.
Mặc dù đây là những luận điệu xuyên tạc, không khách quan, không đúng sự
thật, nhƣng nếu tham nhũng không đƣợc ngăn chặn triệt để thì sẽ tạo cơ hội
cho các thế lực phản động chia rẽ Đảng và nhân dân.
Vì vậy, đấu tranh phòng và chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng
của Đảng và Nhà nƣớc ta nhằm bảo vệ uy tín của Đảng, bảo vệ chế độ do
Đảng và nhân dân đã đổ mau nhiêu xƣơng máu gây dựng và phát triển.
Tác hại xã hội của tham nhũng
Một thực trạng đáng báo động là tham nhũng diễn ra khơng chỉ trong
lĩnh vực kinh tế mà cịn trong tất cả các mặt của đời sống xã hội: công tác cán
bộ, giáo dục, y tế, công tác xã hội, … Tham nhũng làm đảo lộn trật tự xã hội,
xói món những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tham nhũng gây ra một
nhận thức sai trái trong một bộ phận khơng nhỏ nhân dân, đó là “một ngƣời
làm quan cả họ đƣợc nhờ” hay “muốn giàu có phải làm quan”. Với cách suy
nghĩ lệch lạc đó, có khơng ít ngƣời học hành để có đƣợc tấm bằng để vào cơ
quan nhà nƣớc, rồi xoay sở, chạy chọt để đƣợc “làm quan”. Nhƣ vậy tham
nhũng gây ra hiện tƣợng này và hiện tƣợng này góp phần làm cho tham nhũng
ngày càng bùng phát, phức tạp và khó dập tắt.
Tham nhũng cũng gây ra hiện tƣợng khơng tốt trong xã hội, đó khi giải
quyết cơng việc gì liên quan đến cơng quyền hoặc dịch vụ công, ngƣời dân lại
nghĩ đến “quan hệ, tiền tệ”. Trong mắt bộ phận này thì mọi việc đều có thể
giải quyết bằng quan hệ và tiền tệ.
Tham nhũng cũng làm chảy máu chất xám. Trong nhiều cơ quan nhà
nƣớc, những ngƣời có tài thực sự khơng đƣợc trọng dụng, trong khi đó những
ngƣời giỏi xu nịnh, khéo chiều lòng lãnh đạo lại đƣợc cất nhắc lên các vị trí
cao hơn. Những ngƣời chỉ chăm chú xu nịnh thì sẽ khơng có thời gian cũng
16
nhƣ sự tập trung để trau dồi chuyên môn cũng nhƣ kỹ năng quản lý. Vì vậy,
tham nhũng góp phần tạo ra một thực trạng: ngƣời giỏi bỏ đi ra làm việc tại
các khu vực tƣ hoặc ra nƣớc ngoài. Trong khi đó, một bộ phận khơng nhỏ cán
bộ, cơng chức trong khu vực nhà nƣớc không làm đƣợc việc mà sáng cắp ơ đi
chiều cắp ơ về.
1.2. Vị trí, vai trị của cơng an nhân dân trong phịng, chống tham nhũng
1.2.1. Khái qt về vị trí và vai trị của công an nhân dân
Điều 3 Luật Công an nhân dân quy định:
Công an nhân dân là lực lƣợng vũ trang nhân dân làm nòng cốt
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự,
an tồn xã hội, đấu tranh phịng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật về an ninh quốc gia, trật tự, an tồn xã hội.
Vai trị nịng cốt của lực lƣợng công an nhân dân trong bảo vệ an ninh
tổ quốc, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đƣợc ghi nhận
không những trong quan điểm xuyết của Đảng, trong văn bản quy phạm pháp
luật mà còn trong thực tiễn. Một thực tiễn cho thấy với niềm tin vào lực lƣợng
công an nhân dân, cho đến nay rất nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vẫn
cịn thói quen đề nghị cơng an giải quyết bất kỳ những vấn đề gì vƣớng mắc
kể cả những tranh chấp dân sự thông thƣờng. Thực tiễn này cho thấy niềm tin
của quần chúng nhân dân vào lực lƣợng công an nhân dân. Yếu tố này cũng
cho thấy cần phải làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về vai trị của lực lƣợng
cơng an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Trƣớc hết, với những vai trò đƣợc xác định trong Luật Công an nhân
dân, lực lƣợng công an nhân dân tham mƣu cho các cơ quan Đảng, cơ quan
nhà nƣớc và các đồn thể về đẩy mạnh các chƣơng trình giáo dục, phổ biến
pháp luật về phòng, chống tham nhũng với phƣơng châm bảo đảm các cán bộ,
17
công chức và quần chúng nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của
pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Lực lƣợng công an nhân dân cùng
phối hợp với các cơ quan Đảng, cơ quan thanh tra tổ chức nhiều buổi nói
chuyện chuyên đề, các hội thảo và các khố đào tạo ngắn cho cán bộ, cơng
chức, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp và rộng rãi quần chúng nhân dân
về các kiến thức về phòng, chống, phát hiện và xử lý tham nhũng. Nhƣ vậy,
trong công tác phịng ngừa tham nhũng, lực lƣợng cơng an nhân dân cùng với
các cơ quan khác luôn là lực lƣợng trên tuyến đấu. Lực lƣợng công an nhân
dân không chỉ đơn thuần giữ vai trị quả đấm thép trong cơng tác trấn áp tội
phạm mà còn giữ vai trò là lực lƣợng tiên phong trong giáo dục ý thức pháp
luật cho cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân. Việc nhận thức lực lƣợng
công an nhân dân chỉ làm công tác xử lý tội phạm là không đúng. Lực lƣợng
công an nhân dân Việt Nam là ch hợp pháp
của bị can, thời hạn điều tra đƣợc quy định tƣơng đối ngắn. Điều này đòi hỏi,
điều tra viên phải khẩn trƣơng tiến hành hoạt động điều tra. Tuy nhiên, đối
với các vụ án tham nhũng, thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 (kể cả gia hạn) khơng đủ để hồn tất các cơng tác điều tra.
Nguyên nhân của thực trạng này:
- Bị can và những ngƣời có liên quan là những ngƣời có trình độ cao,
có hiểu biết, kiến thức, kinh nghiệm, quan hệ xã hội rộng. Họ ln có ý thức
khơng khai báo nhằm chối tội. Vì vậy, điều tra viên phải mất rất nhiều thời
89
gian để hỏi cung và lấy lời khai. Cuộc đấu tranh giữa điều tra viên với bị can
trong việc xác định sự thật khách quan là cuộc đấu tranh cân não, cần bản
lĩnh, kinh nghiệm và thời gian.
- Hồ sơ, tài liệu ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố đã nhiều thì ở trong giai đoạn điều tra còn nhiều hơn nữa. Để đủ
chứng cứ nhằm xác định trách nhiệm hình sự của bị can, điều tra viên phải thu
thập, nghiên cứu, xác minh hồ sơ, tài liệu rất tỉ mỉ cẩn thận.
- Hồ sơ, tài liệu thƣờng liên quan đến nhiều năm trƣớc. Vì vậy, mất rất
nhiều thời gian để lần tìm, thu thập và xác minh.
- Tài sản đã đƣợc tẩu tán hoặc chuyển hố thơng qua nhiều tầng lớp
giao dịch. Vì vậy, nhiều khi phải mất hàng tháng, thậm chí vài tháng mới xác
minh đƣợc tài sản.
- Để chứng minh đƣợc tội phạm tham nhũng thì cơng tác giám định,
định giá tài sản không thể thiếu. Nhƣ vậy, kết quả điều tra phụ thuộc rất nhiều
vào kết quả giám định, định giá tài sản. Đồng thời, thời gian điều tra cũng phụ
thuộc vào thời gian tiến hành giám định, định giá tài sản. Nếu chƣa có kết quả
giám định, định giá tài sản thì vẫn chƣa thể kết thúc giai đoạn điều tra.
Nhƣ vậy, các yếu tố trên tác động trực tiếp đến thời hạn điều tra. Điều
này cho thấy nếu khơng có quy định đặc thù về thời hạn điều tra đối với các
tội phạm tham nhũng thì nguy cơ bỏ lọt tội phạm là rất cao. Vì vậy, bên cạnh
việc tiếp tục duy trì thời hạn điều tra nhƣ trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015, cần bổ sung cơ chế gia hạn thời hạn điều tra đối với tội phạm tham
nhũng nhƣ sau:
Đối với các vụ án tham nhũng, nếu xét thấy các tình tiết của vụ án phức
tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, vụ việc đã xảy ra và
kéo dài từ nhiều năm trƣớc, cần phải tiến hành giám định, định giá tài sản, uỷ
thác điều tra mà khi các lần gia hạn điều tra theo quy định đã hết mà vẫn chƣa
90